++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lưỡi bò. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lưỡi bò. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2011

Báo Mỹ: Biển Đông không phải là cái ao của Bắc Kinh

Nguồn: Ba Sàm


Posted by basamnews on 13.08.2011
Washington Times

Biển Đông không phải là cái ao của Bắc Kinh

Kim R. Holmes
10-08-2011
Trung Quốc lại phô trương sức mạnh trên biển. Tuần trước, tờ báo chính phủ Trung Quốc, Nhân dân Nhật báo, đã lớn tiếng cảnh báo về “những hậu quả” nếu Bắc Kinh bị thách thức ở biển Đông. Vài tuần trước đó, một quan chức quân sự hàng đầu Trung Quốc đã gọi các cuộc tập trận của hải quân Mỹ ở biển Đông là “không thích hợp” và quở trách Mỹ chi tiêu quá nhiều vào quốc phòng.
Lời phàn nàn đó là gì? Thực sự rất đơn giản: Trung Quốc khẳng định tuyên bố chủ quyền hầu như toàn bộ vùng biển Đông và các đảo ở đó. Điều này không mới. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Bắc Kinh ngày càng hiếu chiến hơn về các tuyên bố. Từ tháng 2, đã có chín lần Trung Quốc xâm nhập vào lãnh thổ mà Philippines tuyên bố chủ quyền và đã nhiều lần cãi nhau với Việt Nam.
Trung Quốc đang khai thác Hiệp ước về Luật biển để củng cố các tuyên bố của mình ở tất cả các vùng “biển gần”. Dùng sự diễn giải hiệp ước mang phong cách riêng, mà Mỹ không là nước tham gia, lập luận rằng các tàu hải quân Mỹ và tàu phụ trợ nên bị giới hạn khi hoạt động trong khu vực mà Trung Quốc xem là “vùng đặc quyền kinh tế” của họ.
Thật vậy, Trung Quốc xem biển Đông không chỉ đơn thuần là phạm vi ảnh hưởng độc quyền, mà còn là vùng lãnh thổ có chủ quyền. Không đúng. Hầu hết là vùng biển quốc tế. Tuy nhiên, đồng nghiệp của tôi, ông Dean Cheng lưu ý rằng, hải quân Trung Quốc đang điều chỉnh chiến lược của họ phù hợp với ý tưởng nhiều tham vọng này. Trong khi đó, họ từng chủ yếu tập trung vào Đài Loan, một mục tiêu bổ sung hôm nay là bảo đảm vùng biển từ các các hòn đảo của Nhật Bản dọc theo chuỗi đảo Ryūkyūs, đi qua Đài Loan và Philippines và tới eo biển Malacca, bao gồm cả biển Đông.
Để kiểm soát vùng biển rộng lớn này, Trung Quốc cần giữ Hải quân Mỹ ở xa, từ chối không cho tàu của chúng ta đi vào vùng biển quốc tế. Nếu Trung Quốc thành công trong việc này, thì Hải quân Mỹ và các lực lượng khác sẽ khó khăn hơn để đến giúp đỡ Đài Loan và các đồng minh của chúng ta như Nhật Bản và Philippines nếu bị Trung Quốc tấn công.
Ông Cheng cho biết, trong một số ấn phẩm của chính phủ Trung Quốc, đại dương xung quanh Trung Quốc được xem là “đất xanh“, nói cách khác, có giá trị chiến lược tương đương với lãnh thổ Trung Quốc. Các đường vẽ của Trung Quốc trong vùng biển quốc tế cũng giống như các đường vẽ để củng cố trên đất liền.
E rằng quý vị nghĩ sự thống trị của hải quân Mỹ đang áp đảo, chúng ta không cần phải lo lắng, hãy suy nghĩ lại. Mặc dù vẫn còn mạnh, nhưng sức mạnh của hải quân Mỹ đang suy yếu, và Trung Quốc biết điều đó. Thứ hai, biển Đông, biển Hoa Đông và Hoàng Hải thì gần với Trung Quốc hơn là Mỹ, và lực lượng hải quân Trung Quốc tập trung kiểm soát vùng biển lân cận đã có sẵn lợi thế về cung cấp và vận chuyển.
Ông Cheng cho biết, các nhà hoạch định quân sự của Trung Quốc biết rằng họ không thể thách thức hải quân Hoa Kỳ trên toàn cầu, nhưng họ có thể xua đuổi nếu Mỹ đến gần lục địa Trung Quốc. Trung Quốc loại bỏ những tàu đã lỗi thời và đang phát triển một số lượng lớn tàu có trang bị tên lửa tấn công nhanh. Những con tàu này mang các tên lửa hành trình chống tàu siêu âm YJ-82, rất phù hợp để tấn công tàu hải quân Mỹ. Họ cũng đang nâng cấp các tàu khu trục và triển khai tàu sân bay đầu tiên.
Hoa Kỳ không thể để cho các hành động của Trung Quốc gây nguy hiểm cho cam kết của Mỹ đối với các nước đồng minh của mình hoặc can thiệp vào quyền đi lại của chúng ta trong vùng biển quốc tế. Trung Quốc có quyền Hải quân và tự vệ. Họ không có quyền giả vờ rằng họ sở hữu vùng biển Đông.
Điều quan trọng đang ngăn chặn con đường tham vọng của Bắc Kinh là Hải quân Hoa Kỳ. Để bảo đảm quyền tự do trên các vùng biển ở Thái Bình Dương, Hải quân [Hoa Kỳ] cần thêm nguồn lực, không phải cần ít hơn, thế nhưng thỏa thuận về mức nợ trần gần đây đã đe dọa thu sự hẹp lực lượng hải quân Mỹ trầm trọng. Cũng không phải Hải quân Mỹ có thể từ bỏ việc hiện đại hóa các cuộc chiến đấu trên mặt biển và dưới lòng biển, điều này sẽ xảy ra nếu tiếp tục cắt giảm chi tiêu quốc phòng một cách hà khắc.
Liệu các tuyên bố của Trung Quốc đối với “vùng biển lân cận” sẽ đặt chúng ta vào một quá trình dẫn tới va chạm hay không, vẫn còn là một câu hỏi mở. Nhưng Bắc Kinh nên biết rằng, bất kỳ sự cố gắng nào để thay đổi các quy tắc và làm cho khu vực đó tương tự như sân sau độc quyền của họ, thì Trung Quốc sẽ gặp phải sự đối kháng của Mỹ.
Ông Kim R. Holmes là cựu trợ lý ngoại trưởng Mỹ và là phó chủ tịch Quỹ Di sản (www.heritage.org). Liên lạc với ông trên Twitter @ kimsmithholmes.
Ngọc Thu dịch từ Washington Times.

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

Philippines kêu gọi các nước cùng bác bỏ đường chữ U

Nguồn: SGTT


SGTT.VN - Sự khăng khăng của Trung Quốc, khẳng định chủ quyền ở cái gọi là đường chín đoạn (chữ U) trên Biển Đông chính là điểm then chốt, ngăn chặn việc tìm ra giải pháp cho các tranh chấp ở khu vực này, ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario khẳng định cuối tuần qua (ngày 5.8).

Yêu sách về đường chữ U của Trung Quốc chiếm gần trọn Biển Đông là nguy cơ tiềm ẩn đe doạ tự do hàng hải và thương mại của nhiều quốc gia.
Trong một diễn đàn tại đại học Ateneo de Manila, ông Rosario nói, Philippines cho rằng đường chữ U mà Trung Quốc vẽ ra rõ ràng là bất hợp pháp. Nó là tuỳ tiện và không dựa trên bất cứ một cơ sở nào, và cũng không có giá trị nào theo luật quốc tế, đặc biệt là theo Công ước luật Biển năm 1982 của Liên hiệp quốc. Và đường chín đoạn đó là một trong những đe doạ lớn nhất cho hoà bình ở Đông Nam Á.

Ngoại trưởng Philippines cũng cho rằng, nếu không bị phản đối, yêu sách về đường chữ U của Trung Quốc chiếm gần trọn Biển Đông, sẽ không chỉ ảnh hưởng bất lợi cho các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines, mà còn là nguy cơ tiềm ẩn đe doạ tự do hàng hải và thương mại của nhiều quốc gia khác.

Từ đó, ông del Rosario nêu quan điểm của nước này là theo hai con đường. Thứ nhất, một khuôn khổ hợp tác xử lý các tranh chấp nên được các chuyên gia pháp lý của ASEAN xem xét, dự kiến sẽ họp tại Manila vào tháng 9 tới. Thứ hai, các bên khác cùng tham gia với Philippines, đòi hỏi Trung Quốc chứng minh giá trị của đường chữ U là phù hợp với UNCLOS.

Trong khuôn khổ xử lý tranh chấp nói trên, Philippines đề xuất khu vực hoà bình, tự do, hữu nghị và hợp tác (ZoPFFC) với ASEAN, tách biệt khu vực không có tranh chấp và có tranh chấp theo UNCLOS.

Với đề xuất thứ hai, ngoại trưởng Philippines nhấn mạnh, cơ chế xử lý tranh chấp của Liên hiệp quốc là con đường duy nhất để cuối cùng làm yên bình Biển Đông. Trung Quốc và các bên liên quan không thể né tránh mãi được việc đưa yêu sách của mình ra toà án của Liên hiệp quốc. “Cộng đồng thế giới phải được cai trị bằng luật lệ”, ông nói.

Trước đó, bộ Năng lượng Philippines đã tuyên bố kế hoạch đấu giá một số khu vực ở Biển Đông để khai thác dầu mỏ, bất chấp diễn biến xấu hơn với Trung Quốc. Đồng thời Hải quân Philippines cũng sẽ sớm hoàn thành một căn cứ cho quân canh gác và bảo vệ lãnh thổ ở đảo Patag. Phản ứng lại, tờ China Daily của Trung Quốc đã “buộc tội” Philippines vi phạm toàn vẹn lãnh thổ và nói Manila sẽ phải “trả giá cao” cho hành động nói trên.

THIÊN BÌNH (AFP, GULFNEWS)



------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

Về bài báo đường lưỡi bò trên China Daily

Nguồn: VNN
 
Những học giả Trung Quốc chân chính cũng phải thừa nhận "trong vấn đề Biển Đông, bản thân Trung Quốc không có lập trường rõ ràng, tiền hậu bất nhất, gây tổn hại nghiêm trọng tới uy tín quốc tế của Trung Quốc

LTS: Ngày 31/7/2011 Tuần Việt Nam đã đăng bài "Trung Quốc ngụy biện về đường lưỡi bò" giới thiệu bài báo của ông Lý Quốc Cường, một nhà nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu về Biên giới Lịch sử và Địa lý Trung Quốc, thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc trên báo China Daily. Mặc dù đã có khá nhiều bài viết phân tích về tính vô lý của đường lưỡi bò, việc chỉ ra những luận điểm chủ quan của tác giả bài viết trên là một việc nên làm trao đổi khoa học thẳng thắn.

Đường lưỡi bò của Trung Quốc được thế giới biết đến chính thức vào ngày 7/5/2009 qua Công hàm của Phái đoàn Ngoại giao Trung Quốc tại Liên hợp quốc phản đối hồ sơ chung ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam-Malaysia và hồ sơ Việt Nam về ranh giới thềm lục địa thực hiện nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Công ước luật biển năm 1982. Trước đó, con đường này có tồn tại một cách dấm dúi trong đầu óc của những kẻ ôm mộng Đại Hán, được thay đổi một cách tùy tiện phục vụ cho mưu đồ độc chiếm biển. Tác giả cho rằng đường chữ U là "Biên giới hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông là kết quả của tiến trình lịch sử, và đây là quốc gia duy nhất để phát triển khu vực liên tục trong suốt quá trình lịch sử. Bởi thế, người Trung Quốc có quyền chính yếu với các đảo ở Biển Đông".  Ngược lại ông cho rằng "Việt Nam, Malaysia và Philippines hầu như không biết bất kỳ điều gì về các đảo ở Biển Đông trước triều nhà Thanh (1644-1911), cũng như không có bằng chứng chứng tỏ các hoạt động của tổ tiên họ ở Biển Đông, dù chỉ là để lại một cái tên với bất kỳ hòn đảo nào".

9 điểm phi lý của đường lưỡi bò

Về sự mơ hồ của đường lưỡi bò, đã có nhiều bài viết phân tích.[1] ở đây chỉ xin nhắc lại ít nhất 9 điểm phi lý.

Trước hết, thời điểm xuất hiện của đường lưỡi bò còn chưa được các tác giả Trung Quốc thống nhất, lúc thì nói là năm 1948, có lúc lại đẩy lên những năm 1930s.
Thứ hai, nguồn gốc đường này chỉ là một dạng xuất bản tư nhân.
"Đường lưỡi bò" phi lý do Trung Quốc tự vẽ, bị nhiều nước phản đối. Ảnh: BBC
Thứ ba, một đường lúc thì 11 đoạn, lúc thì 9 đoạn, vẽ tùy tiện, không tọa độ, không rõ ràng sao có khả năng thể hiện một đường yêu sách biên giới rõ ràng theo đúng các quy định của luật quốc tế để các quốc gia khác phải bận tâm.

Thứ tư, vào thời điểm đường lưỡi bò đang được Bộ Nội vụ Trung Hoa in trên bản đồ, Pháp đã đưa tàu và quân ra đóng giữ đảo Hoàng Sa, Trường Sa, tiếp tục duy trì danh nghĩa chủ quyền kế thừa từ Nhà nước phong kiến An Nam và hoạt động chiếm hữu theo luật quốc tế của Pháp năm 1933. Hoạt động thực tiễn này chẳng phải là sự phản đối hùng hồn ý định yêu sách hai quần đảo bằng cách vẽ đường chữ U từ phía nước láng giềng phương Bắc đó sao.

Thứ năm, Hiệp ước hòa bình San Francisco 1951 không đả động chút gì tới đường lưỡi bò. Ngay cả Tuyên bố của Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1951 về Dự thảo Hiệp ước San Francisco cũng đâu có nhắc gì đến đường chữ U. Cuộc bỏ phiếu giao Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc tại Hội nghị San Francissco theo đề nghị của Bộ trưởng Ngoại giao Xô viết Gromuko đã bị đa số bác bỏ (46 chống, 3 ủng hộ, 1 trắng). Vì vậy, không thể nói đã có sự công nhận quốc tế về chủ quyền Trung Quốc trên các đảo trong Biển Đông chứ đừng nói gì đến đường chữ U hay toàn bộ vùng biển trong đường chữ U.

Thứ sáu, thực tế tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đòi hỏi của Philippines, Malaysia đối với hầu như toàn bộ hoặc một bộ phận của quần đảo Trường Sa cho thấy không thể nói đường chữ U trên Biển Đông mà Trung Quốc vạch ra đã được các nước khác công nhận.

Thứ bảy, ngay cả những nước không liên quan gì đến tranh chấp cũng thể hiện quan điểm không đồng tình. Mỹ không công nhận bất kỳ vùng biển nào không gắn với đất liền và đảo. Indonexia cho lưu chuyển tại Liên hợp quốc ngày 8/7/2010 Công hàm không chấp nhận đường lưỡi bò của Trung Quốc.

Thứ tám, đường chữ U yêu sách cái gì, nội hàm của nó yêu sách đảo, vùng biển hay cả hai, hay gì gì đi nữa là câu hỏi mà các tác giả Trung Quốc cũng chưa bao giờ thống nhất. Ngay trong bài viết trên China Daily cũng đầy mâu thuẫn khi tác giả của nó biện minh "biên giới biển của Trung Quốc ở Biển Đông là kết quả của tiến trình lịch sử" rồi lại nói "Trung Quốc sở hữu danh nghĩa lịch sử với các đảo, bãi đá ngầm, bãi cạn trong phạm vi đường chín đoạn, mặc dù điều đó không có nghĩa là toàn bộ vùng biển trong đường này thuộc về vùng nội thủy của Trung Quốc". Ai cũng biết biên giới biển là để chia đường phân định biển giữa các quốc gia chứ không phải là đường phân chia đảo hay chủ quyền trên đảo. Đã nói đến biên giới biển tức vùng nước bên trong nó phải được đặt dưới chế độ nội thủy và lãnh hải vì biên giới đánh dấu sự kết thúc chủ quyền của một quốc gia.

Thứ chín, tác giả bài báo trên China Daily đã cố tình diễn giải sai Công ước luật biển 1982 để biện minh cho đường lưỡi bò dưới dạng một danh nghĩa lịch sử. Toàn văn điều 15 là : "Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau, không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọi điểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của các đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thỏa thuận ngược lại. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia một cách khác". Không có bất kỳ một quy định nào viện dẫn danh nghĩa lịch sử cho vùng biển rộng hơn 12 hải lý chứ đừng nói cách bờ vài trăm hải lý như đường lưỡi bò. Cho nên không thể nói Công ước luật biển công nhận và bảo vệ cho danh nghĩa lịch sử của Trung Quốc. Lập luận đường lưỡi bò là đường vùng nước lịch sử đã không thể thuyết phục được cộng đồng quốc tế vì ngay cả trong Tài liệu chuẩn bị cho Hội nghị của Liên hợp quốc về luật biển năm 1958 trong danh sách các vùng nước lịch sử của thế giới không có tên một vùng nước nào trong Biển Đông. Công ước luật biển năm 1982 đâu có chấp nhận một vùng nước lịch sử nào trong Biển Đông.
 
Chính học giả TQ thừa nhận lập trường "tiền hậu bất nhất"

Sự mơ hồ và quá ư phi lý của đường lưỡi bò buộc các học giả nước ngoài phải lên tiếng yêu cầu Trung Quốc giải thích. Tại bất kỳ cuộc Hội thảo quốc tế nào về Biển Đông, các học giả Trung Quốc đều bị chất vấn về đường lưỡi bò. Tại hội thảo Vấn đề An ninh ở Biển Đông tổ chức ở Washington tháng 6/2011 gần đây khi bị chất vấn, học giả Trung Quốc đã có những phát biểu quanh co, làm những người dự hội nghị cảm thấy "quá khiên cưỡng", gây ấn tượng "không trung thực", mơ hồ. Họ buộc phải thừa nhận "chuẩn bị chưa đầy đủ" nhưng với cử tọa đó là biểu hiện của sự đuối lý.[2]

Stein Tonnesson, Giám đốc Viện Hòa bình Quốc tế có trụ sở ở Ôxlô (Na uy), cho rằng căng thẳng Biển Đông chủ yếu tập trung ở đường chữ U, và để giảm bớt căng thẳng , Trung Quốc cần làm rõ lập trường về đường chữ U đối với cộng đồng quốc tế cũng như dư luận trong nước đang bấy lâu "lầm tưởng" về yêu sách mà Bắc Kinh tuyên bố.[3]

Những học giả Trung Quốc chân chính cũng phải thừa nhận "trong vấn đề Biển Đông, bản thân Trung Quốc không có lập trường rõ ràng, tiền hậu bất nhất, gây tổn hại nghiêm trọng tới uy tín quốc tế của Trung Quốc".[4]

Trần Phả trong Tạp chí "Khai Phóng" số tháng 7/2011 của Hồng Kông bình luận: "câu hỏi đặt ra là liệu việc Trung Quốc vẽ đường phạm vi chủ quyền Biển Đông (đường chữ U) tới "cửa nhà" của các nước như Việt Nam, Philíppin, Malaixia và Brunây có hợp tới tình hình khách quan hay không? Đối chiếu với các quy định bằng văn bản rõ ràng liên quan tới việc "các nước có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý" trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển mà Trung Quốc ký từ năm 1982, Trung Quốc càng khó có thể bào chữa cho kiểu hoạch định này của mình. Trên thực tế, từ việc tự vạch (đường chữ U) cho tới cách nói về "lợi ích cốt lõi" đều là chuyện "mua dây buộc mình" của Trung Quốc". Người đọc cũng tự hỏi liệu Trung Quốc có chấp nhận có nước viện dẫn câu nói "Mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh" để đòi hỏi các vùng nước lịch sử trước cửa ngõ của Bắc Kinh?

Chủ quyền phải được xác lập bằng hành động chiếm hữu thực tế của Nhà nước

Quaa trở lại hai lập luận trên mà tác giả bài báo viện dẫn. Nếu nói chỉ có Trung Quốc là quốc gia duy nhất phát triển khu vực trong lịch sử, người Trung Quốc đã phát hiện, đã quản lý các quần đảo ở Biển Đông từ thời Nhà Hán, Nhà Tấn (hơn 200 năm trước CN), liên tục qua các đời Minh, Thanh thì tác giả nên đọc lại các tác phẩm và văn kiện của Trung Quốc trong lịch sử.

Các sách Nam châu dị vật chí của Dương Phù và Phù Nam truyện của Khang Thái, viết vào thời Tam quốc (220-265), Vũ kinh tổng yếu của Tăng Công Lượng (998-1078) và Đinh Độ (990-1053) biên soạn thời Tống, Đảo di chí lược do Vương Đại Uyên soạn dưới thời nhà Nguyên (1206 - 1368), Đông Tây dương khảo của Trương Nhiếp viết thời nhà Minh (1368 - 1644), Độc sử phương dư kỷ yếu của Cố Tổ Vũ đầu nhà Thanh, Hải Quốc văn kiến lục của Trần Luân Quýnh năm 1730,  Dương phòng tập yếu của Nghiêm Như Dục viết, Trương Bằng Phi khắc năm 1828,...nếu có nói đến nhận biết các đảo trên Biển Đông đều là nằm ngoài cương vực Trung Quốc, thuộc các nước "man di". Các sách chính thống như Quỳnh Châu phủ chí (1731), Hoàng Triều di tông tâm lĩnh (1894), Đại Thanh di đồ(1905), Trung Quốc Địa lý Giáo khoa thư, Thương Vụ ấn Thư Quán,Thượng Hải năm 1906 xuất bản đều xác định rõ điểm mút phía Nam của lãnh thổ Trung Quốc nằm ở Nhai Châu, Hải Nam, vĩ độ 18013' Nam.

Suốt cả giai đoạn 2000 năm lịch sử, sách trắng Bộ Ngoại giao Trung Quốc năm 1980 cũng chỉ đưa ra được 4 đoạn cắt xén, lắp ghép có chủ ý trong Tổng Sử, Minh Sử, Nguyên Sử với những địa danh như Thất Châu dương chẳng liên quan gì đến Hoàng Sa, Trường Sa để nói là có quản lý. Chưa nói đến tính chất ngụy biện, 4 sự việc trong 2000 năm sao có thể nói là liên tục. Trong vụ đắm tàu Đức "Bellona" tại Đá Bắc và tàu Nhật "Imegi Maru" tại cụm An Vĩnh thuộc Hoàng Sa những năm 1895 - 1896, chính các quan Trung Quốc đã từ chối cứu hộ vì cho rằng các đảo Paracels không thuộc Trung Quốc.

Ngay cả đến năm 1932, khi tranh chấp với Pháp về quần đảo Hoàng Sa, Phái đoàn Trung Quốc tại Paris còn có công hàm yêu sách: cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc là quần đảo Tây Sa". Cái chính mà tác giả cố tình lờ đi đó là theo luật quốc tế chủ quyền chỉ có thể được xác lập bằng hành động chiếm hữu thực tế của Nhà nước chứ không phải của ngư dân, của người đi biển, của phát hiện, của nhận biết hay ngộ nhận.

Không bàn tới tính chất ngạo mạn khi nhận xét người Việt Nam, Malaysia, Philippin không biết gì về các đảo trong Biển Đông, chỉ cần giở lại chính những gì sử Trung Quốc viết. Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696 chép: "Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng bờ biển, chạy dài từ Đông Bắc qua Tây Nam; động cao dựng đứng như vách tường, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển ; mặt cắt khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm phải ắt tan tành ; bãi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là " Vạn lý Trường Sa", mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa; nếu thuyền bị trái gió trái nước tấp vào dầu không tan nát cũng không gạo, không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quãng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy trăm dặm. Các Quốc vương thời trước, hàng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các tàu thuyền hư hỏng dạt vào".

Hải Lục của Vương Bính Nam năm 1842 chép: "Vạn lý Trường Sa là đất nổi giữa biển, dài vài ngàn dặm, là phên dậu cuả An Nam". Thậm chí người Trung Quốc còn giúp đỡ các đội viên Đội Hoàng Sa của Việt Nam bị bão trôi giạt vào bờ biển Hải Nam. Đại Nam thực lục tiền biên (1600 - 1775) quyển 10 viết: "Tháng 7, mùa thu, năm Giáp Tuất (1774), dân đội Hoàng Sa gặp gió to, giạt vào hải phận Quỳnh Châu, thuộc nhà Thanh. Quan Tổng đốc nhà Thanh chu cấp cho đầy đủ rồi sai đưa về. Chúa sai viết thư gửi qua cảm ơn".  Rõ ràng người Trung Quốc biết các đảo này thuộc quyền quản lý của các Quốc vương An Nam và đã vui vẻ giúp đỡ cho các thần dân gặp nạn của họ.

Cuối cùng, tác giả bài báo răn dạy: "Tất cả các nước ký UNCLOS nên hiểu rằng, công ước chỉ là một trong các luật pháp về biển của quốc tế (vốn không chỉ có một) và vì thế nên ngừng nghi ngờ về tính hợp pháp về đường chín đoạn của Trung Quốc". Liệu có thể hiểu rằng, theo ý tác giả, Trung Quốc nước ký Công ước Luật biển có quyền muốn áp dụng hay không áp dụng Công ước luật biển một cách tùy thích trong khi Công ước là một biện pháp cả gói (package deal) không có bảo lưu?

Để cộng đồng thế giới ngừng nghi ngờ về tính hợp pháp về đường chín đoạn của Trung Quốc, trước hết người Trung Quốc nên nói rõ họ đòi hỏi cái gì ở Biển Đông, dựa trên những bằng chứng pháp lý nào chứ không phải những bằng cứ lịch sử mơ hồ. Nếu Trung Quốc tự tin vào đường chín đoạn của mình, hãy sẵn sàng bàn thảo đa phương với các nước liên quan cũng như lời kêu gọi của Philippin về một thủ tục trọng tài.[5]


[1] Để hiểu thêm về đường lưỡi bò trước khi đọc bài này xin tham khảo Việt Long, "Đường lưỡi bò trong Biển Đông - sự hoang tưởng thách thức luật pháp" http://hoangsa.org/diendan/timhieuluatbienquocte
[5] "Philippines đề xuất tòa án LHQ xử vụ Biển Đông", Vietnam + Online 11/7/2011.
------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011

Ý kiến dư luận về loạt bài “Những chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa” (30/07/2011)

Nguồn: daidoanket.vn

 
 
LTS: Sau khi báo Đại Đoàn Kết đăng loạt bài "Những chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa” gồm 29 bài từ ngày 21-6 đến 23-7-2011, Toà soạn đã nhận được rất nhiều ý kiến chia sẻ, cổ vũ, động viên, góp ý từ bạn đọc của báo. Loạt bài đã thu hút sự quan tâm của nhiều vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cán bộ Mặt trận các cấp, các cán bộ lão thành, các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, kiều bào ta ở nước ngoài và những người dân bình dị nhất. Số báo này, báo Đại Đoàn Kết xin trích đăng một phần trong số những ý kiến mà chúng tôi đã nhận được.

 
Nhân dân ra thăm các chiến sĩ đảo An Bang
trên quần đảo Trường Sa
 
Nhà sử học Dương Trung Quốc:
Phải nhìn nhận khách quan về đóng góp của mỗi thế hệ người Việt cho lịch sử chung của dân tộc
Thời gian qua tôi theo dõi sát sao loạt bài viết về "Những chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa” đăng trên Báo Đại Đoàn kết. Tôi cho rằng, Báo Đại Đoàn kết đã đặt vấn đề rất đúng và trúng. Chúng ta phải đặt Tổ quốc lên trên hết. 

Theo tôi khi nhìn nhận lại lịch sử, chúng ta phải thấy mỗi một thế hệ người Việt Nam có đóng góp gì vào lịch sử chung của dân tộc để chúng ta trân trọng. Thí dụ như vấn đề biển đảo chẳng hạn, rõ ràng có một thời kỳ đất nước ta bị chia cắt, rõ ràng trách nhiệm chung với lãnh thổ quốc gia là của tất cả các lực lượng chính trị. Những gì mà cá nhân nào, thể chế chính trị nào có đóng góp cho chủ quyền Tổ quốc thì đều nên ghi nhận, lịch sử không nên là những ý tưởng thuần túy. Theo tôi đừng biến lịch sử thành cái gì vô nhân xưng, nó phải có gương mặt, tên tuổi con người. Những người lính dù của chế độ chính trị nào mà bảo vệ Tổ quốc, chúng ta đều phải tôn trọng.

Tôi cho việc nghiên cứu vấn đề Biển Đông nên tiếp cận ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Có những vấn đề đi vào chuyên môn sâu để xây dựng luận chứng bảo vệ chủ quyền trên cơ sở nền tảng khoa học, trong đó có luật pháp, có lịch sử. Có những cái thuộc về giáo dục, tạo ra ý thức chung, sự đồng thuận chung khi đứng trước thử thách như vậy. 

Tốt nhất chúng ta nên hiểu việc bảo vệ chủ quyền thành ý thức hay nói cho đúng là tâm thế thường trực, chứ tôi không nghĩ chỉ tổ chức thành một chiến dịch tuyên truyền. Có nghĩa là mình cần có giáo dục lâu dài về vấn đề này. Ví dụ ngay trong SGK dạy học sinh, từ bé mình phải có hệ thống kiến thức vừa với tầm suy nghĩ của mỗi lứa tuổi, mỗi cấp học ăn sâu vào tiềm thức của con người một cách lâu dài không phải là đối phó theo tình huống.

468dung@gmail.com. Địa chỉ: 44h2 Lê Phụng Hiểu, P.Bình Khánh, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang:
Tôi sẽ mua báo Đại Đoàn Kết
Lời đầu tiên tôi gửi lời chúc sức khỏe và thái độ rất trân trọng đến toàn thể các anh, các chị nhất là Ban biên tập của báo. Các anh, các chị đã lên tiếng về những vấn đề nóng của đất nước, của dân tộc trong thời gian gần đây. Tôi chỉ là một người thích được báo hơn là phải viết gì gửi cho báo, nhưng hôm nay tôi phải cố gắng viết về những suy nghĩ của tôi. Tôi cũng không biết bài viết của mình có được đăng báo không và tôi cũng không biết đặt cái tựa mà bài báo mình sẽ viết có tên gì, nếu được Ban biên tập chọn đăng, nhờ Ban biên tập chọn cho cái tựa. Tôi là một độc giả trung thành của hai tờ báo khác, mấy chục năm qua mỗi sáng sớm khi bụng đang đói, ngoài trời đang giông bão, mưa to nhưng tôi phải vượt đường hai chuyến đi về gần 10 km để mua báo về đọc, cho dù những năm gần đây tôi đã xem tin tức trên mạng, nhưng tôi vẫn phải mua 2 tờ báo đó vì nó đã ăn sâu vào trong cảm xúc và tiềm thức của tôi. Nhưng rồi vào những ngày tháng 7 tôi được đọc loạt bài này trên báo Đại Đoàn Kết. Vậy là từ nay báo Đại Đoàn Kết sẽ là người bạn cùng tôi trong suốt quãng đường còn lại vì tờ báo này đang đồng hành cùng nhân dân, Tổ quốc và dân tộc.
 
 
Chăm sóc rau xanh ở nhà giàn DK1
Ảnh: H.S
 
Ông Nguyễn Hòa Bình, Bí Thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Viện trưởng Viện KSND tối cao:
Tôi hoan nghênh loạt bài viết này
Tôi đã dành khá nhiều thời gian để đọc những bài viết liên quan đến chủ quyền biển đảo của Tổ quốc đăng trên báo Đại Đoàn kết. Với tư cách là một công dân Việt Nam, lãnh đạo của một tỉnh có biển, tôi rất hoan nghênh loạt bài viết này. Có thể nói Quảng Ngãi là một trong các địa phương mà ngư dân cảm nhận rất là rõ nét những cái khắc nghiệt về tình hình phức tạp ở Biển Đông. Do đó, chúng tôi rất mong muốn báo chí phải vào cuộc phản ánh nhiều hơn nữa đời sống nhiều rủi ro của người dân do thiên tai, nhân tai gây ra. Qua đó có kêu gọi các nguồn lực, kể cả trong nước và ngoài nước hỗ trợ cho ngư dân. Tôi mong muốn có có nhiều tờ báo cùng vào cuộc như báo Đại Đoàn kết, tăng cường hơn nữa việc tuyên truyền về chủ quyền biển đảo.

tronghieu7371@yahoo.com
Tôi yêu báo Đại Đoàn Kết
Nhiệt liệt hoan nghênh báo Đại Đoàn Kết đăng loạt bài này, người dân Việt Nam rất vui khi biết được nội dung Công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Rất đáng khen ngợi cho Ban biên tập và tập thể phóng viên báo Đại Đoàn Kết, tôi rất muốn nói: tôi yêu báo Đại Đoàn Kết.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Nguyên,
Báo Đại Đoàn kết nên đưa thêm những bài viết về chủ quyền biển đảo
Về vấn đề chủ quyền biển đảo của Tổ quốc thời gian qua, tôi có đọc trên nhiều tờ báo. Tuy nhiên, về chất lượng thông tin, loạt bài trên báo Đại Đoàn kết đưa tương đối mạnh và đậm nhất, thu hút sự chú ý của bạn đọc và tạo được tiếng vang trong dư luận. Tôi cho rằng loạt bài tuyên truyền về những chứng cứ lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đúng đắn, qua đó giúp cho người dân trong và ngoài nước thấy rõ hơn về chứng cứ chủ quyền của chúng ta. Vấn đề chủ quyền của ta, tại sao lại không được quyền nói mạnh. 

Thời gian qua, Báo Đại Đoàn kết rất quan tâm đến vấn đề này, chúng ta đưa như thế là hợp lý, nếu cần sẽ phải tiếp tục đưa thêm những bài viết khác. Ý kiến cử tri cũng bày tỏ mong muốn Quốc hội khóa XIII có bàn bạc về vấn đề Biển Đông và đưa ra những quyết sách về Biển Đông. Nếu QH có thảo luận về vấn đề này, chúng tôi cũng sẽ đóng góp ý kiến.
 
Đoàn Đại biểu 54 dân tộc anh em với các công dân " nhí”
trên quần đảo Trường Sa
Ảnh: HOÀNG LONG
 
toivanlatoi19811988@yahoo.com
Xin cảm ơn báo Đại Đoàn Kết
Xin cảm ơn báo Đại Đoàn Kết, cuối cùng thì cũng có một cơ quan ngôn luận chính thức của Nhà nước giải thích rất rõ ý nghĩa của Công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng 1958, bao năm qua Công hàm này đã bị xuyên tạc một cách trắng trợn không chỉ của Trung Quốc mà còn cả của những thế lực chống phá Nhà nước muốn lợi dụng nó để nói xấu chính quyền Việt Nam. Nay, bài báo này đã khiến họ phải nghĩ lại. Cử chỉ hữu nghị của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng hồi đó là rất cần thiết và minh bạch.

Đại biểu Quốc hội Phạm Xuân Thăng, Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Hải Dương
Cử tri rất quan tâm đến loạt bài này
Tôi nghĩ rằng vấn đề Biển Đông là vấn đề mang tính lịch sử, chính trị, liên quan đến lợi ích của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Để giải quyết được vấn đề này thật hài hòa, đòi hỏi chúng ta cần phải có đường lối ngoại giao, cách giải quyết thật mềm dẻo, linh hoạt.

Hiện nay cử tri rất quan tâm đến vấn đề Biển Đông. Vừa qua Báo Đại Đoàn kết có loạt bài đưa ra những chứng cử lịch sử về chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Là một cán bộ Mặt trận, đồng thời là một bạn đọc, tôi đánh giá rất cao loạt bài này. Qua theo dõi, chúng tôi thấy đại đa số cử tri, nhất là những cử tri cao tuổi rất quan tâm đến loạt bài này. Loạt bài đã giúp cho cử tri cả nước nâng cao nhận thức của mình về chủ quyền không thể chối cãi được của Việt Nam với hai quần đảo nói trên. Thông qua đó, cử tri cũng có một cái nhìn đúng đắn hơn về cách giải quyết vấn đề Biển Đông. 

viethoang123@yahoo.com
Nên dịch loạt bài viết ra nhiều thứ tiếng
Tôi đề nghị báo Đại Đoàn Kết nên dịch loạt bài viết ra nhiều thứ tiếng
Hoan hô báo Đại Đoàn kết - luôn đi đầu trong việc định hướng dư luận, giở lại lịch sử nhằm đáp trả những thông tin vu khống, suy diễn nhằm xưng bá Biển Đông. Tôi đề nghị báo Đại Đoàn Kết nên dịch các bài viết trong loạt bài ra nhiều thứ tiếng - đặc biệt là tiếng Anh và tiếng Trung để nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới và cả người Trung Quốc được biết.

Ông Vũ Quốc Hùng - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
Hoan nghênh báo đã công phu và công khai
Tôi đọc từ số đầu đến số cuối và khi xếp chúng lại từ bài 1 đến bài 29 thì tôi thấy cách sắp xếp lại tư liệu lịch sử và các chứng cứ pháp lý của báo như vậy là rất hợp lý, đúng đắn. Tôi hoan nghênh báo đã mạnh dạn, công phu và công khai khi triển khai loạt bài này. Những tư liệu liên quan đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam trong loạt bài này sẽ làm nhân dân Việt Nam hiểu hơn, cũng làm cho thế giới hiểu hơn về chúng ta. Lịch sử của dân tộc Việt Nam thì cần công khai cho nhân dân Việt Nam được biết.
 
 
 
Giao lưu văn nghệ tại Đảo Song Tử Tây
 
TS. Phạm Quang Long - Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch Hà Nội:
Tờ báo đã nói trung thực và đúng mức về chủ quyền đất nước
Tôi theo dõi đầy đủ loạt bài này. Loạt bài này rất cần thiết vào thời điểm hiện nay trên nhiều phương diện. Tờ báo đã nói trung thực và đúng mức những điều mà nhân dân đang vô cùng quan tâm. Loạt bài xuất hiện vào lúc đòi hỏi của nhân dân về bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, về nhu cầu bày tỏ tình yêu Tổ quốc đang bức thiết, cho nên khi tờ báo đưa ra những tư liệu lịch sử về quá trình đấu tranh giữ gìn bờ cõi và khẳng định chủ quyền của mọi thế hệ người Việt Nam thì rất trúng. Theo tôi, báo cần tiếp tục có những bài viết sâu sắc hơn về hệ vấn đề ấy. 

Ông Thèn Xuân Chu (Thượng Sơn - Vị Xuyên - Hà Giang)
Một cái nhìn toàn cảnh, đa chiều về chứng cứ
Tôi là một cựu chiến binh, đã mất nhiều năm lăn lộn ở chiến trường, giữa hai cuộc kháng chiến! Đất nước thanh bình, tôi về nhà và sống một cuộc sống yên ổn tuổi già cùng cháu con. Dù đã trải qua bom đạn và mất mát lớn lao của chiến tranh, nhưng cho đến giờ này tôi vẫn nghĩ nếu có phải chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc tôi vẫn không chùn bước. Là người có tuổi, thông tin với tôi là rất cần thiết. Tuy điều kiện cuộc sống ở miền quê tôi có khó khăn, gia đình tôi cũng không có điều kiện nhưng tôi vẫn chủ tâm dành dụm tiền để đặt mua báo. Báo Đại Đoàn Kết, "món ăn” sở trường của tôi và nhiều người trong gia đình.

Một cựu chiến binh như tôi vô cùng xúc động và rất hoan nghênh báo đã có nhiều bài viết về Trường Sa, Hoàng Sa – những phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Loạt bài "Những chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa” là chuỗi bài tổ chức có kinh nghiệm và cũng rất dày công, tâm huyết của Báo Đại Đoàn Kết, nhằm cung cấp cho độc giả những cái nhìn toàn cảnh, đa chiều về chứng cứ của người Việt trên Biển Đông, đặc biệt là chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là xâu chuỗi những chứng cứ hết sức khách quan, được thể hiện qua các thư tịch cổ, các chứng cứ qua các thời kỳ, có thật và đã được nhiều quốc gia cũng như dư luận quốc tế ủng hộ.

Cái đặc biệt nhất của Báo Đại Đoàn Kết trong chuỗi bài này là mạnh dạn đã đưa ra Công hàm năm 1958 mà bấy lâu nay đã bị Trung Quốc và các phần tử thù địch khác đưa ra "như một chứng cứ” thể hiện sự "yếu thế” của Việt Nam để vươn tới những thâm đồ của mình. Với việc không né tránh, phân tích hết sức khoa học đã làm những sự "mập mờ” bấy lâu được sáng tỏ. Như một cách nhìn thẳng vào sự thực, đã thêm căn cứ để chúng ta khẳng định thêm chủ quyền của người Việt trên Biển Đông và đặc biệt với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

C.Thúy - H.Lê - Đ.Tuyền (ghi)
[Lời tòa soạn: Quý độc giả kính mến]
[Kỳ 29: Hoàng Sa và Trường Sa trong tâm linh người Việt]
[Kỳ 28: Dư luận quốc tế phản đối "đường lưỡi bò”]
[Kỳ 27: Xuyên tạc lịch sử trong âm mưu chiếm đoạt
Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam]
[Kỳ 26: Công hàm 1958 với
chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam]
[Kỳ 25: Châu bản thời vua Bảo Đại khắc ghi
chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam]
[Kỳ 24: Châu bản thời Minh Mạng và Thiệu Trị khắc ghi
chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam]
[Kỳ 23: "Đường lưỡi bò” phi lý và tham vọng bá chủ
của Trung Quốc ở Biển Đông]
[Kỳ 22: Trung Quốc chưa bao giờ có chủ quyền
ở Hoàng Sa và Trường Sa]
[Kỳ 21: Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền
Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam]

[Kỳ 20: Cơ sở pháp lý quốc tế về sự thiết lập
chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo]

[Kỳ 19: Cờ Tổ quốc vẫn tung bay trên ngư trường Hoàng Sa]
[Kỳ 18: "Sinh Tồn” trên đại dương gió bão]
[Kỳ 17: Cô Lin - "Mắt thần” của biển]
[Kỳ 16: Trận chiến bảo vệ chủ quyền Trường Sa năm1988]
[Kỳ 15: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
giai đoạn sau 1991]

[Kỳ 14: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
giai đoạn 1975 - 1991]

[Kỳ 13: Ký ức Hoàng Sa trong nhiều thế hệ người Việt Nam]
[Kỳ 12: Trận hải chiến bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa
của Việt Nam năm 1974]

[Kỳ 11: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
giai đoạn 1954-1975]

[Kỳ10: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
giai đoạn 1945 -1954]

[Kỳ 9: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
thời Pháp thuộc]

[Kỳ 8: Hoàng Sa và Trường Sa trong thư tịch cổ Trung Hoa]
[Kỳ 7: Hoàng Sa-Trường Sa: Tư liệu cổ phươngTây]
[Kỳ 6: Hải đội Hoàng Sa thực thi chủ quyền]
[Kỳ 5: Thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa
của các triều đại Việt Nam ]

[Kỳ 4: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
trong thư tịch triều Nguyễn ]

[Kỳ 3: Chủ quyền biển đảo của Việt Nam từ các bản đồ
trong lịch sử]

[Kỳ 2: Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa
từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII]

[Kỳ 1: Vài nét địa lý tự nhiên thuộc vùng biển Việt Nam]

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

Người Trung Quốc bàn gì về giải pháp Biển Đông? (1)

Nguồn: Toquoc
 
8h:37' - 29/7/2011
(Toquoc)-Việc Trung Quốc vạch đường chữ U là “mua dây buộc mình”; 10 năm ngoại giao châu Á bị hủy trong một ngày; nên tìm giải pháp cho cuộc tranh chấp Biển Đông.
Trong thời kỳ đầu của cuộc tranh chấp trên Biển Đông sau những vụ gây hấn của tàu thuyền Trung Quốc hồi tháng 5 vừa qua, Trung Quốc rộ lên những lời đe dọa và thách thức. Gần đây, dư luận Trung Quốc đôi phần điềm tĩnh hơn, với những ý kiến ngược chiều đề cập về giải pháp Biển Đông. Phần lớn các bài dưới đây xuất bản trước khi thỏa thuận về Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC ngày 21/7, có giá trị để ta tham khảo xem người Trung Quốc bàn về giải pháp Biển Đông như thế nào.
5 hướng giải quyết tranh chấp Biển Đông
Bình luận viên Đài Truyền hình Phượng Hoàng Hong Kong Trịnh Hạo phát biểu trong chương trình bình luận thời sự của Đài này ngày 16/7 cho biết, ngày 13/7 ông đã đến Bắc Kinh tham dự “Hội thảo về tình hình tranh chấp Biển Đông và trách nhiệm của báo chí” do Đài Truyền hình Vân Nam và Sở nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, đồng tổ chức. Tham gia Hội thảo có hơn 20 chuyên gia, học giả và có cả giới quân sự. Các chuyên gia đã nêu nhiều quan điểm về cách thức giải quyết tranh chấp Biển Đông, nhìn chung có 5 hướng sau:
Một, lập trường chính thống của chính phủ Trung Quốc: Thông qua đối thoại song phương, đàm phán song phương với các nước có tranh chấp với Trung Quốc, giải quyết bằng biện pháp hoà bình, phản đối bên thứ ba can thiệp; cho rằng bên thứ ba can thiệp chắc chắn sẽ làm cho vấn đề bị quốc tế hoá, phức tạp hoá. Quan điểm thông qua đối thoại song phương giải quyết tranh chấp do Trung Quốc đưa ra đến nay vẫn chưa thay đổi.
Biển Đông và Đông Nam Á đặt ra những câu hỏi lớn đối với người Trung Quốc thời gian gần đây
Hai, chủ trương “mơ hồ về chủ quyền”. Hiện nay nếu nói chủ quyền các đảo và quyền quản lý vùng biển là của ai thì rất khó, nếu trong thời gian ngắn muốn phân định rõ ràng thì chắc chắn các bên sẽ tranh cãi quyết liệt. Tốt hơn là chưa nên tính đến chủ quyền thuộc ai, dốc sức vào thực hiện hợp tác với các nước tranh chấp, giống như quan điểm “gác tranh chấp cùng khai thác”, nhưng nhấn mạnh “mơ hồ về chủ quyền”. Vấn đề là Trung Quốc mơ hồ về chủ quyền nhưng các bên lại không muốn, họ biết rất rõ tình hình và 29 đảo hiện nay vẫn trong tay họ. Phương thức này có yếu tố tích cực là chủ trương cùng khai thác. Các bên thành lập một công ty liên doanh, Trung Quốc đầu tư giai đoạn đầu, bởi vì Trung Quốc có tiền, có thể cung cấp tài chính mua sắm thiết bị thăm dò, khai thác, chiếm phần lớn cổ phần. Nhiệm vụ khai thác thì giao cho các nước như Philippines, Malaysia, Việt Nam, bởi vì những nước này có khoảng cách gần hơn. Các bên cùng khai thác và phân chia sản phẩm theo cổ phần.
Ba, chủ trương “hành động thực tế”, đa số là giới quân sự, chủ trương áp dụng hành động thực tế, cho rằng chỉ dựa vào đàm phán sẽ không có tác dụng. Các nước đã chiếm lĩnh nhiều năm nay và đang khai thác thực tế. Những đảo này kể cả có đàm phán tiếp cũng không thể thu về được, do đó Trung Quốc cần áp dụng một số hành động thực tế để thu về.
Bốn, chủ trương giải quyết bằng pháp luật. Có thể cuối cùng vẫn phải thông qua con đường pháp luật để giải quyết, như căn cứ luật quốc tế, Công ước luật biển.
Năm, chủ trương căn cứ sự thực lịch sử, phần lớn là các nhà sử học. Những người này cho rằng không có gì phải đàm phán. Trung Quốc có chứng cứ lịch sử liên tục như khảo cổ, bia, tiền đồng, đồ sứ bị đắm ở khu vực đó, kể cả “đường 9 đoạn”. Trong lịch sử trước đây chưa từng có tranh chấp, tranh chấp chỉ xuất hiện những năm gần đây khi khu vực này phát hiện ra dầu khí. Do đó không cần phải đàm phán, đó là của Trung Quốc, chủ quyền thuộc Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc không cần dùng biện pháp quân sự và đưa ra toà án phán quyết, Trung Quốc chỉ cần đến đó đánh cá, khai thác là được. Nếu đối phương sử dụng vũ lực uy hiếp thì Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực.
Cá nhân ông Trịnh Hạo không đồng tình với lập trường của Chính phủ Trung Quốc, phản đối đối thoại song phương, vì đối thoại song phương không thể giải quyết vấn đề một cách căn bản. Ông Trịnh Hạo chủ trương giải quyết bằng luật pháp, bởi vì, đánh nhau là không thể. Trong giới quân sự Trung Quốc cũng có một bộ phận cho rằng dùng vũ lực là không phù hợp, chưa nói đến quan chức chính phủ. Do đó, cuối cùng sẽ phải đưa ra toà án để phán quyết theo luật. Có thể sẽ phải mất mấy chục năm nữa mới đến bước này, nhưng có lẽ nên đi theo hướng này.
Vạch đường chữ U là chuyện “mua dây buộc mình”; 10 năm ngoại giao châu Á bị hủy trong một ngày
Tạp chí Khai Phóng (Hongkong) số tháng 7/2011 đăng bài của nhà bình luận chính trị Trần Phá Không cho rằng gần đây vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông thể hiện rõ xu hướng xấu đi. Trong vấn đề Biển Đông, bản thân Trung Quốc không có lập trường rõ ràng, tiền hậu bất nhất, gây tổn hại nghiêm trọng tới uy tín quốc tế của Trung Quốc. Thời Đặng Tiểu Bình, lập trường của Trung Quốc về Biển Đông là “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Tuy nhiên, lập trường của Trung Quốc không ngừng thay đổi. Mấy năm gần đây, Trung Quốc bắt đầu từ chối đàm phán đa phương. Các nước bỗng chốc trở nên cảnh giác với Trung Quốc. Tháng 3/2010, Trung Quốc đột nhiên cao giọng tuyên bố chủ quyền Biển Đông thuộc “lợi ích cốt lõi” của mình. Dư luận các nước bùng lên. Sở dĩ Trung Quốc lớn tiếng là vì nước này tự kiêu với việc quốc lực được tăng cường, quân lực được mở rộng, muốn cho thế giới thấy “cơ bắp” của mình. Trong Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN tháng 7/2010, các nước dự hội nghị như Ấn Độ, EU đều ủng hộ lập trường của ASEAN, Trung Quốc rơi vào tình trạng bị cô lập chưa từng có, tự ví là “đã bị vây đánh”. Xem ra nỗ lực 10 năm ngoại giao châu Á của Trung Quốc đã bị hủy trong một ngày. Trung Quốc lập tức thay đổi giọng điệu, vứt bỏ cách nói “lợi ích cốt lõi”, trở lại với cách biểu đạt lập trường mơ hồ.
Tác giả viết rằng, tạm thời chưa nói tới sự đúng sai của các bên trong tranh chấp Biển Đông, câu hỏi đặt ra là liệu việc Trung Quốc vẽ đường phạm vi chủ quyền Biển Đông (đường chữ U) tới “cửa nhà” của các nước như Việt Nam, Philippines, Malaysia và Bruney có hợp với tình hình khách quan hay không? Đối chiếu với các quy định bằng văn bản rõ ràng liên quan tới việc “các nước có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý” trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển mà Trung Quốc ký từ năm 1982, Trung Quốc càng khó có thể bào chữa cho kiểu hoạch định này của mình. Trên thực tế, từ việc tự vạch đường chữ U cho tới cách nói về “lợi ích cốt lõi” đều là chuyện “mua dây buộc mình” của Trung Quốc.
Chẳng trách tại hội thảo Vấn đề An ninh ở Biển Đông tổ chức ở Washington gần đây, trong khi học giả Việt Nam giành được sự đồng tình của những người dự hội nghị vì đã làm sáng tỏ lập trường chủ quyền của Việt Nam một cách lôgíc và hùng biện trên cơ sở lập luận chứng cứ đầy đủ, học giả Trung Quốc khiến những người dự hội nghị cảm thấy “quá khiên cưỡng”, gây ấn tượng “không trung thực” bởi phát biểu vá víu, mơ hồ. Đuối lý, học giả Trung Quốc sau đó chỉ còn cách đổ thừa cho là “chuẩn bị chưa đầy đủ”.
QT (Gt)
(Còn tiếp)

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

Bắc Kinh "thèm khát" Biển Đông không chỉ vì tài nguyên

Nguồn: VTC

25/07/2011 17:55

(VTC News) - Trên quan điểm của một thủy thủ tàu ngầm, sự “thèm khát” độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc không chỉ đơn thuần là năng lượng, thủy sản, mà ở đó còn là chiến lược tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc. Đó là nội dung bài viết  “Why China Wants South China Sea” trên tờ The Diplomat của tác giả Tetsuo Kotani, nghiên cứu sinh đặc biệt tại Viện Nghiên cứu Okazaki Nhật Bản.

Bài viết do Nghiên cứu Biển Đông giới thiệu.

Tin liên quan
Ở Biển Đông, Bắc Kinh không chỉ quan tâm đến năng lượng và thủy sản, mà khu vực này còn bộ phận không thể tách rời trong chiến tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc.

Trong nỗ lực nhấn mạnh tầm quan trọng của khu vực này đối với châu Á, nhà phân tích địa chiến lược Nicholas Spykman đã từng mô tả Biển Đông như “Địa Trung Hải của châu Á”. Gần đây nhất, Biển Đông cũng đã được gọi là “Caribê của Trung Quốc”. Và, cũng như Italia và Mỹ đã kiểm soát Địa Trung Hải và Caribê, Trung Quốc hiện đang tìm cách thống trị Biển Đông.

Rõ ràng các tuyên bố chủ quyền và sự quyết đoán gần đây của Trung Quốc đang làm gia tăng tình trạng căng thẳng ở vùng biển này. Mặc dù phần lớn sự chú ý tập trung vào sự thèm khát các nguồn tài nguyên thủy sản và năng lượng của Bắc Kinh nhưng theo quan điểm của một thủy thủ tàu ngầm, vùng biển này là một phần trong chiến lược tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc. Và nếu không hiểu rõ quy mô hạt nhân của các tranh chấp ở Biển Đông, sự bành trướng trên biển của Trung Quốc không có ý nghĩa gì cả.

Bắc Kinh "thèm khát" Biển Đông không chỉ vì tài nguyên
Tàu ngầm JL-1 (SLBM) của Trung Quốc 

Sở hữu sự răn đe hạt nhân trên biển đáng tin cậy là một ưu tiên trong chiến lược quân sự của Trung Quốc. Tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Hạ mẫu 092 được trang bị tên lửa đạn đạo tầm ngắn phóng từ tàu ngầm JL-1 (SLBM) của Trung Quốc chưa từng tiến hành hoạt động tuần tra răn đe trên biển Bột Hải kể từ khi tàu ngầm này được đưa vào hoạt động trong những năm 1980.

Tuy nhiên, Trung Quốc sắp có khả năng tấn công thứ hai đáng tin cậy khi nước này đưa vào sử dụng các tên lửa đạn đạo tầm ngắn phóng từ tàu ngầm thế hệ hai JL-2 có tầm bắn ước tính 8.000km cùng với DF-31 và DF-31A, các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa có thể cơ động trên mặt đất (ICBM). Bên cạnh đó, Trung Quốc có kế hoạch đưa vào hoạt động tới 5 chiếc tàu ngầm lớp Tấn mẫu 094 được trang bị các tên lửa JL-2 và đang xây dựng căn cứ tàu ngầm ở dưới nước ở đảo Hải Nam trên Biển Đông.

Rõ ràng là Trung Quốc đang nỗ lực hết sức để kiểm soát Biển Đông như Liên Xô trước đây đã từng làm ở biển Okhotsk trong thời Chiến tranh Lạnh. Trước đó, Liên Xô đã từng sử dụng các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân và được trang bị tên lửa đạn đạo (SSBN) nhằm chống lại khả năng triển khai các ICBM của Mỹ ở trên mặt đất. Sự cần thiết phải đảm bảo lực lượng phòng thủ trước các cuộc tấn công và sự cần thiết phải có sự chỉ huy và kiểm soát hiệu quả cũng đồng nghĩa rằng SSBN của Liên Xô phải được triển khai gần với nước này và được trang bị các tên lửa tầm xa để tấn công Mỹ.

Cùng với biển Barents, Mátxcơva ưu tiên biến biển Okhotsk thành nơi trú ẩn an toàn cho các SSBN bằng cách cải thiện sự phòng thủ về vật chất cho quần đảo Kuril và tăng cường Hạm đội Thái Bình Dương đóng ở Vladivostok. Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô triển khai 100 tàu ngầm, cùng với 140 tàu chiến, trong đó có một tàu sân bay lớp Kiép, để bảo vệ lực lượng bảo đảm này ở biển Okhotsk.
Cũng giống như vậy, Trung Quốc cần đảm bảo lực lượng bảo đảm này trên Biển Đông và thay đổi chiến lược và học thuyết hàng hải một cách phù hợp. Hiện nay, các chức năng chiến tranh chủ chốt của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) gồm: 1) bảo đảm các con đường tiếp cận trên biển tới Đài Loan; 2) tiến hành các chiến dịch ở phía Tây Thái Bình Dương để không cho các lực lượng thù địch tự do hành động; 3) bảo vệ các tuyến giao thông đường biển của Trung Quốc; và 4) chặn các tuyến giao thông đường biển của kẻ thù.

Với việc đưa vào sử dụng tàu ngầm mẫu 094, việc bảo vệ các SSBN của Trung Quốc sẽ trở thành một chức năng quan trọng khác của Hải quân Trung Quốc, và chức năng này sẽ đòi hỏi Trung Quốc phải tiêu diệt các lực lượng chống tàu ngầm chiến lược thù địch và chấm dứt sự kháng cự của các nước cũng tuyên bố chủ quyền khác ở Biển Đông.

Khả năng chống xâm nhập của Trung Quốc, nhất là đối với các tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân êm hơn, có thể được sử dụng để chống lại các chiến dịch tấn công chống tàu ngầm của kẻ thù. Các tàu sân bay của Trung Quốc, khi được đưa vào hoạt động, sẽ được triển khai ở Biển Đông để buộc các nước láng giềng cùng tuyên bố chủ quyền phải câm lặng.
Bắc Kinh "thèm khát" Biển Đông không chỉ vì tài nguyên
Yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc 

Chiến lược này đã từng áp dụng gần hai thập kỷ trước tại thời điểm Trung Quốc bắt đầu bao vây Biển Đông để lấp đi khoảng trống quyền lực do việc Mỹ rút lực lượng quân sự ra khỏi Philippines vào năm 1991. Trung Quốc tái khẳng định các tuyên bố chủ quyền “mang tính lịch sử” đối với tất cả các đảo nhỏ, trong đó có quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, và gần 80% trong tổng số 3,5 triệu km2 vùng biển chạy dọc theo đường 9 đoạn hình chữ U mặc dù không có cơ sở pháp lý quốc tế nào để làm như vậy.

Các hòn đảo nhỏ này có thể sử dụng làm các căn cứ không quân và hải quân cho các hoạt động tình báo, theo dõi và do thám, và là các căn cứ để tuyên bố chủ quyền đối với các phần sâu hơn trên Biển Đông để xây dựng căn cứ cho các tàu ngầm được trang bị các tên lửa đạn đạo và các tàu khác.

Trung Quốc diễn giải Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) một cách độc đoán và không chấp nhận các hoạt động quân sự của các tàu và máy bay nước ngoài trên lãnh hải của nước này.

Tuy nhiên, các nỗ lực nhằm thống trị Biển Đông của Trung Quốc đang gặp phải những thách thức lớn. Sự quyết đoán của Trung Quốc không chỉ thổi bùng sự thù hận từ các nước cũng tuyên bố chủ quyền khác mà còn làm gia tăng quan ngại của các nước cũng đi lại trên biển khác như Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ.

Trên hết, không giống như biển Okhotsk, Biển Đông được coi là tuyến hàng hải quan quốc tế được thừa nhận. Bên cạnh đó, do các tên lửa JL-2 không thể vươn tới Los Angeles từ Biển Đông, các tàu ngầm mẫu 094 cần phải đi vào biển Philíppin, nơi Hải quân Mỹ và Lực lượng Phòng vệ trên biển (MSDF) của Nhật Bản đang tiến hành các chiến dịch chống tàu ngầm cường độ cao.

Để làm yên lòng các nước láng giềng cũng tuyên bố chủ quyền, Trung Quốc đã tiến hành các cuộc đối thoại và tham vấn với các nước này kể từ những năm 1990. Một kết quả là Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002, trong đó kêu gọi các giải pháp hòa bình thông qua đối thoại. Tuy nhiên, Trung Quốc không sẵn sàng ký kết một bộ quy tắc ứng xử mang tính bắt buộc.

Để đối phó với sự quyết đoán gần đây của Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đã tiến hành các cuộc diễn tập bắn đạn thật ở các vùng biển tranh chấp và tăng cường quan hệ với Mỹ, với sự hiện diện của Mỹ được cả hai nước coi như là phương pháp răn đe rõ ràng nhất.

Về phần mình, Mỹ đã phản đối hành động quyết đoán của Trung Quốc tại nhiều diễn đàn khu vực bằng cách nhấn mạnh sự quan tâm của nước này đối với quyền tự do hàng hải. Gần đây, Mỹ đã thông báo triển khai các tàu chiến ven biển ở Singapore với hy vọng rằng sự hiện diện của chúng sẽ làm tăng tác dụng răn đe đối với sự quyết đoán của Trung Quốc, giống như Anh triển khai các tàu HMS Prince of Wales và HMS Repulse ở Gibraltar nhằm răn đe Nhật Bản trước đây.

Mặt khác, do các tuyên bố chủ quyền quá mức của Trung Quốc đã dẫn tới các sự cố như đã từng xảy ra năm 2001 với máy bay do thám EP-3 và năm 2009 với tàu USS Impeccable, Mỹ đang tìm kiếm thỏa thuận về biển với Trung Quốc. Mặc dù vậy, Trung Quốc không quan tâm tới bất cứ những gì như vậy bởi vì một thỏa thuận sẽ bào chữa cho sự hiện diện liên tục của Mỹ ở Biển Đông.

Ấn Độ là một nước có vai trò quan trọng khác ở Biển Đông. Niu Đêli sẽ sớm đưa vào sử dụng tàu ngầm được trang bị tên lửa đạn đạo đầu tiên Arihant và có kế hoạch xây dựng hai chiếc tàu tương tự khác bằng cách phát triển tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân được trang bị tên lửa đạn đạo tầm xa K-4. Tuy nhiên, cho đến khi Ấn Độ thành công trong việc phát triển SLBM tầm xa, các tàu ngầm của nước này sẽ cần phải hoạt động trên Biển Đông để chĩa mũi nhọn vào Bắc Kinh.

Australia cũng quan ngại về tình trạng căng thẳng trong khu vực này. Sự ổn định ở Đông Nam Á trong “các con đường tiếp cận phía Bắc” của Australia được các nhà hoạch định chính sách nước này coi là đặc biệt quan trọng như việc một quốc gia thù địch có thể phô trương quyền lực với Australia hay đe dọa các tuyến thương mại đường biển và tuyến đường cung cấp năng lượng cho nước này. Kết quả là người ta hy vọng Australia sẽ tăng cường sự hiện diện quân sự ở phía Bắc nước này, đồng thời cho phép quân đội Mỹ tiếp cận lớn hơn với các căn cứ quân sự của nước này.
Trong khi đó, Nhật Bản cũng có các quan tâm mang tính chiến lược của nước này đối với Biển Đông, vốn là một tuyến đường biển cực kỳ quan trọng bởi vì khoảng 90% lượng dầu mỏ nhập khẩu của nước này đang được vận chuyển qua tuyến đường này. Cán cân quyền lực ở Biển Đông có ảnh hưởng lớn đối với an ninh trên các vùng biển xung quanh Nhật Bản, gồm biển Hoa Đông và biển Philippines. Bên cạnh đó, nếu Trung Quốc thành công trong việc đạt được khả năng tấn công thứ 2 trên biển bằng cách thống trị Biển Đông, điều đó sẽ làm suy yếu sự tin cậy vào khả năng răn đe mở rộng của Mỹ.
Bắc Kinh "thèm khát" Biển Đông không chỉ vì tài nguyên
 

Nhật Bản đã công bố Đại cương chương trình quốc phòng mới hồi tháng 12/2010, trong đó kêu gọi tăng cường các hoạt động tình báo, giám sát và do thám dọc theo chuỗi đảo Ryukyu và tăng cường hạm đội tàu ngầm. Trong cuộc gặp 2+2 (giữa các bộ trưởng quốc phòng và ngoại giao) của Nhật Bản và Mỹ ở Wasington gần đây, Tokyo và Washington đã đưa việc duy trì an ninh đường biển và tăng cường quan hệ với ASEAN, Australia và Ấn Độ vào các mục tiêu chiến lược chung giữa hai nước.
Tất cả điều này cũng đồng nghĩa rằng Trung Quốc đang đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan trên biển “Okhotsk của Trung Quốc”. Trung Quốc càng tìm cách thống trị tuyến đường biển quốc tế này, nước này càng vấp phải sự thù địch. Để tránh làm tình hình trở nên tồi tệ thêm, Trung Quốc cần phải thay đổi các tuyên bố chủ quyền đường 9 đoạn cho phù hợp với UNCLOS (và Mỹ cần gia nhập UNCLOS ngay lập tức). Chừng nào Trung Quốc còn tiếp tục cách hành xử quyết đoán, các nước láng giềng trên biển của Trung Quốc sẽ tăng cường hợp tác chiến lược với Mỹ, Ấn Độ, Australia và Nhật Bản để thiết lập một hệ thống chiến tranh chống tàu ngầm trong khu vực.
Tuy nhiên, không chỉ Trung Quốc có trách nhiệm, các quốc gia khác trong khu vực cũng cần tìm cách hợp tác. Nơi nào có khả năng thì cần theo đuổi việc hợp tác khai thác các vùng biển tranh chấp, và nguy cơ cướp biển ngày càng gia tăng ở Biển Đông cho thấy một vấn đề khác để các quốc gia có thể phối hợp với nhau. Trong khi đó, các nước trong khu vực cần tiếp tục đối thoại với Trung Quốc về an ninh trên biển tại các diễn đàn như Diễn đàn Khu vực ASEAN và Hội nghị Cấp cao Đông Á.

Sẽ là không dễ dàng nhưng việc xây dựng một bộ quy tắc ứng xử là cơ hội tốt nhất để tránh một cuộc xung đột vũ trang.

Theo The Diplomat
Văn Cường (gt)
------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này