++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt-Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt-Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb: 'Vấn đề Biển Đông cần giải quyết đa phương'

Nguồn:VnE

'Vấn đề Biển Đông cần giải quyết đa phương'

Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb, người bảo trợ nghị quyết về Biển Đông chiều nay nhấn mạnh nhân chuyến thăm Việt Nam rằng, vấn đề Biển Đông cần cách tiếp cận đa phương vì giải quyết bằng đàm phán song phương sẽ rất khó khăn.

Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb tại Hà Nội chiều 24/8. Ảnh: Đình Nguyễn.
Trong ngày 24/8, ông Webb có cuộc gặp với các nhà lãnh đạo Việt Nam như Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, trong đó hai bên thảo luận về những vấn đề và sáng kiến do văn phòng của thượng nghị sĩ đặt ra liên quan đến Biển Đông. Ông cho biết đã quan tâm và bày tỏ quan điểm về vấn đề này trong suốt hơn 15 năm qua, đặc biệt kể từ khi nắm chức vụ Chủ tịch Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương của Uỷ ban đối ngoại Thượng viện Mỹ, hai năm rưỡi trước.

"Do đó sau 3 vụ Trung Quốc gây hấn xảy ra tại Biển Đông trong năm nay, gồm một vụ xâm phạm vùng biển của Philippines và hai vụ xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, tôi đã nỗ lực cùng các thượng nghị sĩ khác đệ trình một dự thảo nghị quyết lên Thượng viện Mỹ về vấn đề này và được nhất trí thông qua", ông Webb nói thêm.

Nghị quyết trên có hai nội dung chính là phản đối Trung Quốc dùng vũ lực gây hấn và kêu gọi giải pháp đa phương và hoà bình cho vấn đề Biển Đông. "Đây là lần đầu tiên Thượng viện Mỹ chính thức lên án một hành động của Trung Quốc tại Biển Đông. Đó là tín hiệu rất quan trọng của Mỹ về việc chúng tôi muốn một giải pháp hoà bình cho vấn đề Biển Đông", ông Webb nhấn mạnh.

Giải thích lý do chủ trương giải quyết đa phương vấn đề Biển Đông, Thượng nghị sĩ Jim Webb cho rằng không có nước nào trong khu vực có vị thế tương xứng với Trung Quốc, nên sẽ “bất lợi nếu đàm phán song phương để giải quyết tranh chấp. Hơn nữa đây là vấn đề rất khó khăn nếu giải quyết theo phương thức đàm phán song phương". Ông khẳng định phương thức tiếp cận đa phương cho Biển Đông là phù hợp và “tiếng nói của ASEAN trong vấn đề này rất có giá trị và quan trọng”.

Thượng nghị sĩ Mỹ cũng đánh giá cao việc Việt Nam đang tham gia vào các công việc quốc tế như một đối tác quan trọng của Mỹ ở khu vực. Ông cho biết văn phòng của ông đã có các cuộc thảo luận với đại sứ Việt Nam tại Mỹ về khả năng xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. "Tôi thấy mối quan hệ Việt Nam và Mỹ đang diễn ra tốt đẹp và tôi tin rằng nếu chúng ta có thể phối hợp chặt chẽ với nhau trong tương lai thì sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước cũng như khu vực", thượng nghị sĩ nói thêm.


Trước đó trong cuộc tiếp Thượng nghị sĩ Jim Webb chiều qua, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định, trong việc triển khai chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá, tích cực chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam tiếp tục coi trọng mối quan hệ với Mỹ như một đối tác hàng đầu có ý nghĩa chiến lược.

Việt Nam là chặng dừng chân cuối cùng trong chuyến thăm 4 nước Đông Nam Á của Thượng nghị sĩ Jim Webb, Chủ tịch Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương của Uỷ ban đối ngoại thượng viện Mỹ. Trước khi đến Việt Nam từ ngày 20 đến 24/8, ông đã tới thăm Thái Lan, Singapore và Indonesia. Đây là lần thứ hai trong năm nay ông Webb tới thăm Việt Nam và là lần thứ 17 trong vòng 20 năm qua.
Đình Nguyễn


------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

Việt Nam coi Hoa Kỳ là đối tác chiến lược hàng đầu/ Tăng cường hợp tác CNQP Việt Nam - Trung Quốc


Việt Nam coi Hoa Kỳ là đối tác chiến lược hàng đầu

Nguồn: TTXVN
Thượng nghị sỹ Jim Webb. (Nguồn: Getty Images)
Ngày 23/8, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã tiếp Thượng nghị sỹ Jim Webb, Chủ tịch Tiểu ban Đông Á-Thái Bình Dương, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ nhân chuyến thăm Việt Nam của Thượng nghị sỹ.

Tại buổi tiếp, Bộ trưởng Phạm Bình Minh đánh giá cao các chuyến thăm gần đây của Thượng nghị sỹ Jim Webb tới Việt Nam và cảm ơn những đóng góp tích cực của ông đối với việc thúc đẩy quan hệ song phương và những quan tâm của ông đối với các vấn đề hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực.

Bộ trưởng Phạm Bình Minh cũng bày tỏ vui mừng về sự phát triển trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ thời gian qua, khẳng định trong triển khai chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, tích cực chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam tiếp tục coi trọng quan hệ với Hoa Kỳ như một đối tác hàng đầu có ý nghĩa chiến lược.

Thượng nghị sỹ Jim Webb chúc mừng Bộ trưởng Phạm Bình Minh đảm nhiệm cương vị mới, bày tỏ vui mừng được trở lại thăm Việt Nam, mong muốn tiếp tục góp phần thúc đẩy hơn nữa quan hệ hai nước.

Thượng nghị sỹ Webb cũng khẳng định cá nhân ông và Quốc hội Hoa Kỳ sẽ tiếp tục quan tâm tới tình hình trong khu vực, khẳng định Quốc hội Hoa Kỳ ủng hộ giải pháp đa phương và hòa bình đối với các tranh chấp trên Biển Đông.

Thượng nghị sỹ Jim Webb cũng bày tỏ mong muốn các bên hợp tác sử dụng bền vững nguồn nước sông Mekong.

Đây là chuyến thăm Việt Nam lần thứ hai của Thượng nghị sỹ Jim Webb trong năm nay. Lần gần đây nhất ông Webb thăm Việt Nam vào tháng Tư./.
(Vietnam+)

----------------------------------------------------

Tăng cường hợp tác CNQP Việt Nam - Trung Quốc
Nguồn: baodatviet
Cập nhật lúc :3:36 PM, 23/08/2011
Sáng 23/8, tại Trụ sở BQP, Trung tướng Nguyễn Song Phi, Phó Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam đã tiếp ông Tào Dị, TGĐ Tập đoàn Norinco (Trung Quốc) khu vực châu Á-TBD.
Tại buổi tiếp, Trung tướng Nguyễn Song Phi điểm lại mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai Đảng, hai Nhà nước, quân đội và nhân dân hai nước; giới thiệu khái quát chính sách quốc phòng của Việt Nam, tình hình trong khu vực, chúc chuyến thăm làm việc của ông Tào Dị thu được kết quả tốt đẹp.

Ông Tào Dị cảm ơn Trung tướng Nguyễn Song Phi đã dành thời gian tiếp; thông báo kết quả làm việc với lãnh đạo Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam; mong muốn hợp tác về công nghiệp quốc phòng hai nước ngày càng phát triển, hiệu quả.
Theo TTXVN

------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2011

Dân Biểu Ed Royce Họp Báo Vận Động Cho Dự Luật 352: Giải Pháp Để Ngăn Chận Trung Quốc Chiếm Biển Đông

Nguồn: Việt Báo Online


(08/12/2011) (Xem: 686)
Dân Biểu Ed Royce Họp Báo Vận Động Cho Dự Luật 352: Giải Pháp Để Ngăn Chận Trung Quốc Chiếm Biển Đông 

Dân Biểu Ed Royce tại cuộc họp báo. (Photo VB)

WESTMINSTER (VB) - Để vận động cộng đồng người Việt tại Quận Cam góp phần hậu thuẫn cho Dự Luật H Res. 352 liên quan đến vấn đề an ninh Biển Đông, Dân Biểu Liên Bang địa hạt 40 Ed Royce đã mở họp báo gặp gỡ giới truyền thông Việt Ngữ tại khu vực Little Saigon vào sáng Thứ Năm, ngày 11 tháng 8 năm 2011 tại phòng sinh hoạt Nhật Báo Người Việt, trên đường Moran, thành phố Westminster.

Dân Biểu Ed Royce được giới thiệu là thành viên cao cấp của Ủy Ban House Foreign Affairs Committee và Tiểu Ban Á Châu  Thái Bình Dương tại Hạ Viện, đồng Chủ Tịch Congressional Caucus on Vietnam, và thành viên cao cấp của Ủy Ban Tom Lantos Human Rights Commission. Cũng theo lời giới thiệu, Dân Biểu  Ed Royce đã đóng góp  nhiều cho cộng đồng người Việt trong nhiều lãnh vực như vận động cho tự do tôn giáo, nhân quyền và nhân đạo tại Việt Nam trong nhiều thập niên qua từ khi ông còn là một thượng nghị sĩ tiểu bang California. Trong số những đóng góp của DB Ed Royce cho cộng đồng người Việt có việc ông đệ trình dự luật đã được thông qua theo đó cho phép các bác sĩ có bằng tại Việt Nam khi qua Mỹ được quyền hành nghề mà không cần phải thi lấy bằng lại. Và ông cũng đã vận động để Thành phố Garden Grove cho phép đặt bảng hiệu "Welcome to Little Saigon" trên xa lộ 22 và bảng hiệu "Little Saigon Business District" trên các con đường chính trong thành phố. 

Mở đầu phần phát biểu, DB Ed Royce nói rằng ông rất hài lòng đối với cộng đồng người Việt tại Quận Cam vì đã tích cực tham gia các cuộc vận động cho nhân quyền và cứu giúp trẻ em nghèo tại Việt Nam. Ông nói đã can thiệp với chính quyền CSVN để cho phép cung cấp thuốc men đến tận tay những gia đình có trẻ em nghèo bệnh tật. 

Dân Biểu Ed Royce cho biết trong lần hướng dẫn phái đoàn dân cử Mỹ thăm Việt Nam vào năm 2000, ông đã có dịp đến thăm trực tiếp Hòa Thượng Thích Quảng Độ và cụ Lê Quang Liêm. DB Ed Royce ca ngợi lòng quả cảm của Hòa Thượng Quảng Độ và đó cũng là lý do ông đề cử ngài cho giải Nobel Hòa Bình. DB Ed Royce nhấn mạnh rằng, "Hòa Thượng Quảng Độ đã trả giá bằng cả cuộc đời ngài cho tự do tôn giáo và nhân quyền." Nhân đó ông nhắn nhủ rằng chúng ta không nên bỏ cuộc, phải tiếp tục đấu tranh để giúp trẻ em nghèo và thay đổi xã hội Việt Nam có được tự do dân chủ như các nước Đông Âu. 

DB Ed Royce nhận định rằng Cộng Sản Việt Nam đã không bảo vệ được tự do và sự toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam trước sự xâm lược của Trung Quốc. 

Đề cập đến dự luật H Res. 352 liên quan đến vấn đề an ninh Biển Đông, DB Ed Royce cho biết rằng gần đây một ông tướng Trung Quốc phát biểu rằng "Trung Quốc đã từng dạy Việt Nam một bài học" vào năm 1979, và đe dọa nếu Việt Nam còn tiếp tục hành động cứng rắn thì cũng giống như đang giỡn với dao, không sớm thì muộn cũng sẽ bị đứt tay. DB Ed Royce nói rằng Trung Quốc không nên tuyên bố Biển Đông là vùng đặc quyền kinh tế như luận điệu của Nhật Bản từng tuyên bố vào thập niên 1930. 

DB Ed Royce cho biết động lực để ông đệ trình dự luật H Res. 352 là vì những hành động xâm lược của Trung Quốc tại Biển Đông như, - việc Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa, - việc Trung Quốc cắt dây cáp các tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam, - việc Trung Quốc bắt bớ, đánh đập, bắn giết các ngư dân Việt Nam, - gần đây nhất là việc TQ cho hạ thủy chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên trong chiến lược phát triển lực lượng hải quân ở vùng Biển Đông. DB Ed Royce cho biết tất cả những sự kiện trên cộng với việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông là hoàn toàn trái với luật pháp quốc tế. Vì vậy, dự luật 352 đưa ra 6 tuyên bố nói lên lập trường của Hoa Kỳ đối với vấn đề an ninh Biển Đông mà trong đó đòi hỏi các giải pháp phải dựa trên hòa bình, ổn định và tự do giao thương theo đúng luật pháp quốc tế. 

DB Ed Royce cho biết thêm rằng một khi dự luật này được thông qua thì bảo đảm rằng Biển Đông vẫn mở cửa để cho hàng hải quốt tế lưu thông, kể cả các tàu bè Việt Nam sẽ tiếp tục hoạt động ở đó. DB Ed Royce nhấn mạnh rằng Việt Nam phải có thái độ cứng rắn thì mới không bị Trung Quốc xâm lăng.

------------------
*****



»» xem thêm

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

Cựu binh Mỹ ủng hộ Trường Sa và tấm huân chương cho nhà văn Việt

Nguồn: VNN




Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi và chữa chạy mọi thứ điên rồ, lầm lạc của con người. Bất cứ con đường nào trên thế gian này cuối cùng cũng đi về "khu vườn" của bình yên. Những người lính nhà văn của một cuộc chiến tranh tàn khốc đã tìm đến với nhau sớm hơn tất cả.

Khi tôi đang ở Mỹ thì vấn đề biển Đông nóng lên từng ngày. Có những người Mỹ lo lắng về một cuộc chiến tranh có thể xảy ra với Việt Nam tuy rằng họ đang sống trong yên bình. Lúc đó đang mùa hạ, cây lá phủ một màu xanh bất tận. Mọi khu vườn của các gia đình Mỹ rộn ràng tiếng chim và náo động bởi những bầy sóc, chồn và thỏ đi kiếm ăn.
Những ngày giữa tháng Sáu, tôi sống ở Oberrlin trong ngôi nhà của nhà thơ cựu binh Mỹ - Bruce Weigl, một ngôi nhà cách xa Việt Nam hàng ngàn dặm chìm trong hoa lá, một ngôi nhà có cảm giác không một hạt bụi hay sự phiền muộn nào lọt vào.
Có lẽ rất nhiều người Việt Nam biết đến ông, đặc biệt gần đây với hai tập sách của ông được dịch và xuất bản ở Việt Nam: Vòng tròn của Hạnh (hồi ký) và Sau mưa thôi nã đạn (thơ). Trong tập thơ của ông do Phan Quế Mai dịch, có một bài viết về một bà mẹ nông dân Việt Nam. Và tôi thấy đó là một trong những bài thơ viết hay nhất về người mẹ Việt Nam mà tôi đã đọc được. Bruce tự nhận là Đại sứ nước mắm của Việt Nam. Gọi là Đại sứ nước mắm vì ông quá mê nước mắm và vì quá yêu nước Việt.
Cho đến bây giờ, với những gì tôi đã đọc được về nước mắm thì bài viết của Bruce vô cùng ấn tượng. Mấy tháng trước, ông trở lại Việt Nam thực hiện một số công việc dịch thuật. Trong chuyến đi đó, ông được công ty nước mắm Thanh Hà mời ra thăm đảo Phú Quốc. Ở đó, ông đã chứng kiến công nghệ làm nước mắm của Việt Nam. Cũng trong chuyến đi này, Bruce và nhà thơ, dịch giả Phan Thị Quế Mai đã trao học bổng cho năm em học sinh có hoàn cảnh khó khăn của tỉnh Hòa Bình. Ông cũng quyết định lập một quỹ nhỏ để tài trợ hàng năm cho một số học sinh khó khăn.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều trong khu vườn của nhà thơ Bruce Weigl tại Mỹ.
Khi thấy chúng tôi bàn luận về vấn đề biển Đông, Bruce nói một câu bằng tiếng Việt "không sợ". Rồi Bruce cười và nói: "Lính Trung Trung Đỉnh đã thắng lính Bruce thì sẽ thắng tất cả những lính khác". Vì sao lại có câu nói đó? Câu chuyện liên quan đến câu nói đó được kể trong khu vườn bình yên của gia đình Bruce ở Oberlin.
Bruce gặp người lính, nhà văn Trung Trung Đỉnh nhiều lần ở Hà Nội. Nhưng cho đến chuyến đi gần đây nhất đến Hà Nội, Bruce mới ngồi uống trà với nhà văn Trung Trung Đỉnh. Họ nói về những năm tháng chiến tranh, về đời sống thường nhật và về văn học. Lúc đó, Bruce mới biết rằng Bruce và Trung Trung Đình đã từng chiến đấu trong cùng một mặt trận ở An Khê.
Cuộc đời thật lạ lùng và luôn luôn đi những bước đi bí ẩn và bất ngờ. Lúc đó, hai người có thể đã từng tìm cách phát hiện nhau, lẩn trốn nhau và săn lùng nhau. Tôi cứ nghĩ nếu một trong hai người lộ ra sẽ bị người kia tiêu diệt. Hoặc nếu hai người bất ngờ đứng trước nhau trong khi tay lăm lăm súng thì họ sẽ làm gì ? Tôi cược 90% là họ sẽ bóp cò súng....Chiến tranh là thế.
Nhưng Bruce nói chỉ Trung Trung Đỉnh mới có thể tiêu diệt được Bruce còn Bruce không thể tiêu diệt được Trung Trung Đỉnh vì mỗi khi phải bắn là Bruce chúi đầu xuống, chĩa súng lên trời và bóp cò. Hơn nữa, Trung Trung Đỉnh có lý do để tiêu diệt Bruce. Bruce nói ông không có lý do để bắn vào bất cứ mục tiêu nào trên xứ sở mà quân đội của đất nước ông chiếm đóng.
Nhưng rồi thời gian cứ lặng lẽ trôi đi và chữa chạy mọi thứ điên rồ, lầm lạc của con người. Bất cứ con đường nào trên thế gian này cuối cùng cũng đi về "khu vườn" của bình yên. Những người lính nhà văn của một cuộc chiến tranh tàn khốc đã tìm đến với nhau sớm hơn tất cả.
Nhà thơ - Cựu binh Mỹ Bruce Weigl
Khi câu chuyện kể xong thì bóng tối đã lan tỏa khắp khu vườn. Chỉ còn tiếng gió lùa trên những vòm lá và tiếng chim về tổ kêu da diết. Bruce đứng dậy bước vào nhà. Ông mang ra một cái hộp bằng da rất đẹp. Đến trước tôi, ông nói ông được thưởng huân chương đồng của Chính phủ Mỹ sau khi mãn hạn quân dịch ở chiến trường Việt Nam về. Ông đã để tấm huân chương này trong một góc phòng suốt mấy chục năm nay và chưa một lần mở ra. Ông chẳng thấy tự hào gì về tấm huân chương ấy.

Còn bây giờ, ông muốn trao tấm huân chương cho người lính, nhà văn Trung Trung Đỉnh. Ông nghĩ rằng: Huân chương là phần thưởng cho những người lính chân chính và dũng cảm. Với ông, chỉ có Trung Trung Đỉnh và đồng đội của ông mới là những người lính chân chính và dũng cảm. Họ mới là người xứng đáng nhận phần thưởng đó chứ không phải ông và những lính Mỹ khác. Rồi Bruce nhờ tôi mang tấm huân chương về Việt Nam để tặng lại cho Trung Trung Đỉnh. Và ông nói đây không phải là huân chương của Chính phủ Mỹ mà là huân chương của một người lính với lòng kính phục kẻ thù cũ của mình.
Một buổi chiều, nhà văn George Kovach, Tổng biên tập Tạp chí Comsequence ở Boston mời chúng tôi đến nhà ăn tối. Tháng sáu năm 2010, ông đã đến Hà Nội dự Hội thảo 35 năm và con đường văn học Việt Nam đến Mỹ. Chuyến đi đó đã để lại trong lòng ông những kỷ niệm lạ lùng và không thể nào quên.
Khi gặp tôi, vợ ông đã nói với tôi rằng bà cám ơn chúng tôi đã tổ chức chuyến đi đó cho chồng bà. George Kovach là một cựu binh tham chiến ở Việt Nam. Ông đã mắc chứng bệnh tâm thần một thời gian vì hội chứng chiến tranh Việt Nam. Cuối cùng ông đã tìm đến văn chương để chữa bệnh sau khi đã tìm đến rất nhiều bác sỹ.
Bây giờ, ông có thể cất giữ những ám ảnh chiến tranh vào quá khứ sau hơn 40 năm từ chiến trường Việt Nam trở về. Bữa tối đó có một số nhà văn,  nhà thơ Mỹ tên tuổi từng đoạt giải Pulitzer và giải sách quốc gia Mỹ. Và cho dù bữa tối trong khu vườn bình yên đến tưởng như làm cho thân xác nặng nề của chúng tôi cũng khẽ khàng bay lên và trôi trong sự bình yên ấy thì cuối cùng chúng tôi vẫn lại nói về vấn đề biển Đông, nói về nguy cơ của một cuộc chiến tranh và nói về cái giá của hòa bình. Có thể bởi sự hiện diện của những người Việt Nam ở đó, có thể bởi một sự trắng trợn nào đó của một quốc gia đối với một quốc gia và cũng có thể những cựu binh kia đang bị hai từ chiến tranh kéo trở lại quá khứ, một quá khứ mà họ đã phải đấu tranh quá khó khăn để chạy thoát như trường hợp George Kovach.
Và trong bóng tối đang phủ xuống khu vườn bỗng vang lên lời của một ai đó "Hãy ủng hộ Trường Sa". Ngay sau đó, Bruce liền mở ví đưa cho chúng tôi 100 đô la để ủng hộ Trường Sa. Bruce cũng lấy thêm 100 đô la nữa đưa cho chúng tôi và nói: "Đây là 100 đô của Kevin". Tôi hỏi: "Liệu Kevin có đồng ý không?". "Đồng ý hai tay", Bruce quả quyết. Cùng với Bruce là một số những thanh niên nam nữ cũng bắt tay và đưa tiền dù chỉ 10 hay 20 đô la ủng hộ Trường Sa.
Tôi hỏi Bruce liệu Kevin có ủng hộ không là đùa vậy thôi chứ tôi biết một trong những người yêu dân tộc chúng ta nhất chính là Kevin, cựu binh, nhà thơ và là giáo sư văn chương Đại học Massachusetts.
Tháng 3 năm 2011, Kevin cùng gia đình đã vào Việt Nam để nhận giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh vì đóng góp của ông trong việc truyền bá văn học và văn hóa Việt Nam vào nước Mỹ và những đấu tranh bền bỉ của ông để phá bỏ hàng rào cấm vận của Mỹ với Việt Nam và tiến tới bình thường hóa quan hệ hai nước.
Trong chuyến đi đó, Kevin ra mắt tập thơ Khúc hát Thành Cổ Loa do NXB Hội Nhà văn ấn hành. Trong tập thơ này có bài Thành Cổ Loa. Bài thơ ông viết về lịch sử Thành Cổ Loa. Bài thơ kết với ý: những người Việt Nam có một cái lẫy nỏ thần còn những người như ông chẳng bao giờ có được. Ông quá hiểu lịch sử giữ nước của người Việt Nam, quá hiểu câu chuyện Thành Cổ Loa và quá hiểu sức mạnh của dân tộc này khi có ngoại bang. Và ông hiểu cái lẫy nỏ thần ấy là biểu tượng của sức mạnh yêu nước của người Việt Nam ngàn đời nay.
Trước khi tiễn chúng tôi ra về, George Kovach ôm lấy tôi và nói trong hơi thở: "Sẽ không có chuyện gì tồi tệ xảy ra đâu". Tôi hiểu George. Ông muốn nói với tôi rằng sẽ không có một cuộc chiến tranh nào cả. Nhưng tôi biết họ cảm nhận được một nguy cơ nào đó vẫn đeo bám họ cho dù thật mơ hồ.
Tôi nhớ năm 2003 trong chuyến đi đến Mỹ, tôi đã tham dự một buổi đàm đạo về chiến tranh. Tôi đã nói với những người nghe rằng: Nếu bây giờ nước Mỹ lại tiến hành cuộc chiến tranh với đất nước chúng tôi một lần nữa thì tôi biết rằng Myles, cậu con trai của nhà thơ Kevin, một cậu bé mơ trở thành siêu sao bóng rổ Mỹ phải cầm súng đến Việt Nam. Và tôi sẽ không còn cách nào khác là để con trai tôi, một cậu bé mơ trở thành chuyên gia số một về vật lý lý thuyết cầm súng ra chiến trường để bảo vệ tổ quốc tôi. Nhưng tôi biết, ý nghĩ về một cuộc chiến tranh khủng khiếp như thế sẽ chẳng bao giờ xảy ra. Nhưng nói như vậy là tôi muốn gửi đi một thông điệp rằng: Người Việt Nam không bao giờ khuất phục trước bất cứ một đội quân xâm lược nào.

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011

Hillary Clinton - một người bạn lớn của Việt Nam!

  Đôi lời thưa với bạn đọc:

   Tôi viết bài này hôm 01/11/2010 nhân dịp bà Hillary Clinton đến Hà Nội lần thứ hai trong năm 2010 để tham dự Hội nghị cấp cao Đông Á, nhân dịp năm Việt Nam làm chủ tịch ASEAN.

Bài viết tôi gửi đến trang mạng trannhuong.com và hôm nay 23/7/2011, nhân dịp bà có bài phát biểu và tuyên bố rất quan trọng tại hội nghị an ninh lớn nhất của châu Á, ARF lần thứ 18 tổ chức tại Bali thuộc Indonesia, một lần nữa thể hiện quan điểm của Hoa Kỳ về tranh chấp trên Biển Đông.

Sau hai lần Blog bị đánh sập, thì rất may ngoài bài đăng trannhuong.com, bài đã được đăng trên Saigon Echo và đăng trên groups.yahoo.com.

Sau đây xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết đăng trên Saigon Echo.
--------------------------------

Hillary Clinton - một người bạn lớn của Việt Nam!



Tác Giả: Nguyễn Hữu Quý   
Thứ Ba, 02 Tháng 11 Năm 2010 08:28

Viết nhân dịp Bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton có chuyến công du châu Á và tham dự Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ 5 tại Hà nội, ngày 29 và 30/10/2010.

Không biết có phải có một mối lương duyên nào đó, mà gia đình cựu Tổng thống Bill Clinton và cá nhân bà Ngoại trưởng Hillary Clinton lại có ấn tượng đối với đất nước ta đến vậy; Năm 1995, sau 20 năm bị nước Mỹ cấm vận, chính ngài Tổng thống Bill Clinton là Tổng thống Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận đối với nước ta, để từ đó Việt Nam có cơ hội để hòa nhập từng bước với cộng đồng quốc tế, sau gần 10 năm thực hiện “công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo”.


Rồi đến năm 2000, bà đi cùng chồng trong chuyến công du đến đất nước Việt Nam, chắc hẳn đã để lại cho Bà, một luật sư được xếp trong nhóm 100 luật sư giỏi nhất nước Mỹ, và đương kim đệ nhất phu nhân, mà với trí thông minh tuyệt vời, không thể không tác động đến Đức lang quân là đương kim Tổng thống, có những kỷ niệm khó quên về đất nước hiền hòa và mến khách chúng ta!?

Còn nhớ, Bà cùng con gái Chelsea đội nón lá Việt Nam, xung quanh là “đội đặc nhiệm” bảo vệ dày đặc, không chỉ là người Mỹ, mà còn có cả lực lượng an ninh của Việt Nam, đi đến vùng nông thôn Phú Thọ; đồng thời trên màn hình Tivi trình chiếu hình ảnh nông dân Việt Nam đang “đãi cát tìm… hài cốt lính Mỹ”… tất cả hẳn đã để lại cho Bà kỷ niệm khó quên về một dân tộc bao dung và độ lượng!? 

Nhưng ấn tượng nhất về Bà, là bài phát biểu tại Hội nghị diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) lần thứ 17 diễn ra vào 22 và 23/7/2010 tại Hà Nội; tại đó thay mặt Chính phủ Hoa Kỳ, Bà tuyên bố: An ninh trên Biển Đông và toàn hằng hải trên Biển Đông là “lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ”, và “Mỹ không đứng về một bên nào trong tranh chấp Biển Đông, nhưng ủng hội một giải pháp hòa bình, không dùng vũ lực và dựa trên luật pháp Quốc tế…”; 

Phát biểu của Bà đã tạo cho cộng đồng ASEAN, vốn “đồng sàng dị mộng” cùng mạnh mẽ đứng về một phía để bảo vệ công lý xung quanh tranh chấp của từng nước về Biển Đông đối với Trung Quốc; Phát biểu của Bà bất ngờ đến nỗi, ngoại trưởng Trung Quốc, ngài Dương Kiết Trì đã phải bỏ ra ngoài phòng họp, và gần một tiếng sau, Ngài trở lại phòng làm việc, và có tuyên bố đại ý rằng Trung Quốc là nước lớn, các nước ASEAN là nước nhỏ…

Rõ ràng là, Ngài Dương Kiết Trì, có thể về mặt cá nhân chưa xứng đáng lắm với một chính khách cầm đầu ngành Ngoại giao của một nước lớn; nhưng qua đó, để chúng ta thấy được thói ngạo mạn, Đại Hán… đã ăn sâu trong tiềm thức của giới lãnh đạo Bắc Kinh từ cổ đến kim vẫn không có gì thay đổi; đồng thời cũng là “cơ hội” để nước Mỹ và thế giới thấy được bộ mặt thật của cái gọi là “phát triển hài hòa”, “tình hình Biển Nam Trung hoa vẫn ổn định” v.v.. mà Trung Quốc đã rất thành công, và bằng nhiều thủ đoạn đã lừa phỉnh được các quốc gia trên thế giới.

Và hôm nay, Bà đã trở lại, vẫn hào hoa, xinh đẹp vốn có; nhưng cũng rất mạnh mẽ của một người thông thái… Bà mang đến Hội nghị cấp cao Đông Á lần này, một thái độ trước sau như một của Hoa Kỳ trong các vấn đề khu vực, đã tạo nên sự thành công của Hội nghị nói chung và Việt Nam nói riêng.

Có thể nói, những ai là người Việt Nam ngày đêm đau đáu với ngư dân đang đối mặt với bọn hải tặc nhà nước Trung Quốc trên vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam nói riêng, trên Biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nói chung; phát biểu của bà Ngoại trưởng Hillary Clinton sau hai lần Bà đến Hà Nội chỉ trong thời gian ngắn, như là một là một luồng gió mát, giữa không gian ngột ngạt do Trung Quốc cố gắng tạo ra xung quanh vấn để Biển Đông có thêm hy vọng và thậm chí biết được đích đến của vấn đề, dẫu còn nhiều gian nan ở phía trước!?

Như là một định mệnh của lịch sử, trong lúc tham vọng của Bắc Kinh đang hồi tưởng như cao ngất và có thể đạt được ý muốn bằng “giải pháp song phương”, thì chính phát biểu của Bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ, như là một lời cảnh báo đanh thép, dựa trên một sức mạnh thực lực để đảm bảo cho lời “cảnh cáo” ấy.

Có thể nói rằng, chính nghĩa luôn luôn đứng về phía dân tộc Việt Nam, và quan trọng nhất, đó là lý do để dân tộc Việt Nam ta luôn luôn chiến thắng và là cơ sở để tồn tại, dẫu có hàng ngàn năm bị đồng hóa.

Giữa lúc Việt Nam đang trong thế yếu(!?), giặc đang mạnh, thì cá nhân bà Ngoại trưởng và nước Mỹ lại có mặt đúng lúc, quả là nhân duyên lịch sử!

Không có gì hơn, xin gửi đến Bà lời cảm ơn của một công dân Việt Nam; chúc Bà Ngọai trưởng có một chuyến đi châu Á dài ngày thành công, xứng đáng với niềm tin mà Ngài Tổng thống tài năng Barak Obama đã giao phó cho Bà!

Chúc nước Mỹ thịnh vượng và có quan hệ tốt đẹp với Đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam; mà đã bao lần lịch sử đã bị bỏ lỡ!

Xin gửi lời chúc sức khỏe đến Cựu Tổng thống Bill Clinton và vợ chồng Chelsea lời chúc sức khỏe và hạnh phúc!

01.11.2010 - 23.7.2011
------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2011

Tái ngộ Mỹ - Việt

 
Le Monde Diplomatique (Thế giới Ngoại giao) là một nguyệt san đẳng cấp cao ở nước Pháp và là một trong những nguồn tư liệu làm việc khó thiếu của giới vạch chính sách đối ngoại không những ở nước nó xuất bản mà còn ở tất cả các nước phương Tây khác. Nó cũng là ưu tiên được tham khảo của các giới chính trị và trí thức nói chung tại các quốc gia còn lại trên toàn thế giới.

Bài viết của Xavier Monthéard nhan đề Retrouvailles des Etats-Unis et du Vietnam (Tái ngộ Mỹ - Việt) số phát hành tháng 6/2011 vừa qua là một tác phẩm báo chí khá hoàn thiện về mặt thông tin và các kiến giải. Bởi trong nó chất chứa thật nhiều tài liệu, tư liệu và các sự kiện lịch sử trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ mấy chục năm qua cũng như cách nhìn nhận và lập luận độc đáo của bài viết. Có thể ở đây chưa mấy quen thuộc và "vừa tai" với một số người trong chúng ta, nhưng với tính khách quan và sự lô-gich của một ngòi bút có nghề như X. Monthéard, bài viết của tác giả này rất đáng cho người đọc Việt Nam - bao gồm chính giới, trí thức và nhất là các nhà báo hành nghề - nghiên cứu và tham khảo.

VỆ NHI g-th

--------

Tái ngộ Mỹ - Việt

RFI / 15-7-11

Tuấn Thảo / Đức Tâm

Bài "Tái ngộ Mỹ-Việt" (Retrouvailles des Etats-Unis et du Vietnam) của Xavier Monthéard, được đăng trên nguyệt san Le Monde Diplomatique, tháng Sáu 2011, đã bị kiểm duyệt tại Việt Nam *. RFI xin giới thiệu bản dịch.
--------
* Nêu sự việc "bị kiểm duyệt" này, tôi (Vệ Nhi) chưa có điều kiện kiểm chứng.
36 năm sau chiến tranh: Tái ngộ Mỹ - Việt

Bản báo cáo bí mật mang tựa đề ‘‘Quan hệ Mỹ-Việt, 1945 – 1967’’, vốn tiết lộ những lời giả dối của chính quyền Mỹtrong việc đưa quân tham chiến Việt Nam , vừa được giải mật để cho công chúng được quyền tham khảo. Về phía mình, chính quyền Hà Nội đã lật qua trang sử. Hơn thế nữa, mùa hè vừa qua, các cuộc tập trận hỗn hợp Mỹ-Việt diễn ra ngay tại nơi mà những người lính GI đầu tiên đã đổ bộ cách đây hơn 40 năm…


* * *


Bán đảo Cam Ranh, ở miền trung Việt Nam (*). Trời gió lộng làm nhấp nhô cụm sóng trên biển “Hoa Nam ” mà người Việt gọi là “Biển Đông”. Bị thu hẹp bởi hàng rào kẽm gai, một con đường ngoằn ngoèo dẫn đến căn cứ hải không quân mà quân đội Hoa Kỳ đã dựng lên trong thời chiến tranh Việt Nam . Các đồn lính cũ kỹ, tựa như một lớp áo, được khoác lên mảnh đất khô cằn trơ trụi. Binh lính và nhân viên hải quan thơ thẩn qua lại. Bến cảng quân sự không tiếp đón khách thăm viếng, mà họ có đến thì để làm gì ? Từ nhiều năm qua, hoạt động ở vịnh Cam Ranh diễn ra chầm chậm.


Tháng 10 năm 2010, Cam Ranh như thể bừng tĩnh sau giấc ngủ uể oải : Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố mở cảng Cam Ranh để tiếp đón tàu thuyền của tất cả các nước. Hoa Kỳ là ứng viên. Kể từ năm 2003, khoảng một chục chiến hạm Mỹ đã ghé vào các cảng của quốc gia cựu thù. Lần này, những người lính của Chú Sam, không vũ khí cũng như không hành trang,đã thực sự trở lại xứ sở của Bác Hồ - với tư cách là thượng khách. Mọi chuyện diễn ra như thể những năm tháng chiến tranh, do 5 vị chủ nhân Nhà Trắng (1) liên tục tiến hành không còn nằm trong ký ức Việt Nam. 20 năm xung đột khốc liệt, ghê rợn kết thúc vào tháng Tư năm 1975 với việc chiếm được Sài Gòn, nhưthể bị lãng quên, người ta dường như cũng quên cả thái độ sau đó của chàng khổng lồ bị làm nhục, quyết tâm phong toả viện trợ quốc tế đối với một chú lùnđã đánh bại mình và cấm vận thương mại đã được duy trì cho đến năm 1994.

Khu trục hạm “USS John S. McCain”ghé cảng Đà Nẵng


Vào tháng 8 năm 2010, cuộc đối thoại quốc phòng Mỹ-Việt đầu tiên diễn ra tại Hà Nội. Trong cùng tháng, ở ngoài khơi Đà Nẵng – ngay tại nơi mà những người lính Mỹ đầu tiên đổ bộ vào năm 1965 – các sĩquan cao cấp của Việt Nam ra biển tham quan tàu Mỹ USS George Washington, biểu tượng hàng đầu của hạm đội Bẩy và là một trong 11 hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ.Trong khi đó, khu trục hạm USS John S. McCain thì thả neo ở Đà Nẵng. Tại Hà Nội, tên của ông John McCain, ứng viên đảng Cộng Hoà ra tranh cử tổng thống Mỹnăm 2008, không còn làm chói tai. Nguyên là phi công oanh tạc cơ, và như vậy bịxem như là ‘‘một tội phạm chiến tranh’’, theo như lời ông nói sau nay, ông John McCain đã bị cầm tù trong vòng 5 năm rưỡi tại Việt Nam . Được trao tặng huân chương chiến công vì những nỗi thống khổ phải chịu đựng trong lúc bị bắt, ông trởthành một vị anh hùng đối với một bộ phận công luận Mỹ.


Tàu chiến TQ diễu võ giương oai ở vùng Biển Đông

Tính chính đáng này đã giúp cho ông John McCain thuyết phục được phe bảo thủ, giúp cho tổng thống đảng Dân Chủ Bill Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Không thù oán, phía Việt Nam quan tâm đến giai đoạn sự nghiệp sau này của ông McCain. Và các bức ảnh chụp tổng thống Bill Clinton nhân chuyến viếng thăm Việt Nam lần đầu tiên vẫn được treo tại cửa hàng bán thức ăn nhanh tại thành phố Hồ Chí Minh… Còn giờ đây, vợ của vịtổng thống này, bà Ngoại trưởng Hillary Clinton thì hoan nghênh về chặng đường mà hai nước đã trải qua: “Thay vì là cựu thù, chúng ta đã biết coi nhau như là những đối tác, đồng nghiệp và bạn hữu. Chính quyền Obama sẵn sàng nâng quan hệMỹ-Việt lên một tầm mức cao hơn (2)”.

Nhìn từ phía Hà Nội, việc xích lại gần Hoa Kỳ trước hết là theo logic kinh tế. Từ khi hiệp định thương mại song phương có hiệu lực vào năm 2001, trao đổi mậu dịch giữa hai nước gia tăng đều đặn. Vào năm 2000, trao đổi thương mại ở mức 1 tỷ đô la, đến năm 2010, thì đã lên đến 18,3 tỷ đô la. Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam, bà Jocelyn Trần, nhắm tới mục tiêu 35 tỷ đô la từ đây cho đến năm 2020 (3). Cán cân thương mại nghiêng hẳn về phía Hà Nội, các xuất khẩu sang Hoa Kỳ, - chủ yếu là hàng may mặc và giầy dép – mang về cho Việt Nam 14,8 tỷ đô la năm 2010, tương đương hơn một phần năm tổng thu nhập từ bên ngoài.

Mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với Washington giúp cho Việt Nam hội nhập vào hệ thống thương mại quốc tế. Vào năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Từ đó trở đi, mức bình quân thu nhập hàng năm tính theo đầu người vượt qua ngưỡng một ngàn đô la. Theo cách tính của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam được xếp vào danh sách các quốc gia có mức thu nhập trung bình.

Cái giá phải trả của sự khởi đầu phồn thịnh này là cần phải lật qua trang sử với 3 triệu người chết trong chiến tranh, các khu vực đất đai bị tàn phá, các gia đình bị tan nát. Để làm việc này, cần phải suy nghĩ kỹ và viết lại ký ức. Theo nhà sử học Wynn W. Gadkar-Wilcox, “Sau năm 1990, các nhà nghiên cứu Việt Nam bắt đầu giảm nhẹ tầm quan trọng của thời kỳ1954-1975, trong quan hệ với Mỹ, và ưu tiên đề cập đến giai đoạn 1941-1945. Trong giai đoạn này, Hoa Kỳ đã hợp tác với Việt Minh, và nhiều thành viên của cơ quan tình báo OSS (Office of Strategic Services, tiền thân của CIA) đã có quan hệ gắn bó cá nhân với ông Hồ Chí Minh. (…) Dựa vào các tập nghiên cứu của ông Robert Hopkins, mang tựa đề Hoa Kỳ và Việt Nam, 1787-1941, chuyên gia Phạm Xanh đã nhấn mạnh đến sự quan tâm của tổng thống Mỹ Thomas Jefferson (1801-1809) đối với các vụ lúa tại miền nam Việt Nam, cũng như nhiều cuộc thám hiểm mà Mỹ đã thực hiện tại Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ XIX (4).”

Một nửa dân số Việt Nam dưới 26 tuổi. Quá khứ chiến tranh đối với họ rất xa vời và hình ảnh của Hoa Kỳ tạo trong tâm trí của họ niềm say mê. Sức quyến rũ đó không chỉ xuất phát từ đồngđô la xanh, mà còn nảy sinh từ “Giấc mơ kiểu Mỹ”: ai cũng có thể làm giàu nếu chịu khó và quyết tâm làm việc. 13 ngàn du học sinh - một kỷ lục đối với các nước Đông Nam Á - đã ghi tên vào một trường đại học ở phía bên kia bờ Thái Bình Dương.


Thỏa thuận đang thai nghén trong lĩnh vực hạt nhân dân sự


Miền nam Việt Nam , do lịch sử, rất sẵn sàng đón tiếp các đầu tư bằng đô la. Việc tập đoàn khổng lồ Intel chuyên sản xuất mạch vi xử lý đặt một nhà máy ở ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh (trước kia là Sài Gòn) có giá trị biểu tượng : đó là cơ sở lắp ráp và kiểm tra lớn nhất của tập đoàn này trên thế giới, với tổng đầu tư ước tính 1 tỷ đô la. Trên một blog của website thuộc doanh nghiệp này, ngay từ tháng 9 năm 2009, người ta có thể đọc thấy hàng chữ “We are back in Saigon !”(“Chúng tôi trở lại Sài Gòn”)…


Hành động xấu chơi của TQ, cũng là sự vi phạm chủ quyền của VN 

Mối diễm tình này không có nghĩa là không còn một vài tỵ hiềm, bởi vì Hoa Kỳ ngay lập tức đã tự coi mình là những người bảo vệ nhân quyền. Trong năm 2010, 80 người đã bị bắt – trong số này 14 người bị kết án – vì đã bày tỏ quan điểm trái ngược với đường lối của đảng Cộng sản. Nhiều nhà báo và viết blog nằm trong số này. Trong một cuộc họp báo được tổchức tại Hà Nội, ngày 10/12/2010, đại sứ Mỹ Michael W. Michalak đã nhẹ nhàng tuyên bố “rất tiếc, trong ba năm nhiệm kỳ của tôi, những tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền còn không đồng đều”.

Ở mặt đối lập, kỷ niệm sống động về sự dính líu của các tổ chức Mỹ trong các “cuộc cách mạng mầu” tại Đông Âu, nuôi dưỡng sự nghi kỵ. Phải chăng sẽ không khuyến khích một kịch bản “diễn biến hòa bình”,mà đối với Hà Nội, đồng nghĩa với ý đồ gạt bỏ chế độ và bản sắc văn hóa Việt Nam ?

Thế nhưng, những đụng chạm này chỉ là một sự phản ánh nhạt nhòa những thù hận trong quá khứ. Thậm chí, năm 2011 có thể sẽchứng kiến hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Một thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực hạt nhân dân sự đang được hoàn tất. Bản thỏa thuận liên quanđến việc chuyển giao công nghệ và phát triển các cơ sở hạ tầng, mở cửa cho các doanh nghiệp Mỹ tiếp cận với một thị trường hứa hẹn : Việt Nam mong muốn xây dựng 13 nhà máy điện hạt nhân, với tổng công suất là 16 000 MW, trong 20 năm tới. Các điều khoản của bản thỏa thuận không cấm việc làm giàu uranium – cho phép, về mặt lý thuyết, thực hiện một chương trình hạt nhân quân sự - trong khi Hoa Kỳ thường xuyên gây sức ép buộc các nước khác từ bỏ quyền được làm giàu uranium như vậy. Nhiều nhà bình luận đã so sánh các điều khoản này, có lợi cho Việt Nam , với các điều khoản của bản thỏa thuận Ấn Độ - Hoa Kỳ về hạt nhân năm 2007 (5).
 
Tuy nhiên, ông Brahma Chellaney (6), giámđốc Trung tâm Nghiên cứu Chính trị New Delhi cũng giảm thiểu những điểm đồng nhau này : “Do Ấn Độ không phải là thành viên hiệp ước không phổ biến hạt nhân (TNP), nước này phải chịu nhiều hạn chế đặc biệt chiếu theo luật lệ của Mỹ. Do vậy, chính phủ Mỹ cần phải có được một sự miễn trừ đặc biệt từ phía Quốc hội. Trong trường hợp của Việt Nam , nước ký kết TNP, một sự đòi hỏi như vậy không cần thiết. Vả lại, vì Ấn Độ là một quốc gia có vũ khí nguyên tử, thỏa thuận song phương cần phải được xây dựng một cách chuyên biệt.”

Như vậy, hai thỏa thuận này gần giống nhau là do mục đích của chúng chứ không phải do bản chất. Ông Chellaney thẩm định :“Hoa Kỳ sử dụng các thỏa thuận hạt nhân ký với Ấn Độ và Việt Nam như một công cụ chiến lược để xây dựng một sự hợp tác thân thiết”. Do đó, Việt Nam chắc chắn sẽ có được một thỏa thuận tốt nhất trong nhóm “các quốc gia hạt nhân trỗi dậy”,đó là những nước vừa mới bắt đầu thực hiện một chương trình hạt nhân dân sự.Ngược lại với trường hợp Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, ví dụ thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất năm 2009 ghi rõ Tiểu vương quốc này từ bỏ quyền làm giàu uranium trên lãnh thổ của mình. Phải chăng “nhất bên trọng, nhất bên khinh ?” Khi còn là phát ngôn viên bộ Ngoại giao, ông Philip J.Crowley đành phải nói rằng “Hoa Kỳ đàm phán những hiệp định như vậy theo từng trường hợp, đối với từng nước, từng vùng (7)”.

“Một hoàn cảnh mong manh như vỏ trứng”


Đối với Washington , việc củng cố các quan hệ quân sựvà hợp tác hạt nhân có một mục tiêu : đó là duy trì sự ưu thế của Mỹ tại Thái Bình Dương. Do vậy, trong năm 2010, Hoa Kỳ đã bán 6 tỷ đô la thiết bị quân sựcho Đài Loan ; thông báo nối lại mối quan hệ với lực lượng đặc biệt Indonesia (Kopassus), cho dù lực lượng này có dính líu đến những vụ tàn sát ở Timor, Aceh và Papua ; bảo vệ quyền tự do lưu thông ở Biển Đông và coi đây là lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ, theo lời bà Ngoại trưởng Clinton ; tiến hành các hoạt động quân sự chung với Hàn Quốc ở Hoàng Hải ; khi xẩy ra va chạm tại vùng quần đảo Điều Ngư/Senkaku mà Trung Quốc và Nhật Bản đều coi thuộc chủ quyền của mình, Hoa Kỳ đã nhắc lại rằng Nhật Bản sẽ được hậu thuẫn nếu cần thiết, theo tinh thần hiệp ước phòng thủ chung.


Tham lam với bản đồ đường lưỡi bò


Đa số các biện pháp này, nếu không nói là tất cả, đều nhằm đối phó với sự lớn mạnh của Trung Quốc : sự bật dậy của đế chếTrung Hoa tất đương nhiên dẫn đến việc Hoa Kỳ nâng cao giá trị chiến lược của các quốc gia láng giềng với Trung Quốc. Tạp chí Mỹ về Quốc phòng 2010, bốn năm ra một lần (US Quadrennial Defense Review 2010) nói đến Indonesia, Malaysia và Việt Nam như là những đối tác tiềm tàng trong lĩnh vực an ninh. Ông Kurt Campbell, trợ lý Ngọai trưởng phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương còn nói rõ hơn : “Khi nhìn vào tất cả những quốc gia bạn bè của chúng ta ở Đông Nam Á, tôi nghĩ rằng chính với Việt Nam mà chúng ta sẽ có những triển vọng tốt đẹp nhất” (8). Đối với cường quốc Hoa Kỳ,lại một lần nữa, đất nước này là một con tốt cần thiết, nhưng lần này, không phảiđể chống chủ nghĩa cộng sản, mà chống lại cái gọi là chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc.

Mối ám ảnh này có được sự đồng thanh. Từnhiều thế kỷ qua, Việt Nam xoay trong quỹ đạo của đế chế Trung Hoa đồng thời tìm cách thoát ra khỏi sức hút của nó. Sự phụ thuộc về kinh tế của Việt Nam vẫn còn rất lớn – nhập khẩu từláng giềng phương Bắc chiếm một tỷ lệ cực kỳ cao. Do vậy, ông Carlyle Thayer, giáo sư danh dự tại đại học Souh New Wales, Canberra, chuyên gia về Việt Nam, đánh giá rằng “không một nước nào có thể tự tin và có ảnh hưởng như Trung Quốc trong quan hệ với Hà Nội (9)”. Về cơ bản, ngoại giao Việt Nam tìm cách hòa thuận với càng nhiều nước càng tốt để thoát ra khỏi Bắc Kinh, nhưng đồng thời lại muốn duy trì quan hệ ưu tiên với nước láng giềng lớn – đây là mối bận tâm mà ngoại giao Việt Nam chia sẻ với nhiều nước Đông Nam Á. Cựu đại sứ Đinh Hoàng Thắng không coi nhẹ những khó khăn : “Nếu Việt Nam có thể thuyết phục được Trung Quốc rằng việc cải thiện quan hệ Mỹ-Việt sẽ không ảnh hưởng đến các quyền lợi của nựớc thứ ba, thì đó sẽ là một thành công lớn (10)”.

Công việc này cũng không phải là dễ dàngđối với Mỹ. Ông Brantly Womack, giáo sư Quan hệ Quốc tế tại đại học Virginia Hoa Kỳ (11) nhắc lại rằng “sự xa cách giữa Hoa Kỳ và châu Á và mối quan hệ song song của Mỹ vừa với Trung Quốc vừa với Việt Nam tiếp tục làm biến dạng sự hiểu biết về mối quan hệ song phương này”. Phía Trung Quốc cũng đưa ra những mệnh lệnh đôi khi mạnh mẽ : “Việt Nam phải hiểu rằng, bị kẹp giữa hai cường quốc, họ đang chơi một trò chơi nguy hiểm, với hoàn cảnh vừa bấp bênh vừa mong manh nhưvỏ trứng”, người ta có thể đọc thấy những dòng này trên Nhân dân nhật báo, cơquan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc (…) “Nếu Trung Quốc và Việt Nam thực sự dẫn đến đối đầu quân sự với nhau, thì không có một tàu chở sân bay nào, của bất kỳ một nước nào, có thể bảo đảm an ninh cho Việt Nam”.(12)

Một cuộc tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông liên quan đến quần đảo Hoàng Sa – Paracels và Trường Sa – Spratleys đã tích tụvào cuối thế kỷ XX (13). Cho dù vừa qua đã củng cố hạm đội của mình, Hà Nội không thể tranh đua với hải quân Trung Quốc. Do vậy, theo phân tích của ông Richard Bitzinger, chuyên gia về các vấn đề quốc phòng tại châu Á-Thái Bình Dương, “Việt Nam muốn thấy có nhiều quốc gia hơn nữa can thiệp vào Biển Đông. Đối với Việt Nam , đây sẽ là một sự bảo vệ. Việt Nam cũng muốn nhận được sự hỗ trợ để mở rộng và hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng của cảng trong vịnh Cam Ranh. Tôi nghĩ rằng hải quân Mỹ sẽ tranh thủ vị trí chiến lược này, hải quân các nước khác cũng sẽ làm như vậy – đương nhiên, chỉ có hải quân Trung Quốc là sẽ vắng mặt !»
 
 
Cuộc xung đột 1979 với Bắc Kinh bịbỏ qua

Liệu một ngày nào đó, người ta sẽ thấy Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam chống lại đế chế Trung Hoa ? Quả sẽ là trớ trêu quá mức, nếu như người ta nhớlại rằng sau khi tuyên bố độc lập ngày 2/09/1945, Trung Quốc của Mao Trạch Đông là nước đầu tiên công nhận nền dân chủ cộng hòa non trẻ này, vào tháng Giêng năm 1950, trước Liên Xô khoảng 12 ngày… Giữ cân bằng giữa hai nước bảo trợ cộng sản, mà 2 nước này sau đó lại trở thành đối thủ của nhau, là một phương trình mà Hồ Chí Minh và những người kế tục ông đã giải quyết thành công trong 25 năm. Viện trợ của Liên Xô đã biến mất khi chiến tranh lạnh kết thúc. Cuộc xung đột công khai giữa Việt Nam và Trung Quốc vào cuối những năm 1970, đã trở thành vấn đề húy kỵ nhất trong chính sách đối ngoại. Hơn 30 năm sau khi xẩy ra cuộc xung đột, vẫn không thểnào nói đến cuộc chiến tranh ngắn ngủi trong tháng Hai tháng Ba năm 1979 đã làm hàng chục ngàn người thiệt mạng. Báo chí cũng như sách giáo khoa không nói đến cuộc chiến tranh này. Về mặt chính thức, tất cả mọi việc đều tốt đẹp với Bắc Kinh.


Hải quân Việt Nắmnx sàng bảo vệ Tổ quốc


Lịch sử đã cho thấy những nguy hiểm đối với Việt Nam khi nước này rơi vào những tính toán địa-chính trị của những siêu cường láng giềng. Ỏ Hà Nội, liệu có ai sẽ quên điều này ? Nhà ngoại giao Hoàng Anh Tuấn vừa nhắc lại rằng Việt Nam “là nước duy nhất trên thế giới đã tiến hành những cuộc đàm phán dồn dập và kéo dài với Hoa Kỳ (…) Cho dù lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau đã có những tiến triển đáng kể, nhưng không có gì bảo đảm là những hiểu nhầm chiến lược lại không xuất hiện (…) Do vậy, quan hệ song phương chỉ có thể được thiết lập một cách bền vững trên cơ sở bình đẳng nếu như mối bang giao này được xây dựng nhằm phục vụ các lợi ích quốc gia của Việt Nam cũng như của Hoa Kỳ, chứ không chỉ nhằm phục vụ các lợi ích địa – chính trị của một bên.(14)”. Hiện nay, có nhiều điềm tốt. Thế nhưng “sự hung dữ của vị trí địa lý (15) có thể vẫn chưa thôi định hướng số phận quốc gia Việt Nam .

* * *

Chú thích


(*) Trong bài, tác giả viết là Cam Ranhở miền nam Việt Nam

(1) Dwight Eisenhower (giữa 1954 và 1961), John F. Kennedy (1961-1963), Lyndon B. Johnson (1963-1969), Richard Nixon (1969-1974) et Gerald Ford (giữa 08/1974 và 04/1975).

(2) Diễn văn đọc tại Hà Nội, ngày 21/07/2010 bên lề cuộc gặp lần thứ 43 cấp Ngoại trưởng Hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN.


(3) Báo Tuổi Trẻ, Hà Nội, 20/12/2010.


(4) Wynn W. Gadkar-Wilcox, “Mối quan hệkhông rõ ràng : Những ấn tượng về Hoa Kỳ trong giảng dậy lịch sử tại Việt Nam 1989 – 2009 - An ambiguous relationship : Impressions of the United States in Vietnamese historical scholarship, 1986-2009”, World History Connected, tập 7, n° 3, Washington , DC , 10/2010.


(5) Đọc Siddharth Varadarajan, “Ấn Độkhao khát được thừa nhận”, Le Monde diplomatique, 11/ 2008.


(6) Tác giả của cuốn “Sức mạnh châu Á: Sự vươn lên của Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản”, HarperCollins , New York , 2006. Ngoại trừ có chỉ dẫn ngược lại, tất cả những trích dẫn của các nhà phân tích đều xuất phát từ các cuộc trao đổi.


(7) Được trích dẫn trong bài của Daniel Ten Kate và Nicole Gaouette, “Hoa Kỳ, Việt Nam tiến hành các cuộc đàm phán vềcông nghệ hạt nhân như là những đối tác tranh giành hợp đồng”, Bloomberg, 06/08/2010.


(8) Agence France-Presse, 07/2010.


(9) Carlyle Thayer, “Quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc và Hoa Kỳ”, hội thảo được tổ chức tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 10/12/2010.


(10) Phỏng vấn dành cho VietNamNet (ấn bản điện tử), 17/02/2010.


(11) Brantly Womack, “Hoa Kỳ và mối quan hệ Trung-Việt”, The Asia-Pacific Journal: Japan Focus (ấn bản điện tử), 2008.


(12) Lý Hồng Mai, “Khuyên Việt Nam không nênđùa với lửa”, Nhân dân nhật báo, Bắc Kinh, 17/08/2010.


(13) Trung Quốc dùng quân đội chiếmđóng quần đảo Hoàng Sa từ tháng Giêng 1974 nhưng Việt Nam và Đài Loan vẫn đòi hỏi chủ quyền của mình ở đây. Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Philippines vàĐài Loan chiếm đóng các đảo khác nhau trong quần đảo Trường Sa ( Brunei có đòi hỏi chủ quyền nhưng không đưa quân đội đến đây). Phân tích về các vấn đề chính trị và tìm kiếm giải pháp, xem Stein Tønnesson, trong “Những thay đổi sắp tới của Trung Quốc tại biển Hoa Nam ”,Harvard Asia Quarterly, Cambridge ( Massachusetts ), 12/2010


(14) Hoàng Anh Tuấn, “Sự nhích lại gần nhau giữa Việt Nam và Hoa Kỳ: Một câu trả lời”, Contemporary Southeast Asia , tập. 32, n° 3, Singapour, 2010.


(15) Carlyle Thayer, “Sự hung dữ của vịtrí địa lý : Những chiến lược của Việt Nam nhằm kiềm chế Trung Quốc tại biển Hoa Nam », International Studies Association, Montréal, 03/2011.



Nguồn:
http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20110715-tai-ngo-my-viet
------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này