++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tống Văn Công. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tống Văn Công. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Tống văn Công: Nghĩ về Libya

30/08/2011

Nghĩ về Libya

Tống văn Công

imageSáng nay, 29-8-2011, một tờ báo lớn có bài Ba điểm yếu của cuộc chiến Libya: 1- Bộc lộ yếu kém của NATO; 2- Lãnh đạo mới có thể không tốt hơn cũ; 3- Quá phụ thuộc vào NATO. Hôm kia, 27-8-2011, một nhà bình luận tên tuổi của báo chí Việt Nam đặt ra 2 “câu hỏi lớn”: Một là vai trò NATO, ngoài chuyện không kích và phong tỏa không phận, còn có gì nữa chưa được biết? Hai là, tại sao ông Gaddafi để mất Tripoli quá dễ dàng, nhanh chóng đến thế?

Thật kinh ngạc vì sự tổng kết cuộc chiến và câu hỏi lớn nhất của các nhà báo nước ta!

Các nền báo chí tự do của thế giới từng ngày có những quan điểm trái nhau. Ngay các nước tích cực trợ giúp quân sự cho quân nổi dậy, nhà báo của họ từng ngày có ý kiến phản biện với chính phủ. Trong khi đó, báo chí chúng ta quen chọn ý kiến của một phía thích hợp với khẩu vị mình, tự đánh lừa, cuối cùng bị bối rối khi sự thật diễn ra nhanh chóng và hoàn toàn trái ngược! Bạn đọc cũng bị “định hướng” của nhà báo đánh lừa!

Ngày 21-8, khi nghe tin quân nổi dậy Libya tràn vào thủ đô Tripoli, mấy bác cạnh nhà tôi đều ngạc nhiên không tin! Bởi mới cách đây đúng một tuần nhiều tờ báo của Việt Nam miêu tả “quân nổi dậy đang rối như canh hẹ” mà! Đêm nào trên Truyền hình cũng thấy nhân dân tung hô ông Gaddafi. Nhiều nhà bình luận Việt Nam gọi đây là “cuộc chiến tranh dầu lửa” hàm ý cho rằng nó xảy ra là do sự kích động của các đầu óc thực dân phương Tây. Một nhà bình luận tên tuổi cho rằng nhiều quan chức cao cấp của chính quyền Gaddafi chạy sang quân nổi dậy là do truyền thông Phương Tây chiếm ưu thế. Ngày 24-8-2011, khi đã có hơn 40 chính phủ công nhận Hội đồng quốc gia chuyển tiếp Libya là đại diện hợp pháp duy nhất của nước Cộng hòa Libya, ngay Trung Quốc cũng tỏ ý mong muốn được hợp tác với chính quyền mới thì VN Express còn gọi họ là “phiến quân”! Đến ngày 25-8, nhiều tờ báo vẫn còn nghi vấn “Phe đối lập đáng tin đến đâu”; “Đây là thời điểm các phe phái trong quân nổi dậy bộc lộ mâu thuẫn nhau”; và “hơn 5000 người có vũ trang trung thành với Gaddafi đã kéo vào Tripoli”. Như vậy là theo các nhà bình luận Việt Nam thì nội chiến sẽ còn kéo dài ở Libya không biết tới bao giờ! Buổi truyền hình tối 28-8, một nhà bình luận tỏ ý bất bình về sự can thiệp thô bạo từ bên ngoài đối với nước Libya có chủ quyền và lo lắng cho số phận nhà nước Syria đang khủng hoảng.

Thiết nghĩ, nhìn lại diễn biến 6 tháng qua ở Libya cũng là điều bổ ích.

Từ một anh hùng trở thành tên độc tài tham nhũng!

Năm 1969, Gaddafi làm đảo chính lật đổ chế độ quân chủ lập nên chế độ Nhân dân xã hội chủ nghĩa Ả rập, với những khẩu hiệu “Phúc lợi xã hội”, “Dân chủ nhân dân trực tiếp”, đưa đất nước nghèo nàn trở thành giàu có, thu nhập đầu người hơn 10 lần nước ta hiện nay. Tuy nhiên, ông ta cũng nhanh chóng trở thành tên độc tài và ở ngôi vị 42 năm, lâu hơn các ông vua trước đó.

Ngày 31-8-2006, ông tuyên bố: “Phải tiêu diệt những kẻ đòi thay đổi chính trị”. Ngày 29-8-2009, ông tự phong: “Ta là một lãnh tụ quốc tế, thầy của các ông chủ Ả rập, vua của mọi nhà vua châu Phi, trưởng lão của người Hồi giáo và có tư cách cao quý không cho phép hạ thấp hơn”.

Tháng 9-2009, ở Hội nghị thượng đỉnh Nam Mỹ ông cùng Hugo Chavez kêu gọi thành lập “NATO phương Nam”. Cũng năm đó, tại Hội nghị thượng đỉnh Liên đoàn Ả rập ông tuyên bố mình là “Nhà lãnh đạo của các nhà lãnh đạo Ả rập”.

Ông bổ nhiệm con cái vào các vị trí cao cấp trong hệ thống cầm quyền. Ông tổ chức ám sát hơn 30 người đối lập sống ở nước ngoài. Libya hai lần tổ chức đánh bom máy bay hành khách của Mỹ và Pháp giết chết hằng trăm người. Gaddafi sở hữu gia sản khổng lồ gần trăm tỷ USD, riêng bà vợ thứ hai của ông sở hữu 30 tỷ USD và 20 tấn vàng.

Sự chuyển động ở Libya bắt đầu từ ngày 15-2-2011, khi 200 người dân ở thành phố Benghazi biểu tình yêu cầu trả tự do cho nhà hoạt động nhân quyền Fathi Terbi, bị đàn áp. Hôm sau, số người biểu tình tăng lên 500, rồi 600 người. Cảnh sát nặng tay hơn, đánh bị thương 40 người. Hằng ngàn nhân dân Thủ đô Tripoli và thành phố Al-Baida xuống đường yểm trợ cuộc biểu tình của thành phố Benghazi.

Ngày 20-2 cảnh sát và quân đội Gaddafi bắn chết 200 người. Các thành phố Misurata, Tobruk… tham gia biểu tình.

Ngày 21-2 chính phủ Gaddafi cho không quân bắn vào người biểu tình.

Ngày hôm sau, 22-2, ông Mustafa Abdel Jalil, Bộ trưởng Tư pháp và tiếp theo là ông Abdel Fatah Younes Bộ trưởng Nội vụ tuyên bố ly khai chính quyền Gaddafi, đứng về phía nhân dân. Các chính phủ Mỹ và châu Âu lên tiếng phê phán việc đàn áp biểu tình.

Ngày 24-2, Gaddafi lên đài truyền hình cho rằng các thế lực thù địch ở phương Tây đang xúi giục bọn xấu trong nước gây rối.

Hôm sau, Gaddafi cho lính đánh thuê tràn vào Tripoli thẳng tay đàn áp và tiếp tục cho không quân bắn vào nhân dân biểu tình ở các thành phố.

Ngày 26-2 máy bay bắn vào đám tang của người biểu tình bị bắn chết, giết nhiều người đưa tang.

Ngay hôm sau, 27-2 Hội đồng Quốc gia chuyển tiếp (NTC) tuyên bố thành lập do nguyên Bộ trưởng Tư pháp Mustafa Abdel Jalil làm Chủ tịch. Ngày 28-2 Gaddafi lên truyền hình tuyên bố: “Không có quân nổi dậy nào cả, chỉ có những kẻ xấu bị các thế lực thù địch nước ngoài xui giục. Tất cả người dân Libya của tôi đều yêu tôi” (Đài truyền hình VTV1 có phát cảnh này).

Ngày 5-3 Hội đồng Quốc gia chuyển tiếp tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Libya với tiêu chí Tự do, Công bằng, Dân chủ.

Ngày 10-3 Pháp là quốc gia đầu tiên công nhận Hội đồng chuyển tiếp là đại diện hợp pháp của nhân dân Libya.

Chính quyền Gaddafi tăng cường cho không quân tiếp tục đàn áp dữ dội các vùng nhân dân nổi dậy.

Ngày 17-3 Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ra nghị quyết 1973, cho phép lập vùng cấm bay ở Libya để bảo vệ dân thường. Từ 31-3 NATO nhận nhiệm vụ này. Nhiều nhà bình luận tiến bộ đã nhận định rằng “Số phận của Gaddafi đã được định đoạt rồi”! Rất tiếc các nhà bình luận của báo chí Việt Nam không ai nhận ra điều đó!

Nhờ có sự yểm trợ của không quân NATO, quân nổi dậy liên tiếp giành chiến thắng, chỉ trong bốn tháng rưỡi, ngày 21-8 đã tiến vào Tripoli được đông đảo nhân dân nổi dậy trợ giúp.

Ngày 26-8 Hội đồng quốc gia chuyển tiếp (NTC) đã về thủ đô Tripoli im tiếng súng. Ông Gamaty điều phối viên của Hội đồng Quốc gia chuyển tiếp tuyên bố: “Sớm hay muộn gì Gaddafi cũng bị bắt”.

Một cuộc cách mạng dân chủ hay chỉ là sản phẩm của phương Tây?

Từ 2003, Gaddafi đã lần lượt cải thiện quan hệ tốt lên với các nước lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Ý… Gaddafi thừa nhận các vụ đánh bom máy bay hành khách và chịu bồi thường những khoản tiền lớn.

Năm 2004, Thủ tướng Anh Tony Blair, Thủ tướng Đức Gerhard Schoder đến thăm Libya, ký kết nhiều hợp đồng khai thác, chế biến dầu mỏ.

Năm 2006 Gaddafi tuyên bố từ bỏ chương trình vũ khí giết người hằng loạt, bà Rice Ngoại trưởng Mỹ sang thăm được Gaddafi nồng nhiệt tiếp đón. Chính phủ Mỹ nhanh chóng đưa Libya ra khỏi danh sách những nước hỗ trợ khủng bố và tuyên bố “Libya và Mỹ là bạn”, nâng quan hệ hai bên lên cấp đại sứ.

Năm 2007, Tổng thống Pháp Sarcozy thăm Libya và ký nhiều hiệp ước hợp tác.

Đặc biệt Gaddafi và Thủ tướng Ý quan hệ với nhau rất thân thiết. Như vậy các chính phủ phương Tây không còn có vấn đề gì bức xúc để có kế hoạch chống lại Gaddafi.

Vấn đề Libya chính là mâu thuẫn tích tụ suốt 42 năm giữa nhân dân với nhà cầm quyền độc tài trấn áp dân chủ, nhen nhóm một lò lửa phản kháng. Làn gió “mùa Xuân nhân dân” từ Tunisia, Ai Cập thổi tới đã làm bùng lên lò lửa âm ỉ ấy.

Ở Tunisia và Ai Cập quân đội không nhả đạn vào nhân dân. Nhưng ở Libya thì khác, Gaddafi xuất thân là một quân nhân, ông ta có nhiều thủ đoạn nắm chắc tướng lĩnh và có chính sách mua chuộc quân đội. Do đó, khi nhân dân nổi dậy, Gaddafi lập tức sử dụng quân đội thẳng tay đàn áp vô cùng man rợ.

Hồi nhân dân Tunisia nổi dậy, phương Tây bị bất ngờ đã hờ hững, ủng hộ rất yếu ớt. Lúc ấy, Thủ tướng Anh đang thăm Ai Cập rao bán vũ khí. Ngoại trưởng Pháp đang thăm Tunisia bàn việc chia sẻ kinh nghiệm của cảnh sát Pháp cho cảnh sát Tunisia. Phương Tây chưa vượt khỏi nổi lo sợ từ kinh nghiệm Iran, sau khi vua Shah sụp đổ, chính quyền lọt vào tay Cách mạng Hồi giáo đã thù địch với họ. Họ phải dè chừng tìm hiểu mãi mới quyết định ủng hộ nhân dân nổi dậy.

Lần này với Libya, phương Tây đã được Mùa Xuân nhân dân Ả rập thức tỉnh, nên tất cả hăm hở lên tiếng ủng hộ và nhanh chóng tìm cách giúp đỡ, đặc biệt là việc giúp đỡ quân sự đã gây tranh cãi gay gắt.

Có hai quan điểm đối chọi nhau chan chát trong cách nhìn, cách giúp đỡ Libya:

Một là, quan điểm cho rằng Phương Tây can thiệp thô bạo vào độc lập, chủ quyền của Libya, một nước có chính phủ hợp pháp được nhiều quốc gia công nhận. Đứng đầu lập luận này là những quốc gia độc tài không cần che giấu, kế tiếp họ là những quốc gia độc tài mang mặt nạ dân chủ. Theo quan điểm này thì ở Libya không có Hội đồng quốc gia chuyển tiếp nào cả, mà chỉ có bọn gây rối, bọn phiến loạn do phương Tây giật dây, phục vụ cho máu tham dầu lửa của họ. Hiện nay, những người có quan điểm này đang lo cho số phận của nhà cầm quyền Syria – nhà cầm quyền đang dùng dùi cui và súng đối với nhân dân.

Hai là lập luận: Chính quyền Gaddafi đã dùng vũ lực chống nhân dân mình thì không còn tư cách đại diện nhân dân Libya. Đứng đầu là Mỹ, Anh, Pháp, Ý… Theo quan điểm này thì làm mọi việc, giúp đỡ mọi hình thức, kể cả quân sự cho lực lượng nổi dậy của nhân dân, chẳng những là nhân đạo, mà còn là thực sự tôn trọng chủ quyền đất nước phải thuộc về nhân dân Libya.

Nghe lập luận này, chúng ta không khỏi nhớ câu nói của Hồ Chí Minh: “Nếu nước đã được độc lập mà nhân dân không được tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”.

Suy ra, nhân quyền, dân quyền mới là vấn đề thực chất, chủ quyền đất nước phải thuộc về nhân dân chứ không phải của nhà cầm quyền độc tài. Không cho phép nhà cầm quyền độc tài núp sau bình phong chủ quyền để trấn áp nhân dân! Biểu tình là thước đo nguyện vọng nhân dân. Thái độ đối với biểu tình là thước đo dân chủ của nhà cầm quyền. Đó là bài học mà những Ben Ali, Mubarak, Gaddafi đều không chịu học. Đến ngày cùng, Gaddafi vẫn đang tâm giết hại hằng trăm tù nhân đang bị ông ta giam giữ. Không ai mong muốn bạo lực và chiến tranh, nhưng làm sao để các nhà độc tài còn đang trị vì, còn có thì giờ học bài dân chủ, chịu chấp nhận hòa bình cải cách, chuyển đổi dần dần sang dân chủ? Điều ấy hình như nan giải?

Nhân dân Việt Nam có đủ kinh nghiệm lịch sử để nhận thức hai quan điểm trái ngược nói trên bên nào là đúng đắn, bên nào là phản ngụy. Bởi vì, trong hai cuộc chiến tranh giành độc lập, chúng ta đã tiếp nhận sự giúp đỡ vũ khí từ nhiều nước để chống địch. Chúng ta cũng đã từng đưa quân tình nguyện của mình vào hai nước Campuchia, Lào giúp bạn chống ngoại xâm và các chính quyền bù nhìn. Đặc biệt, chúng ta đã đưa quân giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng do một nhà nước mang tên Campuchia Dân chủ gây ra. Chúng ta hiểu sự can thiệp nào là chính nghĩa, khi sự can thiệp đó nhằm cứu nguy cho nhân dân đang ngạt thở. Chúng ta vui mừng nhìn thấy thời đại đã bước sang kỷ nguyên dân chủ, nhân quyền, một khi nhân dân vùng lên chống nhà nước độc tài sẽ không còn bị cô độc. Nhân loại không chỉ hô hào suông mà khi cấp thiết nhất đã có thể bảo vệ quyền sống và mưu cầu hạnh phúc của nhân dân bằng mọi phương tiện, kể cả súng!

Ngày 29 – 8 – 2011

T.V.C.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.


------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

Tống văn Công: Kẻ thù!

Nguồn: Bauxite Việt Nam


22/08/2011

Kẻ thù!


Tống văn Công

Trước đây…

Cách đây hơn nửa thế kỷ, sau khi vào Đảng cộng sản, một trong những vấn đề cốt yếu nhất mà tôi thường phải học đi, học lại là xác định rõ kẻ thù dân tộc trong từng thời kỳ.

Thời chống Pháp, chúng tôi biết rõ đồng minh số một của Pháp là Mỹ, nước giúp Pháp hơn 80% chiến phí. Rồi kế tiếp Mỹ là nước nào, nước nào. Đến thời chống Mỹ, dù miền Nam có chính phủ Việt Nam Cộng hòa, được nhiều quốc gia công nhận, nhưng chúng tôi được xác định Mỹ mới là kẻ thù chính và “Mỹ cút” thì “ngụy nhào”. Chúng tôi biết Pháp không phải đồng minh của Mỹ. Pháp là một trong những nước đầu tiên chấp nhận cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đặt cơ quan đại diện để liên hệ với thế giới.

Tuyệt đại đa số nhân dân, được phổ biến nhận định về kẻ thù rất kịp thời. Ví dụ, sau khi Nhật đảo chính Pháp, nhân dân được hướng dẫn, từ đây kẻ thù chính là Nhật, kế đó mới là bọn Pháp cam tâm làm tay sai cho Nhật.

Trước khi ký kết Hiệp nghị Geneve, chúng tôi được báo sắp tới đây, kẻ thù sẽ là Mỹ.

Trước cuộc chiến xâm lược biên giới phía Bắc của Trung Quốc năm 1979, Tổng bí thư Lê Duẩn cho toàn Đảng, toàn dân biết rằng, ông không hề bị bất ngờ vì đã nhìn thấy âm mưu xâm lược của Trung Quốc hằng chục năm trước! (Cho đến nay, Trung Quốc không hề thay đổi bản chất, chỉ có chúng ta tự thay đổi cách nhìn của mình đối với họ!).

Xác định rõ kẻ thù dân tộc cho đảng viên, cán bộ và nhân dân biết rõ là điều kiện cơ bản để tạo ra sự thống nhất tư tưởng cao, chuẩn bị tinh thần và lực lượng để đối phó, sẵn sàng chịu đựng, và phát huy sáng tạo về mọi mặt để chống giặc: Đánh chúng cả ba vùng (nông thôn, thành thị, miền núi); đánh chúng bằng ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, ngoại giao); đánh chúng bằng mọi phương tiện: súng, hầm chông, ong bò vẻ…

Nhờ hiểu rõ kẻ thù mà nhân dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, giành được thắng lợi khiến cho nhiều nhà nghiên cứu quân sự thế giới phải ngạc nhiên.

Bây giờ…

Giờ đây nhân dân ta lại đứng trước một tình hình vô cùng bức bối là phải xác định cho rõ kẻ thù!
Năm 2009, ông Nguyễn Trần Bạt – tác giả của nhiều quyển sách nổi tiếng, khi được hỏi có băn khoăn gì về kinh tế, ông nói: “Điều tôi băn khoăn bây giờ không còn là chuyện kinh tế VN. Điều tôi suy nghĩ bây giờ chính là điều mà đầu thế kỷ 20 Hồ Chí Minh suy nghĩ, tức là chúng ta bắt đầu lại phải suy nghĩ về vấn đề độc lập dân tộc”.

Ba năm sau, ngày 14-7- 2011, hằng ngàn đảng viên, cán bộ lão thành cách mạng, trí thức tiêu biểu và đủ mọi tầng lớp nhân dân trong ngoài nước đã ký vào Bản kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay.

Đề mục thứ nhất của Bản kiến nghị là “I- Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị uy hiếp, xâm phạm nghiêm trọng”. Nội dung là: Trung Quốc thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông, tự ý vạch ra “đường lưỡi bò”chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, liên tục tiến hành những hoạt động bất hợp pháp để khẳng định yêu sách của họ. Trong vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, năm 1974 Trung Quốc tấn công chiếm toàn bộ Hoàng Sa của ta, năm 1988 chiếm 7 đảo và bãi đá thuộc Trường Sa của ta, tự ý cấm đánh bắt cá, xua đuổi bắt giữ, cướp tài sản, đòi tiền chuộc đối với ngư dân ta; gây sức ép buộc hủy bỏ các hợp đồng của ta ký kết với các tập đoàn kinh doanh dầu khí nước ngoài; cho tàu chiến xông vào vùng biển của ta cắt cáp tàu thăm dò… Trung Quốc tìm mọi cách dụ dỗ, thâm nhập, lũng đoạn, uy hiếp, can thiệp, lấn chiếm, từng dùng hành động quân sự. Tất cả đều trong mưu đồ lâu dài khiến cho Việt Nam suy yếu, chịu khuất phục hay lệ thuộc vào Trung Quốc. VIỆT NAM CÀNG NHÂN NHƯỢNG, TRUNG QUỐC CÀNG LẤN TỚI.

Qua nhận định trên đây, bộ mặt kẻ thù đã hiện rất rõ.

Tuy nhiên hiện thực Việt Nam lại diễn ra một cách u u minh minh, người dân luôn luôn được định hướng phải cảnh giác về một “thế lực thù địch” không phải là kẻ láng giềng thâm hiểm mà là những kẻ ở tận bên trời Tây! Lập luận này nghe cũng khá trôi chảy, thuận tai, bởi vì cả hai cuộc chiến tranh giành độc lập mà di hại còn sờ sờ ra đó chẳng phải đều có nguồn gốc từ phương Tây cả hay sao?

Trong khi bao nhiêu gia đình ngư dân đang chết dở vì Trung Quốc bắt, bắn hay đòi tiền chuộc thì Tân Hoa xã đưa tin: “Ngày 15-4-2011, Bộ trưởng Lê Hồng Anh thăm Trung Quốc đã nói với Chu Vĩnh Khang Ủy viên thường vụ Bộ chính trị Trung Quốc:Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng việc hợp tác giữa cơ quan hành pháp và an ninh hai nước, sẵn sàng cùng với Trung Quốc bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa của hai nước”.

Các cơ quan truyền thông Việt nam và Trung Quốc cùng đưa tin: Phó chủ tịch quân ủy Trung ương Trung quốc Quách Bá Hùng thăm Việt Nam, được lãnh đạo Việt Nam tiếp đón long trọng.

Chiều 13-4-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Thượng tướng Quách Bá Hùng, hai bên xác định cùng Cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống giữa hai nước Việt Nam-Trung Quốc.

Một tháng sau, ngày 26-5-2011, Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2 đang làm nhiệm vụ thăm dò trong vùng biển đặc quyền kinh tế Việt Nam, Tân Hoa xã lớn tiếng lên án Việt Nam láo xược xâm phạm vùng biển của Trung Quốc!

Theo Bộ Ngoại giao ta thì Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn của ta và bên họ đã thỏa thuận nhau sẽ không làm gì gây phức tạp tình hình, cùng định hướng truyền thông hai nước không làm gì ảnh hưởng đến tình hữu nghị…

Nhưng chỉ phía chúng ta tích cực tuân thủ điều đó. Họ không ngừng có những bài viết xúc phạm nhân dân ta. Mới đây, Trung Quốc ngang nhiên tổ chức khảo sát vùng biển từ quần đảo Hoàng Sa đến Trường Sa suốt một tháng rưỡi, từ 13-6 đến 30-7-2011, rồi công bố tin này như một thách thức sự hèn yếu của chúng ta!

Giũa lúc những người Việt Nam yêu nước quá bức xúc liên tục xuống đường biểu tình vào các ngày Chủ nhật phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc gây hấn, nhằm hậu thuẫn cho tiếng nói của chính phủ ta trước áp lực của kẻ xâm lược thì Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng long trọng tuyên bố: Ta và Trung Quốc cần hòa bình, hữu nghị hợp tác, đoàn kết để hai dân tộc cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Không phải chỉ những ngư dân miền Trung ngơ ngác mà các đảng viên cộng sản khi nghe, cứ tưởng ông Ủy viên Bộ Chính trị của mình có khiếu khôi hài!

Đúng thời điểm Chủ tịch Quốc hội ta phát đi tín hiệu mới về hòa bình hữu nghị thì phía Trung Quốc cũng đáp lễ: Ngày 19-8-2011, ông Nguyễn Ngọc Hiếu Chủ tịch UBND xã Bảo Ninh (Đông Hới, Quãng Bình) cho biết tàu QB-1825-TS do anh Nguyễn văn Thạnh làm chủ đã bị Trung Quốc bắt tại 17 độ 50 vĩ độ Bắc, 109 độ 20 kinh độ Đông. Chị Nguyễn thị Hằng vợ anh Thạnh nhận điện từ Trung Quốc, thông qua phiên dịch, cho biết Trung Quốc đòi phải nộp 6250 USD mới được thả tàu và người!

Thưa ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, tình yêu đơn phương của ông đã không được chú Đại Hán chấp nhận! Liệu quỹ cứu trợ của André Menras Hồ Cương Quyết có đủ khả năng trợ cấp mãi mãi tiền chuộc tàu thuyền cho anh Thạnh và bà con ngư dân?

Câu hỏi này chưa được trả lời thì Thông báo của UBND Hà Nội được đăng tải trên các phương tiện truyền thông cả nước buộc phải chấm dứt biểu tình, vì: Ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, đến hình ảnh thủ đô Hà Nội - thành phố vì hòa bình; Tiềm ẩn yếu tố gây mất ổn định chính trị; Tác động tiêu cực đến đường lối đối ngoại của Đảng, nhà nước ta; Đối tượng chống đối trong ngoài nước sẽ lợi dụng chống Đảng, nhà nước. Thông báo này đề ra cho lực lượng làm nhiệm vụ được “áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ trật tự”…

Như vậy là đang lập lại khả năng tái diễn những hình ảnh lôi, khiêng, đạp vào mặt, quăng những người biểu tình như quăng súc vật. Đó mới thực sự là những hình ảnh chẳng những làm xấu xa hình ảnh Thủ đô –Thành phố vì hòa bình, mà còn bôi nhọ cả nhà nước và chế độ này.

Nếu cho chiếu lại cảnh quay những cuộc biểu tình sẽ thấy cái xấu, cái đẹp là ở đâu rất rõ ràng. Suốt hai tháng qua, đi đầu các cuộc biểu tình đều là các đảng viên cộng sản, trí thức nhân sĩ đáng kính, nào thấy bóng tên phản động Việt Tân nào? Đảng Việt Tân luôn tìm cách khoa trương thanh thế, nhưng chúng chẳng tìm đâu ra cơ hội. Chỉ thấy bà Phương Nga nhà ta yếu bóng vía đã vô tình đề cao bọn chúng: “Đảng Việt Tân đang lợi dụng tình hình căng thẳng để kích động nhân dân Việt Nam có những hành vi chống nhà nước”.

Nói như vậy là quá coi thường một nhân dân đã được trui rèn trong cuộc đấu tranh lâu dài giải phóng đất nước. Bài học đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở là phải tin dân, hỏi dân, học dân, sao bà Nga và các vị không nhớ? Nhân đây, tôi cũng muốn kể lại ý kiến của số khá đông người nhận định về Đảng Việt Tân. Cứ nhìn cách họ hành xử có thể cảm nhận, hình như đây là một tổ chức của Bắc Kinh lập ra nhằm: 1/ Chia rẽ nhân dân với Đảng, nhà nước Việt Nam; 2/ Nhằm tạo điều kiện để các tổ chức quốc tế có lý do lên án Việt Nam bắt bớ người bất đồng chính kiến, xâm phạm nhân quyền. Bởi vì chưa thấy một Đảng chính trị nào mà số đảng viên bị bắt, bị đem làm vật hi sinh cho danh tiếng của Đảng nhiều như Việt Tân. Ông Phạm Minh Hoàng bị bắt, đang cố chối mình không phải Việt Tân, vợ ông trả lời báo chí cũng cả quyết như thế. Nhưng người đại diện của Việt Tân nhanh chóng tuyên bố đòi nhà nước Việt Nam phải trả tự do ngay cho đảng viên Việt Tân là ông Phạm Minh Hoàng!

Kẻ thù phương Bắc đã và đang lộ rõ chân tướng bành trướng của chúng. Nhân dân thế giới ngày ngày liên tiếp cảnh báo bộ mặt thật của chúng. Mọi hành vi che đậy bộ mặt xấu xa của chúng, dù thực, dù giả đều có hại, vì sẽ làm sứt mẻ niềm tin của nhân dân đối với Đảng, nhà nước. Niềm tin mạnh hơn súng đạn. Đảng, nhà nước Việt Nam phải ghi nhớ điều đó.

Chúng ta muốn hòa bình hữu nghị, chúng ta tránh khiêu khích, nhưng không giả dối nuốt bồ hòn làm ngọt, mà phải dựa vào luật pháp quốc tế, dựa vào bạn bè trong khu vực và thế giới để buộc họ cũng phải cư xử bình đẳng với ta. Đó là những tấm gương hành xử của Nhật, Hàn, Phi, Singapore… Và trên hết là dựa vào nhân dân! Nhân dân biểu tình trong trật tự, hát vang bài ca cách mạng là hình ảnh đẹp nhất, đáng tự hào nhất của một quốc gia và những người lãnh đạo nước nhà!

19-8-2011, ngày Cách mạng Mùa Thu.
T.V.C.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.



------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2011

Cần thực hiện lý tưởng Cách mạng Tháng Tám

Nguồn: Bauxite Viêt Nam


16/08/2011


Tống văn Công

Năm 2009, trong thư gửi Trung ương Đảng kèm bài Đổi mới Đảng tránh nguy cơ sụp đổ, tôi có trích lời nhà văn Stephan Zweig: “Luôn có những con chim báo bão, sứ giả của trí tuệ, đi trước những tai họa lớn bằng sự bay của mình” (Triết gia F. Nietsche dự báo Thế chiến 2 trước 15 năm). Cùng thời gian đó, ông Nguyễn Trần Bạt, tác giả quyển Đối thoại với Tương lai đã phát biểu rõ ràng hơn: “Tôi cho rằng món nợ của những nhà cầm quyền ở Việt Nam đối với dân tộc này chính là dân chủ hóa xã hội… Nếu việc ấy không được thực hiện bởi họ thì dân tộc chúng ta sẽ đối mặt với một cuộc cách mạng xã hội” (NXB HNV, 2010, trang 923). Tuy vậy, đã có một người cảnh báo sớm hơn 15 năm, đó là cụ Võ văn Kiệt, cho rằng Đảng “cần giương cao hai ngọn cờ dân tộc và dân chủ” để sớm thực hiện dân giàu nước mạnh, giảm sự tụt hậu so với các nước trong vùng, nếu chậm trễ “bỏ lỡ cơ hội này, sẽ là thảm họa cho đất nước, Đảng ta sẽ đứng trước nguy cơ bị tước quyền lãnh đạo - chỉ vì không đáp ứng được đòi hỏi phát triển của đất nước” (Thư gửi Bộ chính trị ngày 9-8-1995).

Từ đó cho đến nay, nguy cơ đối với Đảng và chế độ không giảm đi mà mỗi ngày một tăng lên. Hiện nay độc lập dân tộc đang đứng trước sự đe dọa của ngoại bang còn nguy hiểm hơn những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám. Bởi vì giặc ngoại xâm ngày nay được nối giáo bởi giặc nội xâm, lại ngụy trang bằng mặt nạ đồng chí. Vận mệnh của Đảng bao giờ cũng phải gắn liền với vận mệnh dân tộc, nhưng đang bị ảo giác xui khiến, cố bấu víu vào đồng minh ý thức hệ!

Xin nêu ra 3 vấn đề bức xúc nhất:

1. Chủ nghĩa yêu nước bị thách thức nghiêm trọng
Đảng Cộng sản Việt Nam từ 5000 đảng viên đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, đưa hai cuộc kháng chiến 30 năm đến thắng lợi là nhờ khơi dậy được lòng yêu nước của toàn dân. Nhờ đó mà tuy rằng Đảng đã phạm không ít khuyết điểm rất nghiêm trọng, song vẫn được nhân dân thể tất, chờ đợi sửa sai và hy vọng đổi mới.

Điểm yếu có tính chiến lược của Đảng là gắn kết quan hệ đồng chí, đồng minh với một đảng, một nhà nước đã xâm chiếm lãnh thổ của nước ta, lại ngang nhiên tuyên bố lên án ta xâm chiếm trái phép biển đảo của họ. Những sơ suất ngày xưa do cả tin, do bị ru ngủ bởi ý thức hệ, hoặc do phải nín nhịn vì hoàn cảnh chiến tranh cũng đáng chê trách, nhưng nhân dân vẫn có thể hiểu được và rộng lòng tha thứ. Tuy nhiên sự việc không dừng lại, cứ mỗi ngày qua họa lệ thuộc, mối đe dọa mất nước lại hiện rõ hơn và những dấu hiệu mềm yếu, phe cánh với kẻ thù, gây nghi ngờ cứ lặp đi, lặp lại, khiến niềm tin trong lòng dân đối với Đảng cứ bị bào mòn từng ngày.

Không thể thực tâm với “16 chữ vàng” và “4 tốt” mà Trung Quốc lại kiên quyết từ chối bàn bạc với Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa họ đã xâm chiếm trái phép. Nhân dân Việt Nam chăm chú xem Đảng và Nhà nước mình làm gì để đòi lại Hoàng Sa, rất đau lòng khi nghe có ý kiến cho rằng đây là chuyện còn phải tiếp tục tới đời con đời cháu!

Nếu thực sự coi nhau là đồng chí, đồng minh thì khi không thỏa thuận được, cũng nên thẳng thắn bàn chuyện cùng đưa ra tòa án Quốc tế để tìm sự khách quan, công bằng chứ?

Cách phản ứng của chúng ta, phần lớn là của người phát ngôn Bộ ngoại giao, nói như lấy lệ. Mới đây, Trung Quốc hợp tác với Pháp tổ chức khảo sát vùng biển từ Hoàng Sa đến Trường Sa hơn một tháng rưỡi, từ 13-6 đến 30 -7- 2011. Phía ta hoàn toàn im lặng! Thấy ta im lặng, chúng nắm được thóp, đã không thèm im lặng nữa mà hô toáng lên cho toàn thế giới biết. Ngày 2-8Tân Hoa xã dõng dạc phát tin! Vậy mà phải mất đến 6 ngày sau, người phát ngôn Việt Nam mới yếu ớt lên tiếng bằng hình thức trả lời báo chí, sau đó các báo đều đăng tin ở trang trong! Chúng ta lúng túng vì có Pháp? Đứng sau Pháp là EU và Mỹ, vậy phải làm gì để giữ EU và Mỹ về phía mình trong “ván cờ” Biển Đông của Trung Quốc”? Nếu như tình trạng dân chủ, nhân quyền của ta không khả quan hơn Trung Quốc thì các nước đó sẽ cân nhắc, chọn phía nào cho họ nhiều lợi ích hơn! Bởi vì khi phải hợp tác, giúp đỡ một quốc gia thiếu dân chủ, họ còn phải chống đỡ sự chất vấn của nhân dân họ.

Trong khi Trung Quốc không ngừng hăm he, đe nẹt Việt Nam thì chúng ta lại cố sức chiều ý chúng một cách khó hiểu: Bất chấp ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết liên tục 3 lá thư, bất chấp kiến nghị của hàng ngàn công dân gồm có nhiều đảng viên trung cao cấp, lão thành cách mạng, trí thức và đồng bào trong ngoài nước can ngăn hợp tác với Trung Quốc khai thác bauxite Tây Nguyên, để cho Trung Quốc đặt chân vào một vị trí chiến lược xung yếu; có thể gây ra thảm họa môi trường ảnh hưởng cuộc sống của hơn 20 triệu đồng bào; và cuối cùng là nó không đem lại hiệu quả kinh tế.

Suốt mấy tháng nay lại thêm chuyện nhân dân hai tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai bức xúc kêu cứu vì xe chở bauxite sẽ phá nát đường sá, nguy cơ gây ra rất nhiều tai nạn giao thông!

Lòng dân càng bức xúc, tại sao cho Trung Quốc thuê hàng ngàn hecta đất “trồng rừng” thời gian 50 năm với giá rẻ mạt? Những vùng này là phên dậu quốc gia, từ Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, đến Quảng Nam… Từ đây, người dân Việt Nam không được phép bén mảng tới đó! Rồi vì sao 90% các công trình công nghiệp đều rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc, hàng chục vạn lao động cơ bắp của Trung Quốc theo chân các công trình do họ trúng thầu rải từ Bắc vào Nam mà không có biện pháp ngăn chặn? Chỉ riêng khu khí điện đạm ở Cà Mau đã có 1056 lao động Trung Quốc, phần lớn không có tay nghề!

Trong khi chưa đủ thời cơ dùng biện pháp quân sự xâm chiếm nước ta, Trung Quốc tận dụng sức mạnh mềm để biến nước ta thành chư hầu, thuộc địa kiểu mới. Chúng có ý thức rất rõ việc gây chia rẽ giữa nhân dân ta với Đảng và nhà nước, vì biết đó chính là nguồn sức mạnh quan trọng bậc nhất trước họa ngoại xâm. Cuộc biểu tình của nhân dân chống Trung Quốc xâm lược năm 2007, bị đàn áp đã gây rạn nứt lớn đầu tiên giữa dân với Đảng, nhà nước. Một số người tham gia biểu tình ngày đó đã phải bỏ nước xin tị nạn ở nước ngoài. Từ tháng 6-2011 đến nay, cách đối phó của các tổ chức Đảng, chính quyền, lực lượng cảnh sát ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đối với các cuộc biểu tình yêu nước gồm nhiều đảng viên, cán bộ, trí thức hàng đầu, đã phô bày trước mắt nhân dân Việt Nam và cả thế giới những hình ảnh phản cảm rất tệ hại! Nhân dân yêu nước bị nện dùi cui, bị kéo lê, ném lên xe như súc vật. Có người còn vu họ là bọn móc túi. Đỉnh cao gây ra phẫn nộ là vụ đảng viên Nguyễn Chí Đức bị một sĩ quan an ninh đạp vào mặt.

Tại sao quyền biểu tình được Hiến pháp ghi nhận, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ban hành đã hơn 60 năm, nhưng người dân vẫn không được hưởng? Cách hành xử như vừa qua đang đặt Đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam từng ngày đối lập với chủ nghĩa yêu nước, với lòng dân. Đảng đang tự tước bỏ nguồn sức mạnh vô địch mà các bậc tiền bối của Đảng đã vùi xương ở Côn Đảo, Phú Quốc và các cuộc đấu tranh ngót một thế kỷ mới có được!

Tình trạng trên đây chính là nguy cơ lớn nhất đang đe dọa nền độc lập dân tộc thành quả của Cách mạng Tháng Tám!

2. Đẩy nhân dân về phía thù địch

Tất cả Nghị quyết Đại hội và Hội nghị Trung ương Đảng đều nhắc đến “mở rộng dân chủ”, nhưng những điều cốt lõi, gốc rể của dân chủ tới hôm nay vẫn còn xa vời. Mong muốn của Hồ Chí Minh chưa bao giờ thành hiện thực: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”; “Dân chủ là để cho dân được mở mồm ra nói”. Dân chủ chính là lý tưởng cao cả của Cách mạng Tháng Tám, thể hiện ở Tuyên ngôn Độc lập với những nội dung về quyền tự do, bình đẳng, quyền sống và mưu cầu hạnh phúc, đã được thể chế hóa bằng Hiến pháp 1946. Các quyền tự do, dân chủ, đã bị biến dạng sau khi các bản Hiến pháp sửa đổi có gắn thêm mấy chữ “theo pháp luật”. Pháp luật vi hiến mà không có tòa án Hiến pháp để ngăn chặn. Từ Đại hội Đảng lần thứ 4, “dân chủ” đã bị thay thế bằng “làm chủ tập thể”. Các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền đều phải được hiểu là cho cả toàn dân, cho từng giai cấp, từng giới, chứ không phải cho từng người. Khủng hoảng kinh tế, xã hội bắt đầu từ việc thi hành Nghị quyết Đại hội 4 khiến cho Đảng, nhà nước và toàn dân tộc lao đao suốt những năm cuối thập niên 70, đầu 80 của thế kỷ trước!

Đổi mới đã đem lại dân chủ cho nhân dân trong làm ăn, các hoạt động kinh tế. Từ nay, từng người dân được quyền tự do làm ăn, được quyền bỏ vốn ra kinh doanh. Những ông “vua lốp” được ra tù và được đề cao (Nhân dân gọi ông Nguyễn văn Chẩn là “vua lốp”, vì ông có sáng kiến dùng lốp xe cũ làm dép lốp, dùng ni lông phế thải chế tạo bút máy, đắp lốp xe mòn thành lốp gần như mới. Do đó ông phải 3 lần vào tù và bị tịch biên gia sản). Kinh tế đất nước khởi sắc, nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài lạc quan dự báo Việt Nam sắp hóa hổ, hóa rồng. Tuy nhiên, sau hai thập kỷ đến nay tình hình kinh tế xã hôi không tiếp tục sáng sủa mà đang lâm vào khủng hoảng toàn diện. Nguyên nhân chính là vì dân chủ, tự do về chính trị và dân sự chưa được đến với mỗi người tương xứng với dân chủ về kinh tế. Tình hình xã hội nổi lên 3 vấn đề lớn:

Một là, giai cấp công nhân đã có hàng ngàn cuộc đình công, có những cuộc huy động gần 20.000 người, bị cho là bất hợp pháp vì không cuộc đình công nào do Công đoàn chỉ đạo theo quy định của pháp luật. Sáu tháng đầu năm nay, khắp nước số đình công đều tăng, tỉnh Bình Dương 150 vụ, 80.000 công nhân, tăng 50% so với cùng kỳ năm 2010; TP HCM có 132 vụ, 72.000 công nhân, tăng 120% so với cùng kỳ năm 2010. Ông Phó giám đốc Sở LĐ-TB-XH Bình Dương cho rằng “vì tổ chức Công đoàn rất yếu kém không bảo vệ được quyền lợi công nhân”. Đó là tình trạng chung của Công đoàn cả nước hiện nay, nguyên nhân là vì giai cấp công nhân chưa có quyền dân chủ chọn ra đúng người đại diện của mình.

Hai là, nông dân bị mất đất đi khiếu kiện vượt cấp hàng chục năm không được giải quyết. Có hơn 70% các vụ khiếu kiện vượt cấp kéo dài liên miên là khiếu kiện của nông dân mất đất, đền bù với giá rẻ mạt. Thật trớ trêu là những người trong đội quân chủ lực của cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến, nay lại kéo nhau đến trước cổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ để cầu cứu! Nguyên nhân sâu xa là vì họ không có quyền dân chủ về sở hữu đất đai, Hội Nông dân cũng không đại diện bênh vực quyền lợi cho họ. Phần lớn các “đại gia” hiện nay là những kẻ nhờ có thân thế, chèn ép nông dân, kinh doanh đất đai mà phất lên chứ chẳng phải có tài năng quản trị kinh doanh. Đã vậy khi làm ra hạt lúa, nông dân lại bị các nhà xuất khẩu gạo chèn ép một lần nữa, nhiều khi buộc phải bán lúa dưới giá thành. Bi kịch ấy khiến Giáo sư Võ Tòng Xuân trong vòng 20 năm đã 2 lần đặt ra câu hỏi “Bao giờ nông dân mới giàu?”.

Ba là, giới trí thức không có quyền dân chủ trong các hoạt động trí tuệ của mình. Việc nổi cộm là Viện IDS phải tự giải thể và bị buộc phải kiểm điểm. Nhiều kiến nghị yêu nước của trí thức không được xem xét, không ai trả lời, lại còn có xu hướng quy chụp, nghi ngờ họ có động cơ xấu!

Một người lãnh đạo cao cấp của Đảng, ông Trần Xuân Bách sớm phát hiện ra sự khập khiễng của đổi mới chính trị không tương ứng với đổi mới kinh tế: Từng người đã có tự do kinh tế, họ đang yêu cầu phải được các quyền tự do dân sự và chính trị. Ông bị trừng phạt dù nội dung ông nêu ra đã được ghi trong “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”, và đã được nhà nước ta gia nhập từ 24-9-1982, tức là trước Đổi mới đến 4 năm! Lời nói đầu Công ước này có câu: “Thừa nhận rằng theo Tuyên ngôn nhân quyền thì chỉ có thể đạt được lý tưởng của con người tự do, được tận hưởng tự do về dân sự và chính trị, không bị sợ hãi và thiếu thốn nếu tạo được những điều kiện để mỗi người có thể hưởng các quyền dân sự và chính trị cũng như các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của mình”.

Tiếp bước ông Bách là Trung tướng Trần Độ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó chính ủy miền Nam, Phó chủ tịch Quốc hội cũng bị trừng phạt vì đòi tự do chính trị cho nhân dân.

Vừa qua, ông Nguyễn văn An, nguyên Ủy viên Bộ chính trị, thẳng thắn phát triển tư tưởng dân chủ chính trị đã bị lên án.

Nếu tỉnh táo Đảng cầm quyền sẽ nhận thấy rằng từ một Trần Xuân Bách năm 1990, ngày nay đã có hàng ngàn Trần Xuân Bách trong Đảng và nhân dân. Xin lắng nghe những ý kiến trong “Biên bản Hội thảo khoa học Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội quốc gia” có mục đích góp ý văn kiện Đại Hội 11. Cuộc hội thảo này gồm những người thuộc giới tinh hoa của Đảng và chế độ, gồm hai nguyên Phó thủ tướng là Trần Phương và Vũ Khoan, hơn 10 vị Giáo sư, Phó giáo sư, Thứ trưởng, Viện trưởng, những nhà lý luận hàng đầu hiện nay.

Xin trích từ biên bản:

…“Nhận định về quốc tế, về các nước xã hội chủ nghĩa đều sai”.
…“Phải nhằm vào cải cách chính trị chứ không phải chỉ kinh tế. Cải cách chính trị thành một vấn đề bức xúc, không giải quyết thì không phát triển được”…
…“Phải xác định cho rõ vai trò lãnh đạo của Đảng: Lãnh đạo ai? Ai cho anh quyền lãnh đạo? Phải nhìn thẳng vào sự thật. Lừa được người ta chứ không lừa được thực tiễn đâu!”.
…“Loài người đi đến chỗ dân chủ. Nhưng thế nào là dân chủ? Đảng quyết hết mọi thứ mà không chịu trách nhiệm gì. Thế mới chết chứ!”.
…“Chưa bao giờ vấn đề nghiêm trọng như bây giờ. Dân không còn tin Đảng như trước nữa. Không ai quan tâm nữa. Cương lĩnh đầy rẫy cái sai, cái mơ hồ. Nói xã hội chủ nghĩa mà không biết nó là cái gì? Nhiều chuyện ta tự lừa dối mình và lừa dối người khác”…

Những điều các nhà lý luận hàng đầu nói trong cuộc hội thảo này đã chỉ rõ nguyên nhân đẻ ra tình trạng khủng hoảng toàn diện về chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, đạo đức.hiện nay.

Trong phiên tòa phúc thẩm xử Cù Huy Hà Vũ, luật sư Trần Quốc Thuận so sánh nội dung Biên bản cuộc hội thảo do ông Trần Phương chủ trì nói trên với các bài viết của Cù Huy Hà Vũ là có quan điểm về tự do chính trị hoàn toàn giống nhau. Nhưng tại sao Cù Huy Hà Vũ lại bị xử tù? Tòa hoàn toàn không chấp nhận lời bào chữa của vị luật sư, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội. Phải chăng Cù Huy Hà Vũ là một loại “vua lốp” mới trong lĩnh vực tự do dân chủ về chính trị, cho nên ông phải đi tù, một khi lĩnh vực này chưa được đổi mới?

Điều cực kỳ nguy hiểm là sau phiên tòa, các cơ quan truyền thông chính thức bắt đầu đổi giọng khác thường, đẩy mạngBauxite Việt Nam vào loại rác rưởi, và sau đó ít hôm đã xếp vào loại phản động! Mạng Bauxite Việt Nam là nơi đã đăng tải những bài viết cực kỳ quan trọng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cố Thủ tướng Võ văn Kiệt, Phó chủ tịch nước Nguyễn thị Bình, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nhiều vị lão thành cách mạng và trí thức yêu nước nêu những vấn đề thiết yếu để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã đăng gần 10 bản kiến nghị, mỗi bản có hàng ngàn người ký tên. Mạng Bauxite Việt Nam có hằng chục triệu người truy cập. Gọi mạng Bauxite Việt Nam là phản động, có nghĩa là đẩy tất cả những người có nguyện vọng dân chủ hóa đất nước về phía thù địch? Tiếp theo, trên báo Quân đội Nhân dân ngày 7-8-2011, một vị tướng, giáo sư còn gợi ý phải biết dùng súng đúng lúc! Lẽ ra phải chỉ cách dùng chiếc chìa khóa Dân chủ để mở ra khoảng trời tự do bao la cho nhân dân thì các vị “quân sư” lại đòi tăng thêm dùi cui và súng , để viết một trang sử máu kiểu Thiên An Môn cho nhân dân Việt Nam! Ôi, làm sao hiểu được!

Nên biết rằng, tất cả những hành vi chống dân chủ hóa, gây chia rẽ giữa Đảng với dân chính là phản bội lý tưởng Cách mạng Tháng Tám, là mở cửa cho giặc Phương Bắc!

3. Giặc nội xâm nối giáo cho ngoại xâm

Đại hội 8 năm 1996 kết luận tham nhũng là một trong “4 nguy cơ” đe dọa đất nước và uy tín của Đảng.

Mười năm sau, năm 2006, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nhận định: “Tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ”.

Năm năm sau, 2011, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết nói: “Chống tham nhũng là mong mỏi rất chính đáng và tha thiết của người dân. Nhưng cho đến hôm nay tôi tự thấy nhiệm vụ đó tôi làm chưa xong!”. Trước đó một năm, ông nói với bà con Việt kiều: “Ở nước người ta muốn tiêu cực, tham nhũng cũng khó, vì hệ thông pháp luật của họ chặt chẽ. Còn ở nước mình thì có khi không muốn tham nhũng mà cũng động lòng tham”.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì cho rằng “Thể chế còn sơ hở”.

Từ năm 1997 đến nay chỉ số nhận thức tham nhũng của Việt Nam luôn luôn ở nhóm cuối bảng xếp hạng của các tổ chức quốc tế.

Đại hội 11 nhận định với lời văn có vẻ nhẹ nhàng: “Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, gây bức xúc xã hội”. Tuy nhiên, Đại hội 11 vẫn không đề ra một biện pháp phòng chống tham nhũng nào mới, vẫn tiếp tục dùng những vị thuốc đã lờn với con bệnh trầm kha và có chiều biến chứng: Nâng cao phẩm chất đạo đức đảng viên, cán bộ; tăng cường giám sát, kiểm tra; nâng cao hiệu quả các cơ quan chức năng; thực hiện dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dân giám sát, phát hiện; cải cách tiền lương. Mới đây, có chính sách khen thưởng cho người dân dám phát hiện tham nhũng.

Tại sao cơ quan chống tham nhũng không thấy rằng, những vụ tham nhũng lớn chưa bao giờ do người dân phát hiện được? Tất cả đều do mâu thuẫn nội bộ trong các cấp ủy Đảng, họ moi ra để hạ gục đối thủ, và thường rộ lên trước các kỳ Đại hội ở mọi cấp, mọi ngành. Bà Lê Hiền Đức, người được Tổ chức Minh bạch quốc tế trao giải thưởng Liêm Chính năm 2009 kể: “Ở cấp nào bọn tham nhũng cũng có ô dù cả. Chúng bao che nhau, bảo kê cho nhau, mình không thể cựa được. Tôi nộp cho Thanh tra nhà nước 214 hồ sơ, họ đến nhà tôi chở đi, nhưng không thấy xử lý xong vụ nào!”.

Mới đây, Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố một tài liệu nghiên cứu có tên “Liêm chính trong thanh niên Việt Nam”. Họ đã phỏng vấn 1022 thanh niên từ 15 đến 30 tuổi ở 11 tỉnh thành, đưa ra những số liệu như sau: 32% cho rằng đưa tiền, quà biếu cho bệnh viện để được chăm sóc tốt hơn là hành vi không sai; 35% sẵn sàng “nới lỏng” định nghĩa về tham nhũng, nếu điều ấy mang lại lợi ích kinh tế; 60% nói muốn tố cáo tham nhũng, nhưng chỉ có 4 người trong số đó đã từng tố cáo. Lý do khiến họ không tố cáo là vì “Đó không phải là việc của tôi” và “Tố cáo cũng chẳng giải quyết được gì”! Số đông cho rằng tham nhũng là “hiện tượng bình thường”. Kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy ít nhất 3 điều: Một là, chống tham nhũng bằng cách vận động nhân dân tố cáo không thể đạt hiệu quả. Hai là, tham nhũng đang làm ô nhiễm môi trường xã hội, các thế hệ trẻ sẽ không còn biết quý trọng phẩm chất liên chính nữa; Ba là, tham nhũng trở thành bình thường sẽ làm mục ruỗng hệ thống chính trị.

Thực tế cho thấy cơ chế hiện nay không giúp các trưởng ban chống tham nhũng “miễn dịch” đối với tham nhũng, càng không thể cho họ khả năng chống tham nhũng ở địa bàn do mình phụ trách. Ông Chủ tịch kiêm Trưởng ban chống tham nhũng tỉnh Ninh Bình không thể ngăn chặn được ông Bí thư Tỉnh ủy, Ủy viên Trung ương Đảng Đinh văn Hùng buôn bình cổ, trống đồng có giá hằng triệu USD. Còn tăng cường giám sát, kiểm tra? Gần 10 cuộc thanh tra vẫn không phát hiện được Tổng giám đốc Phạm Thanh Bình cố ý làm trái và Vinashin đang bên bờ vực phá sản!

Tham nhũng đã giúp Trung Quốc trúng thầu hầu hết các công trình, đưa thiết bị cũ kỹ cho công nghiệp Việt Nam. Tham nhũng làm cho đầu tư không hiệu quả, chỉ số ICOR của Việt Nam cao nhất khu vực, lạm phát đứng thứ 2 thế giới, thứ nhất châu Á, biến một Đảng cách mạng thành một Đảng tham nhũng!

Chẳng lẽ lời cảnh báo của nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh sẽ phải trở thành định mệnh của Đảng và chế độ này?

Tiến sĩ Hồ Bá Thâm đã dũng cảm và trung thực khi viết rằng: “Với thực tế nảy sinh tràn lan và kéo dài ngày càng nghiêm trọng tệ tham nhũng, cửa quyền, quan liêu và lãng phí hiện nay trong hệ thống chính trị và xã hội, ta càng thấy thiếu sót lớn trong một cơ chế thiếu giám sát và kiềm chế quyền lực tệ hại như thế nào. Đó là lỗ hổng và yếu kém nhất trong hệ thống tam quyền của nhà nước, phải được khắc phục sớm bằng cả nhận thức và thể chế”. Tiếc thay ý kiến của ông từ năm 2009, không được Bộ Chính trị của Đảng chú trọng. Hội đồng lý luận, Ban soạn thảo văn kiện Đại hội 11 không hề nhắc tới, có lẽ vì sợ không đúng với pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoặc có gì đe dọa đến quyền lãnh đạo của Đảng chăng?

Mới đây một cán bộ tuyên huấn khi đến giảng Nghị quyết Đại hội 11 cho cán bộ, đảng viên ở quận 7 TP HCM, đã giải thích: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo… Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Giảng viên giải thích: “Đã là quyền lực của nhân dân thì tất nhiên là phải thống nhất, chứ sao lại có thể chia cắt, có thể phân lập được?”. Thật là ngô nghê, không hiểu rằng, Nhà nước là công cụ của nhân dân, nhân dân hoàn toàn có quyền chia các công cụ của mình ra thành bao nhiêu ngành, nhánh, sao cho việc quản lý hiệu quả nhất, ít sơ hở nhất! Có ai đòi chia nhân dân ra làm ba đâu? Hay vì sợ tam quyền phân lập sẽ làm mất quyền lãnh đạo của Đảng?

Tiến sĩ Hồ Bá Thâm cũng đã giải đáp: “Khi đường lối của Đảng đã được cụ thể hóa thành Hiến pháp thì Hiến pháp phải là cao nhất chứ không phải Đảng cầm quyền khi thực thi quyền lực nhà nước!”. Lại tiếc thay, ý kiến này cũng không được lắng nghe!

Lý thuyết về phân lập ba quyền không hề cao siêu, nó được nhân loại biết đến mấy ngàn năm trước và được hoàn chỉnh mấy trăm năm nay, áp dụng ở hàng trăm quốc gia, nhằm hạn chế sự lộng hành khi con người nắm quyền lực. Nếu không thực hiện sự phân lập ba quyền thì không thể có tư pháp độc lập, không thể có “tòa án là pháo đài của tự do”, do đó tham nhũng sẽ không hề sợ bất cứ hình thức thanh tra, kiểm tra nào!

Từ muôn đời, giặc ngoại xâm luôn luôn tìm bọn nội xâm làm tay sai cho chúng! Những người Việt Nam yêu nước không quá khó nhận ra mặt mũi nhem nhuốc của chúng!

******
Ba “tử đạo” nói trên quan hệ hữu cơ với nhau, kết thành một tổng lực tác động từng ngày vào cuộc sống và trí não của nhân dân. Nếu không sớm ngăn chặn thì không thể tránh khỏi điều mà nhiều người đang nói đến: Một cuộc cách mạng dân chủ! Đó sẽ là sự đổ vỡ rất lớn của quốc gia, một gánh nặng quá sức chịu đựng đối với nhân dân, và là một tặng phẩm vô giá cho kẻ thù phương Bắc! Tuy nhiên, khác với các nước Bắc Phi, Đảng và nhà nước Việt Nam dù đã quá hoang phí uy tín của mình được vun đắp nên từ quá khứ, cho đến nay vẫn chưa phải đã hoàn toàn cạn kiệt. Vấn đề là đã đến lúc phải “báo động đỏ”, để không né tránh mà nhanh chóng dân chủ hóa xã hội. Đại hội 11 đã quyết định: “Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị…”, tuy nhiên lại đề ra điều kiện “theo lộ trình thích hợp”. Điều đáng lo là lộ trình ấy sẽ kéo dài tới bao lâu? Xin đừng để nước đến chân mới nhảy!

Tôi vẫn muốn nhắc lại sự so sánh về ưu thế giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Đảng nhân dân cách mạng Campuchia (tiền thân là Đảng Cộng sản và nay là Đảng nhân dân Campuchia). Đảng bạn đã dũng cảm đổi mới triệt để, đến nay, sau mười năm Đảng bạn đã mạnh lên tuyệt đối. Đó là bài học rất quý báu.

Tuy nhiên chúng ta đã có sẵn bài học của Cách mạng Tháng Tám: Lý tưởng tự do, dân chủ sẽ khơi dậy nguồn sức mạnh vô tận của nhân dân, chiến thắng kẻ thù dù chúng rất hung hãn và nham hiểm, bảo vệ thành công độc lập của Tổ Quốc.

Kỷ niệm 66 năm ngày Cách mạng Tháng Tám

T.V.C.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.



------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2011

Tống Văn Công viết tặng André Menras – Hồ Cương Quyết... & các bài đăng trên BVN ngày 08/7/2011.

08/07/2011

Một chữ đồng

Tống văn Công
Viết tặng André Menras – Hồ Cương Quyết 

1 –
Sáng nay (7-7-11), chưa nguôi xúc động sau khi đọc bài Một tiếng nói trong nhà của anh, tôi lại đọc một bài của ông Nguyễn Thế Sự, một người Việt có học, bôi nhọ những người Việt yêu nước đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Dù rất mỏi mệt, tôi vẫn viết ngay gửi anh những dòng này.

Khi anh trả lời Phó bí thư Thành ủy Nguyễn văn Đua: “Đồng chí không có nghĩa là cùng trong Đảng. Từ lâu tôi đứng về phía Việt Nam trong mọi cuộc chiến đấu chống lại sự bành trướng và xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Cuộc tuần hành này cũng vậy”, tôi hiểu anh là…! André Menras - Hồ Cương Quyết ơi, tôi định gọi anh là đồng chí, nhưng lại lúng túng, rồi thấy không thể, bởi vì, “Tôi xấu hổ vì anh đồng chí; Vì dùi cui anh giương”!

Có lẽ từ đồng chí đã lâm bệnh trước khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ. Nó lâm bệnh, đúng ra là đã chết khi Trung Quốc nã đại bác vào Liên Xô. Không, có lẽ trước đó nữa, khi Mao Trạch Đông giết Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài như giết chó. Cũng còn trước lâu nữa, khi Stalin cho điệp viên đuổi theo tận Mexico để hạ sát L. D. Trotsky, một nhà lãnh đạo Cách mạng tháng 10, chỉ đứng sau Lénin… Ở Việt Nam không biết tự bao giờ đã có câu thành ngữ: “Khi thân mật mày mày, tao tao, lúc cãi nhau kính thưa đồng chí”. Từ “đồng chí” ở Việt Nam cũng đã lâm bệnh mạn tính. Người ta bắt đầu sáng tạo một từ mới “đồng thuận” để tìm sự gật đầu cho những chủ trương khó nuốt. Các nhà ngôn ngữ học chưa kịp đưa “đồng thuận” vào từ điển, nhưng nghị quyết nào cũng phải có nó, mới đây Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn vừa đưa nó vào ngôn từ ngoại giao với “sự đồng thuận Việt Nam - Trung Quốc”! Từ đồng thuận đang bị thách thức nghiêm trọng khi phải đối đầu với những kiến nghị (Kiến nghị dừng khai thác bauxite Tây nguyên, Kiến nghị yêu cầu Bộ Ngoại giao cung cấp thông tin liên quan đến quan hệ với Trung Quốc), tuyên cáo (Tuyên cáo lên án Trung Quốc xâm lược) và các cuộc biểu tình chống Trung Quốc gây hấn xâm chiếm biển đảo, đang bị công an ráo riết ngăn chặn.

Từ “đồng đảng” có lẽ cũng ra đời cùng thời với từ “đồng chí”. Thời ấy nó cũng có nghĩa rất đẹp: “Cùng trong một đảng – Chung nhau thờ một chủ nghĩa hay tín ngưỡng một học thuyết, một tôn giáo” (Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh). Hơn nửa thế kỷ sau, cuộc sống đã làm cho nó bị tha hóa thê thảm. Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học biên soạn bởi 17 nhà ngôn ngữ học, do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên, in lần thứ hai năm 1992 định nghĩa Đồng đảng: 1-d. Người cùng bọn với kẻ bất lương. Bắt được thủ phạm và đồng đảng. 2-t. Thuộc cùng một bọn với kẻ bất lương. Đồng đảng với lũ kẻ cướp” (Trang 347). Thế mới hay, con người tha hóa chẳng những tự hủy hoại nhân cách, thanh danh của mình mà còn gây họa cả cho những từ ngữ vốn có nghĩa tốt đẹp nhất!

Trừ hai từ đồng chí và đồng đảng bị biến nghĩa, may thay chữ “đồng” còn kết hợp với những chữ khác thành những từ rất đẹp như đồng tình, đồng tâm, đồng minh, đồng ý… đều vẫn đang sống lành mạnh! Tôi muốn trao cho bạn André Menras một chữ đồng còn nguyên chất. Nguyễn Du viết nhiều câu có chữ đồng rất đẹp, không chỉ cho Kim - Kiều mà có lẽ dành cho tất cả những con người dù bị vùi giập vẫn giữ được phẩm giá: “Đã nguyền hai chữ đồng tâm”; “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”... Xin quý mến tặng André Menras –Hồ Cương Quyết chữ ‘đồng” đẹp đẽ ấy.

2 –
Tôi nghĩ rằng Tổ quốc và nhân dân Việt Nam rất may mắn có được Menras - Hồ Cương Quyết. Có thể anh không đồng ý câu tôi vừa nói. Nhưng tôi nhớ Tổng thống F. Kennedy đã nói với người Mỹ: “Đừng hỏi Tổ quốc có thể làm gì cho bạn; hãy hỏi bạn có thể làm gì cho Tổ quốc”. Bởi vì mỗi công dân khi thành người đã mang nợ Tổ quốc, từ nơi chôn nhau cắt rốn, cho đến manh áo miếng cơm… Anh André Menras sang Việt Nam ở tuổi 20, vậy anh không nợ đất nước này điều gì cả. Anh gia nhập hàng ngũ những người yêu nước Việt Nam chỉ vì “giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha”. Tôi nhớ nhà thơ Pháp Lamartin nói đại ý: “Tổ quốc ấy là sự kế tục liên tiếp của một giống nòi, cùng có một lãnh thổ, cùng nói một ngôn ngữ, cùng chịu một pháp luật…”.

Sau này có lẽ Stalin đã dựa theo ý Lamartin mà định nghĩa về dân tộc na ná như thế, nhưng lại cho rằng thời phong kiến chưa thể hình thành dân tộc! Vậy mà ông Hoàng Xuân Nhị, một giáo sư Việt Nam vì quá mê tín Stalin, đã khẳng định dân tộc Việt Nam chỉ mới hình thành từ năm 1930, sau khi Đảng cộng sản ra đời! Ở cái thời những người cộng sản xem lãnh tụ Quốc tế 3 là trí tuệ của toàn nhân loại thì còn có thể thông cảm với ông giáo sư họ Hoàng. Còn ngày nay, trường hợp ông giáo Nguyễn Thế Sự mới thật khó thông cảm. Năm 29 tuổi, ông đã được chứng kiến 60 vạn quân Trung Quốc nhân danh quân đội cộng sản kéo sang giày xéo quê hương, bắn giết đồng bào ông. Năm 43 tuổi ông mới sang Trung Quốc học tiếng Tàu. Vậy mà bùa mê thuốc lú nào đã biến ông trở thành một tên lính xung kích về tư tưởng cho chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh?

Nhắc chuyện Nguyễn Thế Sự chẳng qua vì tôi vừa đọc bài viết của ông ta, khiến lòng quá bức bối, nhưng tôi đã kịp thấy nhắc như vậy ở bài viết này là có phần khiếm nhã đối với André Menras - Hồ Cương Quyết, người mà tôi quý trọng vì tấm lòng trong như pha lê. 

Thú thật với anh André Menras - Hồ Cương Quyết, nhờ đọc anh tôi mới biết “mộ gió” ở Lý Sơn. Nhờ anh tôi mới biết “bản đồ hành chính Việt Nam còn vắng các đảo Hữu Nhật, Quang Ánh, những địa danh mang nặng nghĩa tình, vì tại đây, tổ tiên của họ trong hải đội Hoàng Sa đã hy sinh”. Nhờ anh tôi biết những người vợ goá, trẻ mồ côi của các anh hùng vô danh bám biển, giữ chủ quyền Biển Đông cho Tổ quốc chưa được một chính sách trợ giúp nào!

Mới đây tôi vừa vui mừng và khâm phục Tiến sĩ Nguyễn Quang A của chúng tôi đã có sáng kiến đề ra việc sản xuất 20 triệu áo mũ in chữ NO-U (nói không với đường lưỡi bò). Đại học Hoa Sen tổ chức cuộc thi thiết kế logo Non-U. Nếu làm được việc này, tiền lãi từ 20 triệu chiếc áo sẽ giúp cho các gia đình ngư dân nói trên đỡ khó khăn. Tôi cứ nghĩ Đảng, Chính phủ sẽ có khen thưởng xứng đáng đối với Tiến sĩ Nguyễn Quang A và Đại học Hoa Sen. Không thể ngờ công việc mới khởi động đã phải ngừng lại “do có một thay đổi vào phút chót”! Ai cũng biết áp lực nào buộc phải dừng việc làm đầy ý nghĩa ấy! Ôi đau quá!

Vậy mà từ “một tiếng nói trong nhà” (có lẽ ở đây là trong trái tim nhân hậu của anh), anh đã lẳng lặng bỏ khoản tiền hưu ít ỏi để hoàn thành bộ phim tài liệu “Hoàng Sa nỗi đau Việt Nam”, viết một quyển sách và lập một Quỹ đoàn kết để giúp những người vợ goá con côi của những ngư dân bất hạnh.

Tổ quốc và nhân dân Việt Nam đau khổ bất hạnh thật may mắn được có André Menras - Hồ Cương Quyết chẳng những xoa dịu vết thương mà quan trọng hơn là tiếp sức để tiến tới!
3 –
Tấm ảnh anh chụp chung với các anh Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm – những anh hùng thời chống Mỹ, và một số người trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược hôm Chủ nhật 5-6-2011 ở Sài Gòn là biểu tượng Việt Nam thế kỷ 21!

Tất cả những việc làm của anh đều rất cần thiết cho Việt Nam hôm nay. Nhưng tôi cho rằng quan trọng nhất là anh đã giúp cho những đảng viên cộng sản, những chiến sĩ cách mạng nhận ra mình ngày hôm nay có còn đứng trong nhân dân hay không. Bản thân tôi từng là bộ đội thời kháng chiến chống thực dân Pháp, sau ngày 30-4-75, càng ngày tôi càng có cảm giác hình như Đảng của mình không còn được như ngày xưa, mà mãi đến năm 2009, tôi mới đặt bút viết bài cảnh báo phải “Đổi mới Đảng để tránh nguy cơ sụp đổ”. Vậy mà một số chi uỷ viên chi bộ Đảng đọc bài này đã nghi ngờ tôi đang bị bọn phản động sai khiến!

Do đó trong tình hình Việt Nam hiện nay, tiếng nói André Menras - Hồ Cương Quyết là tiếng nói vô tư nhất có giá trị cảnh tỉnh, chỉ trừ những ai trót đã ăn phải bả của Bắc Kinh.

Những ý kiến sau đây của anh là vô cùng quý giá cho Việt Nam.

– “…Tôi không thể tin rằng một Đảng có tài sáng tạo, đặc biệt thích nghi với những hoàn cảnh khó khăn chưa từng có, một Đảng mà bản chất đã biết khơi dậy những thách đố lịch sử, biết nhẫn nhục chịu đựng, nay vì những đặc quyền đặc lợi phù du mà trở thành một bộ máy hành chánh ngày càng dễ sai khiến, độc tài, thậm chí mang tính cảnh sát, một bộ máy hành chính bị cô lập, phụ thuộc lỗi thời và khiếp sợ trước những phát triển cần thiết của nền dân chủ”. “…Tôi tha thiết mong tìm lại được một Đảng mang tính hiện thực đáng tự hào, sẽ đi trước thời đại, hòa cùng nhịp bước với dân tộc”. “…Một Đảng tôn trọng báo chí và coi tự do ngôn luận, phản biện như một nhân tố của sự phát triển xã hội. Một Đảng tôn trọng và củng cố nhà nước pháp quyền như một sự bảo đảm cho tính hợp pháp của mình”.

– “Trong khi tôi lao hết mình vào cuộc chiến đấu này, tôi được biết tin gì đây? Rằng trong thời gian đó có một đặc phái viên Chính phủ Việt Nam, ông Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, sau chuyến đi thăm Trung Quốc, tuyên bố với Thông tấn xã Việt Nam rằng “Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc”. Tôi được biết ông ta tự mình làm tiếng vọng cho đòi hỏi của Trung Quốc: “Đề nghị hai bên thực hiện nghiêm túc thỏa thuận của cấp cao hai nước, không có những lời nói việc làm gây phức tạp thêm tình hình, không để vấn đề Biển Đông ảnh hưởng đến quan hệ hai nước”. Mà không thêm một lời bình nào hết. Nghe thấy điều này thực sự là cơn ác mộng đối với tôi. Làm sao mà một nhà chức trách cao cấp của Việt Nam lại có thể dám nói về “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” trước những phá hoại cố ý và những sự khiêu khích hạ nhục?
– “…Ai thiếu nghiêm túc một cách nghiêm trọng và chế nhạo một cách trâng tráo đối với nhân dân Việt Nam? Tại sao ông Sơn không nói lên điều ấy? Phải chăng phép ngoại giao đồng nghĩa với nhục nhã và khuất phục?”.

Anh André Menras yêu quý, 

Trước mắt chúng ta vô vàn khó khăn, không phải vì quân địch mạnh mà vì nó đã luồn vào nhà chúng ta rồi! Nhưng còn có một điều an ủi và khuyến khích chúng ta là lịch sử chưa từng có một bọn bất lương, phản bội nào đắc ý được lâu. Huyệt mộ lịch sử đang trước mặt chúng!
Ngày 7-7-2011
T.V.C.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
*****


»» xem thêm

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

Bản điều trần cứu nước... & và các bài đăng trên BVN ngày 27/6/2011


Đôi lời thưa với bạn đọc: 

Bài dài, chủ Blog cũng đang đọc sau khi đưa về từ BVN; các bài viết của bác Tống Văn Công luôn chứa đựng nhiệt huyết của một con người yêu nước, thương nòi (mặc dù bác là một người gốc Trung Hoa, giống như GS Vũ Cao Đàm thì phải?!); chắc chắn rằng bài viết của bác sẽ cô đọng với tầm nhìn của một người từng là TBT của một tờ báo rất có uy tín trước đây.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Có một điều rất thú vị là, chủ Blog đã từng nhận định rằng, chính Trung cộng mới đang sợ cuộc chiến ngoài Biển Đông, qua bài:



Trong bài này viết tác giả Tống Văn Công cũng nhận định như vậy. chính vì sợ hãi mà Trung cộng đã "triệu" ông thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn sang Bắc Kinh và có cái "Thông tin báo chí chung Việt Nam và Trung Quốc"; rất tiếc, Việt Nam hiện tại không nhận định ra tình hình.

Thật là tuyệt vời: Tổ quốc đang kêu gọi: Tất cả để cứu nước! Tất cả để chiến thắng!

Cảm ơn tác giả, nhà báo lão thành Tống Văn Công! 

Bản điều trần cứu nước


Tống Văn Công

imageKính gửi Đồng bào kính yêu và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam

Năm 17 tuổi tôi thoát ly gia đình làm nhân viên Ty Giáo dục kháng chiến tỉnh Bến Tre, 19 tuổi vào bộ đôi Cụ Hồ, có tên Vệ quốc đoàn, nghĩa là đoàn giữ nước. Trên con đường ấy, tôi trở thành đảng viên cộng sản, “không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” (Hồ Chí Minh). Tư tưởng “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do” đã củng cố niềm tin cho tôi suốt đời. Mang niềm tin ấy, tôi đã xem mọi sai lầm của Đảng, chỉ là do ấu trĩ, rồi sẽ vượt qua trên bước trưởng thành. 

Năm 2009, trong tâm trạng vô cùng bức xúc, tôi viết bài “Đổi mới Đảng, tránh nguy cơ sụp đổ”, nhấn mạnh hai hiểm họa trước Tổ quốc: giặc ngoại xâm và giặc nội xâm. Từ đó cho đến Đại hội 11, rất nhiều cán bộ đảng viên, có cả nguyên ủy viên Bộ Chính trị, rất đông đảo trí thức trong và ngoài nước góp nhiều ý kiến sâu sắc để đổi mới toàn diện, đổi mới chính trị tương ứng với đổi mới kinh tế, đổi mới kinh tế không bị kiềm hãm bởi ý thức hệ. Tiếc thay, Đại Hội 11 không tiếp thu xác đáng. Những người góp ý trung thực, thẳng thắn, bị nghi ngờ là có dụng ý xấu, thậm chí là phản động, chống đường lối của Đảng.

Nay, giặc ngoại xâm lăm le ngoài ngõ, láo xược lấn lướt gấp bội phần năm 2009. Thời báo Hoàn Cầu, tiếng nói chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc viết: “Phải sẵn sàng hai kế hoạch: Thương lượng với Việt Nam về giải pháp hòa bình; hoặc đánh trả bằng chính trị, kinh tế, thậm chí cả quân sự”. Báo điện tử Trung Quốc Binh khí đại toàn kêu gọi: “Hãy giết bọn giặc Việt Nam làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa!”. Hơn nửa thế kỷ trước, cố Tổng bí thư Lê Duẩn đã nhận định: “Bắc kinh từ lâu có âm mưu bành trướng về hướng Đông Nam Á, xâm chiếm nước ta”.

Tháng 9 năm 1975, trong chuyến sang Trung Quốc, ông đã nói thẳng với Trung Quốc phải trả lại Hoàng Sa của Việt Nam. Tiếc thay, chúng ta đã vội quên những điều ấy! 

Giặc tham nhũng cũng lớn lên rất nhanh, từ một vài “con sâu” đã sinh sôi cả “bầy sâu” (Thường trực Bộ Chính trị Trương Tấn Sang). Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, tham nhũng là “kẻ thù của nhân dân” là do ”không dân chủ”, cho nên “muốn chống tham ô, lãng phí, quan liêu thì phải dân chủ”. 

Nhìn lại lịch sử chúng ta thấy hai thứ giặc ngoại xâm và tham nhũng luôn luôn đồng hành cùng nhau, câu kết với nhau. 

Mặc dù, lần này Chính phủ Việt Nam phản ứng cuộc gây hấn của Bắc Kinh có mạnh mẽ hơn trước, tuy nhiên, chưa có sự thay đổi về bản chất, tức là chưa có tiền đề để Đảng với Dân một ý chí. Thật đau lòng và hổ thẹn xiết bao khi phải chứng kiến lực lượng cảnh sát săn đuổi, tóm cổ, kéo lê những sinh viên như Phan Nguyên như bắt con thú hoang, chỉ vì dám đi biểu tình chống người bạn vàng Trung Quốc xâm lược! 

Nhân dân đã bắt đầu căm giận. Làn sóng ngầm đang hình thành. Hãy nghe tiếng nói khách quan nhất của André Menras – Hồ Cương Quyết, một người Pháp tha thiết yêu chính nghĩa Việt Nam, tự nguyện trở thành người Việt Nam, từng bị chính quyền Sài Gòn bỏ tù vì đấu tranh cho Việt Nam, nay đã căm phẫn kêu lên: “Nói ngắn gọn, họ chỉ có thể là bọn xâm lược Việt Nam và những tay sai. Họ sử dụng từ ngữ dối trá, họ đúng là bọn phản động, chống minh bạch, sợ sự thật, sợ nhân dân, vì họ chỉ biết cái túi và cái ghế tạm thời của họ”. Phải nói như vậy chắc rằng ông ấy đau lòng lắm, và tôi cũng rất đau lòng lại phải nói ra đây!

Tổ quốc đang cần một Hội nghị Diên Hồng thời đại nhưng chưa được tổ chức. Trong nỗi niềm “quốc gia hưng vong”, học người xưa, tôi mạnh dạn viết Bản điều trần này, dù chắc chắn chưa đạt được chữ Trí, xin được coi đây là một tiếng nói trong triệu triệu tấm lòng của con dân nước Việt.  

THỜI ĐẠI CHÚNG TA ĐANG SỐNG 

Hơn hai trăm năm qua, dù trải qua nhiều khúc khuỷu, nhân loại vẫn tiến bước theo xu thế xóa bỏ độc tài, thực hiện Tự do, Dân chủ, Nhân quyền. Theo S. P. Huntington, sự sụp đổ phe xã hội chủ nghĩa gồm Liên Xô và các nước Đông Âu vào cuối thập kỷ 80 là đợt dân chủ hóa thứ 3 của nhân loại. Ông qua đời năm 2008, không được chứng kiến Mùa Xuân Nhân dân khởi đầu từ Bắc Phi, là đợt dân chủ hóa thứ 4, để góp thêm nhận định: Những chế độ độc tài tưởng như rất vững mạnh vẫn có thể đổ nhào khi nhân dân bừng tỉnh!

Do thiếu thông tin, những người cộng sản Việt Nam không biết rằng chủ nghĩa tư bản hoang dã mà Marx, Engels quan sát đầu thế kỷ 19 đã thay đổi đến mức có học giả cho rằng nó gần như không còn là nó nữa. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 đã đưa nhân loại vào nền văn minh hậu công nghiệp, với nền kinh tế tri thức, người lao động có tri thức khoa học công nghệ cao hơn người quản lý công ty. Những cải cách liên tục của chủ nghĩa tư bản đã biến công nhân từ người làm thuê thành người có cổ phần và là người tiêu dùng; xã hội đạt tới sự cân bằng giữa phát triển với bình đẳng; những nhà nước phúc lợi ra đời. làm cho những thân phận cơ nhỡ nhất cũng sống được, khiến các nhà nghiên cứu xô viết phải kinh ngạc kêu lên “Nhân dân nước họ được hưởng nhiều xã hội chủ nghĩa hơn ở Liên xô!”. Sau cơn choáng, nhiều đảng viên cộng sản Việt Nam ở cấp cao cũng đã nhìn nhận rằng nguyên nhân sụp đổ của phe xã hội chủ nghĩa là do nhân dân và cả đảng viên chán ghét chế độ thiếu tự do, dân chủ, đưa tới quan liêu, tham nhũng, kiềm hãm phát triển. Sau khi thay đổi thể chế, các nước Đông Âu đã đạt được tốc độ phát triển nhanh gấp hằng chục lần thời xã hội chủ nghĩa. 

Thế giới chỉ còn 5 nước do Đảng Cộng sản cầm quyền, ba nước đổi mới kinh tế là Trung Quốc, Việt Nam, Lào đã phát triển khá nhanh, nhưng nay đã bắt đầu lộ ra sự không tương thích giữa cơ sở kinh tế với chế độ chính trị, tiêu cực nảy sinh ngày càng lớn. Cu Ba và Bắc Triều Tiên kiên trì mô hình xã hội chủ nghĩa xô viết, cho nên vẫn tiếp tục nghèo đói. Gần đây lãnh tụ Fidel đã phải kêu lên “Mô hình Cuba không còn thích hợp nữa” và họ cũng đã bắt đầu cho tư nhân hóa nền kinh tế. 

Thế giới diễn biến phức tạp, nhưng không phải là không thể lường trước, nếu như nắm vững quy luật, xu thế của thời đại, là Tự do, Dân chủ, Nhân quyền. Đấu tranh sắc tộc, mâu thuẫn tôn giáo vẫn còn, nhưng cái gọi là “đấu tranh giai cấp” đã nhường chỗ cho những đòi hỏi nhân quyền, như biểu tình, đình công. Qua dự thảo văn kiện Đại hội 11, và cuộc giao lưu trực tuyến mới đây, thấy các nhà tuyên giáo cao cấp của Đảng không hiểu điều này, coi biểu tình là hình thức bạo động quá khích! 

Theo quan điểm dân chủ, nhân quyền, thì khái niệm độc lập, chủ quyền phải được xác định sau câu hỏi: “Người dân ở quốc gia nào đó đã có được một thể chế dân chủ, để người dân thực sự nắm được chủ quyền hay chưa?”. Đó là cơ sở lý luận để các nước dân chủ yểm trợ lực lượng nổi dậy gần đây. Hồ Chí Minh cũng đã có quan điểm như vậy khi ông nói: “Nếu nước được độc lập mà dân không được tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì.” 

Sự xuất hiện một siêu cường Trung Quốc đang là mối lo của thế giới. Bởi vì lịch sử đã chứng minh rằng một quốc gia hùng mạnh nằm trong tay bọn cầm đầu độc tài thì tất yếu chúng sẽ gây chiến tranh. Bắc kinh đã vứt bỏ chiến lược “Thao quang dưỡng hối” (che ánh sáng, nuôi bóng tối) của Đặng Tiểu Bình, đang khua vang binh khí, lên giọng bá quyền. Thế giới lo một thì Việt Nam phải lo mười, bởi vì Bắc Kinh bên ngoài thì đưa “16 chữ vàng” phỉnh phờ lãnh đạo Việt Nam, bên trong không ngớt tuyên truyền kích động chủ nghĩa Đại Hán, lớn tiếng hò hét: “Kẻ cản đường phát triển của Trung quốc về phía Nam chính là tiểu bá Việt Nam, đang xâm chiếm biển đảo của Trung Quốc”.  

TRUNG QUỐC CÓ ĐÁNG SỢ HAY KHÔNG?  

Sau Mao, Đặng Tiểu Bình tuyên bố xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, đưa ra thuyết “mèo trắng, mèo đen không quan trọng, miễn bắt được chuột”, thực chất là đưa Trung Quốc vào con đường phát triển tư bản hoang dã, nhưng vẫn giữ mô hình chính trị xô viết kiểu Stalin, bỏ hình thức độc tài cá nhân kiểu Mao, giữ chế độ độc tài một Đảng, tên gọi là Cộng sản, nhưng vứt hẳn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản như “sứ mệnh lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đội tham mưu…”. Tuy kinh tế phát triển nhanh chóng, nhưng trong nước công nhân và nông dân bị bần cùng, còn bên ngoài thì thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, câu kết với các thế lực cầm quyền độc tài tham nhũng ở Á, Phi, Mỹ La tinh, hòng vơ vét tài nguyên, xuất siêu hàng tiêu dùng rẻ tiền giá trị thấp, bán công nghệ lạc hậu, đưa lao động giản đơn định cư lâu dài khắp các nước. Việt Nam là một trong những nạn nhân của các mục tiêu thực dân ấy. 

Từ năm 2009, thấy Mỹ sa lầy ở Iraq, Afganistan, lại lâm vào khủng hoảng kinh tế, thành con nợ lớn của Bắc Kinh, chúng nghĩ rằng thời cơ giành vị trí chúa tể khu vực đã tới. Chúng dùng ngay phép thử: Cho tàu hải quân vây sát tàu Impeccable của hải quân Mỹ. Mỹ phản ứng ôn hòa, chúng tin rằng đã nắm được thóp, ba tháng sau lấn thêm, cho tàu ngầm làm đứt cáp thiết bị định vị của tàu hải quân Mỹ. Mỹ vẫn cho rằng tàu Trung quốc không cố ý. Bắc Kinh càng tin chắc rằng Mỹ đã quá yếu nên phải nhún nhường, chúng liền cho Bộ Ngoại giao ra tuyên bố đòi các tàu hải quân Mỹ phải xin phép trước khi đi vào khu đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.

Dằn mặt được Mỹ, Bắc Kinh liền thực hiện mưu đồ bành trướng xuống phương Nam mà cái gai phải nhổ là Việt Nam. Chúng cho tàu hải quân đâm chìm tàu ngư dân ta, bắt ngư dân nộp tiền chuộc, khiến nhiều chủ tàu tán gia bại sản, chúng ra lệnh cấm đánh bắt cá trên vùng biển của ta, để ngư dân của chúng tràn vào. 

Nhiều năm nay dư luận cho rằng Việt Nam quá nhu nhược trước sự áp chế của Trung Quốc mà nguyên nhân chỉ vì lãnh đạo Việt Nam ở trong thế kẹt. Từ tháng 10 năm 2010, sau khi ngọai trưởng Mỹ H. Clinton tuyên bố tại Hà Nội rằng Hoa Kỳ có quyền lợi và trách nhiệm đối với an ninh Biển Đông thì Việt Nam và các nước trong vùng mới bắt đầu có tiếng nói tự tin hơn. Tuy nhiên so với cách ứng xử của một số quốc gia khác như Nhật, Philippines, Hàn Quốc… thì chúng ta vẫn còn quá nhu nhược, thiếu minh bạch, và nguy hiểm nhất là gây ra khoảng cách ngày càng xa giữa nhân dân với Đảng, Chính phủ. 

Vậy hãy xem gót chân Achille của con ngoáo ộp Trung Quốc là đâu, để xác định rằng chúng có đáng sợ hay không. 

1- Điểm yếu nhất của anh to xác Trung Hoa chính là chế độ độc tài khiến hắn mang sẵn trong cơ thể chứng bệnh nan y. Theo xu thế thời đại, sự sụp đổ của các chế độ độc tài chỉ là vấn đề thời gian. Mỗi năm Trung Quốc phải chống đỡ hằng trăm ngàn cuộc biểu tình và bạo động của nông dân mất đất nghèo đói. Nhân dân các vùng Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương chỉ chờ dịp Bắc Kinh bị lôi vào cuộc chiến với bên ngoài sẽ vùng lên đòi tự do. Tháng 5-2011, hàng ngàn người Mông Cổ biểu tình làm rung chuyển Tích Lâm và các huyện gần đấy. Nhiều vụ đánh bom liên tục xảy ra ở các tỉnh Giang Tây, Sơn Đông, Thành Đô, Hắc Long Giang, Thiểm Tây, thành phố Phúc Châu… Nhiểu cuộc biểu tình gây ra đụng độ giữa dân chúng và cảnh sát ở Quảng Châu, Hồ Bắc, Hà Nam, Quảng Đông, Tây Tạng, Lan Châu, Liêu Ninh, Bắc Kinh, Thượng Hải… 

Nhiều nguồn tin cho rằng, bọn cầm quyền Bắc Kinh gây hấn với Viêt Nam vừa qua còn có mục đích kích động chủ nghĩa Đại Hán làm giảm áp lực chống đối ở trong nước. Tuy nhiên, chúng không lường được là gây chiến sẽ tạo thời cơ cho sự nổi dậy của quần chúng đang sục sôi chờ cơ hội. 

2- Nền kinh tế Trung Quốc hiện nay chủ yếu dựa vào sản xuất hàng tiêu dùng, sử dụng lao động giản đơn, có giá trị thấp, giá nhân công rẻ, xuất khẩu ra toàn thế giới. Riêng Việt Nam hàng năm nhập siêu loại hàng này của họ khoảng 12 tỉ USD. 

Gây chiến với Việt Nam, chúng nhằm chiếm trọn Biển Đông. Điều ấy xâm phạm lợi ích và an ninh toàn khu vực Đông Nam Á và cả Châu Á - Thái Bình Dương. Chẳng những Việt Nam bị nhốt, không có lối ra mà cả khu vực cũng bị nhốt. Trung Quốc sẽ trở thành lực lượng thao túng thế giới chà đạp lên luật pháp quốc tế. Phản ứng tối thiểu đầu tiên của khu vực, rồi loan ra toàn thế giới sẽ là tẩy chay hàng Trung Quốc. Hậu quả sẽ là đánh sập nền kinh tế xuất khẩu của cái “công xưởng thế giới” Trung Quốc, sẽ gây thất nghiệp đối với hàng triệu lao động giản đơn nghèo đói, sẵn sàng nổi loạn. Vấn đề kinh tế nhanh chóng trở thành chính trị có thể làm sụp đổ chế độ. 

3- Nền kinh tế của chúng đang rất khát năng lượng. Đường vận chuyển dầu từ Trung Đông về Trung Quốc phải qua eo biển Malacca, qua Biển Đông. Nếu chiến tranh nổ ra, các đối thủ của Bắc Kinh sẽ không quá khó tìm cách triệt phá con đường tiếp vận mạch máu năng lượng nuôi sống nền công nghiệp có thiết bị lạc hậu tiêu hao năng lượng lớn thứ 2 thế giới. Khi đó lực lượng đặc công biển của Việt Nam sẽ có dịp trổ tài biến những tàu chiến Trung Quốc thành những quan tài thủy táng. 

4- Nửa thế kỷ qua, với chính sách hiếu chiến, tham lam, Trung Quốc biến mình thành kẻ thù của nhiều nước – Liên Xô (nay là Nga), Ấn Độ, Nhật Bản, Việt Nam, mới đây là Philippines, Brunei, Indonesia, Malaysia… Điều quan trọng là chế độ độc tài Bắc Kinh trong vị thế bị bao vây giữa các quốc gia dân chủ, đang là những tấm gương soi cho nhân dân Trung Quốc so sánh, căm giận và thêm khao khát tự do… Nếu tấn công Việt Nam, chúng nó không chỉ gặp lưỡng đầu mà sẽ là thập đầu thọ địch! Toàn khu vực, toàn thế giới sẽ bùng lên một phong trào ủng hộ và bảo vệ Việt Nam như những năm xưa. 

Có lẽ bọn lãnh đạo Bắc Kinh không đến nỗi quá ngu muội không nhận ra những chỗ yếu đó, cho nên chúng chưa vội ra tay. Đừng sợ chúng, nhưng cũng đừng ảo tưởng vào thiện chí của chúng. Chúng sẽ ra tay khi tự cho rằng đã hóa giải được những “yếu huyệt” kể trên và ViệtNam chưa xử lý được những điểm yếu của mình. Chúng ta cần có ngay những quyết sách dũng cảm, sáng suốt để chạy đua với thời gian, trở thành vô địch trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Được như vậy, Bắc Kinh không còn dám khinh nhờn, đành phải chấp nhận Trung – Việt hòa bình, hữu nghị, và khi đó, “16 chữ vàng” mới có cơ may được thực hiện một cách bình đẳng.  

ĐỂ VIỆT NAM TRỞ THÀNH “MỘT NHÂN VẬT QUAN TRỌNG CỦA THẾ GIỚI”! 

Vấn đề là chúng ta có thể hiện được mình là một quốc gia đáng được trân trọng bảo vệ trước nhân loại tiến bộ ngày nay như đã từng được vinh danh là ”lương tâm nhân loại” như xưa kia hay không? Lịch sử đã ghi nhận công lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc. Tuy nhiên, Đảng chưa nhận ra đúng nguyên nhân cốt lõi đưa tới thắng lợi chính là tinh thần yêu nước của dân tộc. Lịch sử cũng đã ghi nhận nhiều sai lầm của Đảng Cộng sản Việt Nam do những chính sách xuất phát từ ý thức hệ, gây tác hại nghiêm trọng, kiềm hãm phát triển, để lại nhiều di hại, trong đó có hai hiểm họa là giặc ngoại xâm và giặc nội xâm! Ý thức hệ đã trói buộc Đổi mới với những khẩu hiệu chống diễn biến hòa bình, chống tự diễn biến, hòng tiếp tục duy trì tình trạng mà đồng chí Nguyễn Văn An đã sáng suốt chỉ tên là “lỗi hệ thống”. Những người bảo thủ không biết rằng chính Marx, Engels sau 25 năm công bố Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, đến năm 1873 đã viết: “Những biện pháp cách mạng nêu cuối Chương 2, nếu ngày nay viết lại thì về nhiều mặt phải viết khác đi. Bởi vì nền đại công nghiệp đã có những tiến bộ hết sức lớn trong 25 năm qua” và “Chương 4: có những nhận định đã cũ rồi, vì tình hình chính trị đã hoàn toàn thay đổi” (Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nhà XB Sự Thật, Hà Nội, 1974, trang 8, 9). Từ năm 1866 trở đi hai ông chủ trương không tiếp tục xây dựng Đảng Cộng sản, mà bắt đầu xây dựng Đảng Xã hội dân chủ. Nhiều Đảng Cộng sản châu Âu theo chủ trương này đã đổi mới triệt để (Thụy Điển, Na Uy, v.v.) được nhân dân tin theo, xây dựng thành công dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh. Chẳng lẽ chúng ta không chịu tiếp thu bài học “tự diễn biến” vô cùng sáng suốt của Marx, Engel? Đã quá muộn để chúng ta quyết định chia tay với Marx, Engels cộng sản, và mạnh dạn đi theo Marx, Engels xã hội dân chủ! 

Giáo sư Dương Phú Hiệp, nguyên Tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung ương góp ý văn kiện Đại Hội 11: “Nên bỏ cụm từ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta vì nó đã khốn khổ”. Đúng vậy, không chỉ nhân dân ta vì nó đã khốn khổ mà hằng ngàn đảng viên cộng sản chết oan vì nó trong cải cách ruộng đất; bị tù tội vì nó trong những vụ chống xét lại; những trí thức, văn nghệ sĩ ưu tú nhất vì nó mà bị hành hạ trong vụ Nhân văn Giai phẩm. Hằng triệu người vì nó, bỏ xứ di cư vào Nam; rồi hằng triệu người khác vì nó bỏ nước chạy ra nước ngoài. Nhân dân ta khát vọng Độc lập Tự do, chứ không hề khát vọng chủ nghĩa xã hội. Những lời kêu gọi của Hồ Chí Minh khi chuẩn bị khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và Đồng khởi ở miền Nam năm 1960 đều không có từ xã hội chủ nghĩa. Và điều mong ước cuối cùng của Cụ Hồ cũng là “Một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Nhiều nhà bình luận về sự kiện Trung Quốc gây hấn với ta mới đây, như Ernest Bower, giám đốc chương trình Đông Nam Á (của CSIS) trả lời phóng viên Hoài Hương của VOA đã cho rằng: “Nhưng dù sao họ cũng là hai nước cộng sản anh em” (!). Ông Richard Pearson, nhà nghiên cứu về Trung Quốc, Việt Nam và Biển Đông, nhận định: “Sự cởi mở của chính quyền Obama đối với Việt Nam đã đạt tới ranh giới buộc phải chấp nhận trong xã hội dân sự và những giá trị Mỹ. Giờ đây đã đến lúc Hà Nội phải thực hiện hành động tiếp theo.” Mặc dù Philippines không bị Trung Quốc đe dọa láo xược như đối với Việt Nam, nhưng ngoại trưởng Clinton nhiều lần lên tiếng: Chúng tôi muốn nhấn mạnh cam kết của chúng tôi trong việc bảo vệ Philippines”. Ông Greg Autry, đồng tác giả quyển Thần chết Trung Quốc, cho rằng Việt Nam cần thoát khỏi sự ràng buộc làm đồng minh thể chế với Trung Quốc, để có được một vị thế mới trong lòng nhân loại: “Nếu Việt Nam có thể thay đổi chế độ chính trị một cách đáng tin cậy thì Việt Nam gần hơn với Hoa Kỳ và Châu Âu, và có thể lúc đó Hà Nội lại đi bước trước Bắc Kinh trong việc trở thành một nhân vât quan trọng trên thế giới”. 

Trước họa xâm lăng nhãn tiền, lịch sử đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam sáng suốt đứng hẳn với dân tộc, không vấn vương ý thức hệ lỗi thời, chọn những giải pháp cứu nước tốt nhất. Xin chỉ nêu ra dưới đây những điều thật cấp thiết.  

MỘT CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ ĐÚNG NHƯ LỜI HỨA CỦA CỤ HỒ  

Bản Tuyên ngôn Độc lập 1945 không chỉ là lời hứa mà đúng ra phải gọi là Lời thề của Cụ Hồ trước quốc dân Việt Nam và nhân dân thế giới. Nhân dân Việt Nam nhất tề hưởng ứng và trung thành với Lời thề ấy suốt hai cuộc kháng chiến thần thánh. Hai câu mở đầu trích từ Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp đã chứng minh dứt khoát rằng Cụ Hồ đã chọn cho nhân dân mình nền Tự do Dân chủ từ tư tưởng của các bậc khai sáng vĩ đại của Pháp và phương Tây thế kỷ 18. Trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa Marx, Lenin không có khái niệm “dân chủ xã hội chủ nghĩa” và “pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Phải nói đó là những ngụy ngôn, nhằm hồi sinh cho một khái niệm đã chết. Cái mà Lenin gọi là “dân chủ gấp triệu lần hơn” chính là nền chuyên chính vô sản, bản chất “dân chủ triệu lần” của nó được biện hộ rằng nó đại diện cho một xã hội trải qua cải tạo giai cấp triệt để chỉ còn duy nhất một giai cấp công nhân. 

Ngoài việc tự tay soạn bản Tuyên ngôn Độc lập đúng tầm thời đại, Hồ Chí Minh còn có nhiều danh ngôn về tự do dân chủ trong hằng trăm bài viết. Nếu nhìn vào hệ thống chính trị của chúng ta hiện nay và nhận xét một cách trung thực thì chẳng có gì giống với những điều Hồ Chí Minh đã nói, đã hứa hẹn, đã thề bồi! Có người cho rằng lý tưởng cao đẹp từ cách mạng Tháng Tám đã bị phản bội! Tôi không hoàn toàn đồng ý với nhận xét đó. Hồ Chí Minh nhiều lần công khai trả lời rằng mình chỉ xem chủ nghĩa Marx, Lenin là một phương tiện để giành độc lập dân tộc, chứ không phải là mục đích. Ông đã có nhiều hành động chứng tỏ điều ấy, cho nên đã bị Stalin trù dập và bị Trần Phú, Hà Huy Tập… công kích gay gắt. Ông không thể đưa con thuyền cách mạng Viêt Nam cặp bến dân chủ, điều đó phải xét tới trách nhiệm của các thế lực hiếu chiến Pháp, Mỹ, buộc ông phải tìm liên minh với phe xã hội chủ nghĩa. 

Trước họa xâm lăng hiện nay, lão anh hùng Nguyễn Trọng Vĩnh cho rằng cần thực hiện dân chủ trong Đảng và ngoài xã hội để tạo ra sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Phải thẳng thắn thưa rằng, kinh nghiệm lịch sử cho thấy, với thể chế toàn trị xã hội chủ nghĩa thì không thể nào làm được điều mong ước dân chủ tốt đẹp ấy! 

Vậy nền dân chủ mà nhân loại đòi hỏi là gì? Dân chủ là thể chế hóa quyền tự do của nhân dân. Điều 1 Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp viết: “Mọi người sinh ra sống tự do và bình đẳng về các quyền…”; Điều 4: “Tự do bao gồm quyền có thể làm mọi điều không gây hại cho người khác…”. Để giới hạn những điều không gây hại cho người khác, J. J. Rousseau cho rằng cần có “Khế ước xã hội”, hạn chế cái tự do thiên nhiên, quy định những điều được làm trong quyền tự do dân sự. Trong trạng thái dân sự, con người có quyền tự do tinh thần, và “tuân theo quy tắc do mình tự đặt ra”. Thể chế dân chủ, nhà nước pháp quyền là định hình của Tự do. 

Để có một nhà nước dân chủ, thực sự của dân, do dân, vì dân, phải thực hiện cuộc bầu cử có đủ các yếu tố: 

- Bình đẳng, tức là không phânbiệt giai cấp, gái trai, chủng tộc; 

- Phổ thông tức là mọi người dân đã trưởng thành đều có quyền ứng cử, bầu cử;

- Tự do, tức là tôn trọng mọi quan điểm chính trị khác nhau; 

- Cạnh tranh, tức là công khai cương lĩnh tranh cử để người dân chọn lựa; và theo định kỳ mấy năm bầu lại một lần. 

Nhà nước dân chủ là nhà nước pháp quyền, chứ không phải “pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, một sản phẩm của TBT Đỗ Mười ra đời 29 tháng 11 năm 1991 nhằm duy trì ý thức hệ với nội dung “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng”.  

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VỚI TAM QUYỀN PHÂN LẬP 

Sau 18 năm thực hiện “tam quyền được phân công và phối hợp” của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tiến sĩ Hồ Bá Thâm dù hết sức e dè vẫn phải nói: “Kéo dài ngày càng trầm trọng tệ tham nhũng, cửa quyền, quan liêu, lãng phí hiện nay trong hệ thống chính trị và trong xã hội ta, càng thấy thiếu sót lớn trong một cơ chế thiếu giám sát và kiềm chế quyền lực tệ hại như thế nào. Đó là chỗ hổng và yếu kém nhất trong cơ chế tam quyền của nhà nước, phải được khắc phục sớm”.

Tuy nhiên văn kiện Đại hội 11 vẫn viết na ná như cũ, chỉ thêm “cơ chế kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện ba quyền đó”. Vấn đề không phải là “kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện” mà là ba quyền phân lập, để quyền lực này kiềm chế, giám sát quyền lực kia, chống sự lạm quyền. Chính phủ phải bị kiểm soát bởi luật pháp thì mới không là cấp trên, là cha mẹ của dân, mới thành tâm làm đầy tớ của dân. Một thể chế không hạn chế được quyền lực thì bao nhiên cơ quan thanh tra, kiểm tra cũng vô hiệu. Chỉ một tập đoàn kinh tế như Vinashin chứ không phải cơ quan quyền lực nhà nước, thế mà qua 11 cuộc thanh tra cấp nhà nước vẫn không thể phát hiện được là nó dã thâm thủng ngót trăm ngàn tỉ đồng, và sắp sụp đổ! 

Cả ba quyền của Nhà nước Việt Nam đều yếu kém, nhưng có lẽ tệ nhất là quyền tư pháp, nó không dám nói một lời nào trước những bộ luật vi hiến rất nghiêm trọng, tước mất mọi quyền tự do của nhân dân, nó sợ quan chức ở tất cả các cấp, nó luôn chờ ý kiến chỉ đạo của cấp ủy Đảng trước khi mở phiên tòa!

2500 năm trước nhà hiền triết Platon đã có lời răn: “Tôi nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của nhà nước ở nơi nào pháp luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền lực của một ai đó. Còn nơi nào pháp luật đứng trên nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ cho pháp luật thì ở đó có sự cứu thoát cho nhà nước”. 

Chấp nhận tam quyền phân lập không chỉ nhân dân được lợi mà chính là sự cứu rỗi cho Đảng Cộng sản Việt Nam có cơ hội thoát khỏi vũng bùn tham nhũng ô nhục đang gây đau nhức lương tâm của hàng triệu đảng viên chân chính và công nhân, nông dân nghèo khổ.  

TỰ DO, NHÂN QUYỀN ĐÚNG NỘI DUNG CỦA CÁC CÔNG ƯỚC LIÊN HIỆP QUỐC  

Hiến pháp 1992 ghi nhận đủ mọi quyền tự do, nhân quyền nhưng các bộ luật vô hiệu hóa tất cả! Có hai lý lẽ bào chữa cho sự đánh tráo khái niệm này là: Vì đảm bảo an ninh; vì truyền thống văn hóa. 

Chỉ cần nhắc lại ý kiến Marx, Engels 160 năm trước trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản cũng đủ thấy lập luận trên là sai trái, thậm chí là phản động: “Những thành quả hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc. Tính chất hẹp hòi phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa” (sách đã dẫn, trang 50). Hội nghị nhân quyền ở Vienna 1993 nhắc nhở: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau. Cộng đồng quốc tế phải xử lý các quyền con người theo phạm vi toàn cầu một cách công bằng và bình đẳng và được coi trọng như nhau”, và “Trong khi công cuộc phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc hưởng thụ mọi quyền con người, không viện dẫn sự kém phát triển để biện minh cho việc cắt xén các quyền con người đã được quốc tế thừa nhận”. Chính vì không chịu làm như thế cho nên các tổ chức quốc tế và Bộ Ngoại giao Mỹ luôn luôn xếp Việt Nam thuộc những quốc gia tồi tệ nhất trong việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền. 

Công ước quốc về các quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết thực hiện từ năm 1982, nay đã qua 29 năm lẽ nào cứ khất lần mãi?  

QUYỀN TỰ DO CHÍNH TRỊ  

Lời nói đầu ICCPR viết: 

“Chỉ có thể đạt được lý tưởng của con người tự do được tận hưởng tự do về dân sự và chính trị, không bị sợ hãi và thiếu thốn nếu tạo được những điều kiện để mỗi người có thể hưởng các quyền dân sự và chính trị cũng như các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của mình”. 

Và Điều 2: “Mỗi quốc gia thành viên của Công ước này cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền pháp lý của mình, các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, CHÍNH KIẾN (tôi nhấn mạnh) hoặc mọi quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc các điều kiện khác”. 

Hàng chục năm qua, những người nói lên chính kiến khác của mình, tức là khác với chủ nghĩa Marx-Lenin hoặc khác với đường lối chính trị của Đảng đã bị bắt, bị tù, nhưng không gọi là tù chính trị mà là tội phạm luật hình!

Gần một thế kỷ trước lãnh tụ vĩ đại của Đảng Cộng sản Đức Rosa Luxemburg đã nói “Tự do không phải dành riêng cho đảng viên của một Đảng, dù Đảng ấy đông đảo đến đâu đi nữa. Tự do luôn luôn phải là tự do của những người bất đồng chính kiến”. 

QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN  

Điều 19 của ICCPR: 

“1-Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào.

“2- Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bảng viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ. 

“3- Việc thực hiện những điều quy định tại Khoản 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định, tuy nhiên những hạn chế này phải được pháp luật quy định là cần thiết để:

a/ Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác;

b/ Bảo vệ an ninh quốc gia, hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”( Điều 19 ). 

Quyền tự do ngôn luận đã được các Hiến pháp nước ta từ 1945 đến 1992 ghi nhận, nhưng chỉ được thực hiện những năm 1945-1955. Các Luật báo chí sau này chỉ công nhận quyền tự do ngôn luận của tập thể, cắt bỏ hầu hết quyền tự do ngôn luận của mỗi công dân. Khi bị chỉ trích thì vin vào việc phải “bảo vệ an ninh quốc gia” chưa thể thực hiện cho mỗi người. Chẳng những thế, Luật hình sự Việt Nam đã chế biến nội dung điều 19 của ICCPR thành nội dung Điều 88, với mức án phạt nhiều năm tù!

Trong khi đó, Tổng thống Obama, sau khi đắc cử đã tuyên bố với báo chí rằng: “Một chính phủ lấn lướt báo chí, một chính quyền không bị đối mặt với hệ thống truyền thông cương trực và mạnh mẽ, đó không phải là sự lựa chọn của nước Mỹ!”. Ông Obama liên tục bị hệ thống truyền thông Mỹ công kích, thế nhưng cho đến nay chưa có ứng cử viên nào sáng giá hơn ông trong cuộc bầu cử Tổng thống vào năm 2012. 

Chúng ta đều biết rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì đòi quyền tự do báo chí cho nhân dân Việt Nam từ năm 1919 khi đưa Bản yêu sách tới Hội nghị Versailles. Từ đó về sau Cụ liên tục nhắc lại đòi hỏi này: “Mãi tới bây giờ vẫn chưa có một người Việt Nam nào được cho phép xuất bản một tờ báo. Tôi muốn nói về những tờ báo về chính trị, kinh tế, hay văn học của người dân lập ra như chúng ta từng thấy ở châu Âu, hoặc các nước châu Á khác, chứ không phải tờ báo do chính quyền thành lập” (1921-1926). 

Sau Cách mạng tháng Tám, trong tình hình chính trị phức tạp, ngày 21 tháng 3 năm 1946, Phó Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng đã ký sắc lệnh “Cho phép báo chí xuất bản không phải xin phép mà chỉ cần thông báo cho nhà chức trách biết.” Cũng cần nhắc lại rằng năm 1938, báo Dân chúng của Đảng Cộng sản (ở số 43 Đường Hamelin, nay là Lê Thị Hồng Gấm Q1, TP HCM) xuất bản không xin phép và được Chính quyền thực dân Pháp chấp nhận, sự kiện này mở đầu cho quyền tự do báo chí ở nước Việt Nam thuộc địa. Chẳng lẽ sau hơn 60 năm cách mạng, quyền tự do ngôn luân, tự do báo chí, bị lùi lại so với chế độ thực dân Pháp?! Chẳng lẽ thực dân Pháp không sợ ngôn luận của Đảng và nhân dân Việt Nam công kích chúng, mà ngày nay Đảng lại sợ ngôn luận tự do của chính nhân dân mình?  

QUYỀN TỰ DO HỘI HỌP, LẬP HỘI 

Hiện nay, Việt Nam có hơn 300 hội đoàn hoạt động trong phạm vi cả nước và khoảng 2000 hội đoàn hoạt động trong nội bộ các tỉnh thành. Trung bình mỗi người có chân trong hơn 2 hộị đoàn. Các đoàn thể lớn như Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Liên hiệp Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, ở cấp Trung ương đều do Ủy viên Trung ương Đảng làm chủ tịch. Ở các cấp dưới thì do Ủy viên Thường vụ Đảng làm chủ tịch. Các đoàn thể này và cả các đoàn thể nhỏ hơn như Hội Cựu chiến binh, Hội Nhà báo, Hội Nhà văn, Hội Khoa học Kỹ thuật… đều ăn lương Nhà nước. Các đoàn thể là cánh tay nối dài của Đảng. Các hội đoàn kể trên, dù hội viên không tín nhiệm cũng cứ phải vào, không ai được phép đứng ra lập một hộị đoàn thứ hai, dù xin tự nguyện hoạt động không ăn lương Nhà nước. 

Các hội đoàn đều có trường huấn luyện cán bộ. Công đoàn có trường đại học và nhiều trường cấp tỉnh thành. Tuy nhiên hiệu quả hoạt động của tất cả các đoàn thể đều rất kém, thường bị chỉ trích là “hành chính hóa” các hoạt động. Ví dụ như Công đoàn, mấy năm nay đã có hằng ngàn cuộc đình công tự phát, tức là công nhân đình công không có chỉ đạo của Công đoàn (như vậy bị coi là không hợp pháp!). Có những cuộc đình công từ 5.000 đến 10.000 công nhân tham gia. Năm 2010 có 424 vụ đình công, quý 1 năm 2011 có 220 vụ đình công. Trước tính trạng đó, những người soạn thảo sửa đổi Bộ Luật Lao động, đã đề nghị cho phép thành lập “đại diện tập thể lao động ở những doanh nghiệp chưa thành lập Công đoàn”. Trong cuộc họp do Tổng Liên đoàn Lao động tổ chức để góp ý Dự thảo này, các cán bộ công đoàn đã phê phán rất mạnh mẽ đề nghị nói trên với hai lý do:

1- Sự hiện diện của một tổ chức không phải là công đoàn mà làm thay chức năng của công đoàn, tạo tiền lệ hết sức nguy hiểm, nếu không nói là cổ xúy và thừa nhận “đa nguyên công đoàn”. 

2- Nhiều đại biểu cho rằng đây là một bước lùi: Bởi phần lớn các cuộc đình công đã qua là đình công về quyền chứ không phải đình công vì lợi ích (!) Do đó nếu không điều chỉnh kịp thời thì sẽ còn tiếp tục có những cuộc đình công không tuân theo quy định của pháp luật. 

Ở các quốc gia dân chủ người ta sẽ khó hiểu câu chuyện kể trên. Đã bao nhiêu năm tổ chức Công đoàn không làm được trách nhiệm bảo vệ quyền lợi cho công nhân, nay chỉ vì để chữa cháy mà người ta đề ra biện pháp tạm thời cho công nhân bấu víu khi chưa lập được công đoàn thì lại quy chụp một tội tày đình, có thể đi tù! Người công nhân đi làm chỉ mong có lương, có phụ cấp, thậm chí vài nghìn đồng cho bữa ăn giữa ca, ai cũng thấy vậy, họ đâu có đòi làm vương làm tướng gì để có thể chịu rủi ro mất việc? 

Quyền tự do hội họp, và lập hội như trên thì rõ ràng là điều Cụ Hồ đòi từ năm 1919 đến nay người Việt Nam vẫn chưa có.  

CẦN CÓ MỘT XÃ HỘI CÔNG DÂN! 

Thực hiện những điều kể trên là tạo điều kiện để tái lập xã hội công dân (cũng gọi là xã hội dân sự) đã bị mất đi từ khi thiết lập thể chế xã hôi chủ nghĩa toàn trị. Người ta coi nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường, xã hội công dân là ba chân kiềng của chế độ dân chủ. Vì sao? 

Khái niệm xã hội công dân (cũng gọi là xã hội dân sự) có từ thời thượng cổ, nó đáp ứng sự cần thiết của người dân tự nguyện liên kết với nhau ngoài chính trị, ngoài nhà nước, bảo vệ những lợi ích, những giá trị sống, vừa xây dựng vừa chống lại xu hướng độc tài, quan liêu của nhà nước.

Nhà nước luôn luôn có xu hướng lạm quyền. Ở các nước dân chủ, vẫn còn những tiêu cực, các Đảng ra tranh cử đôi khi đặt lợi ích của Đảng lên trên lợi ích của dân. Nhà nước không xử lý thỏa đáng các vấn đề như thuế má, phúc lợi xã hội, can thiệp bằng chiến tranh với bên ngoài… Trong chế độ dân chủ, mỗi người dân có lợi ích và xu hướng khác nhau, họ tìm đến nhau thành những nhóm, những hội, rồi những nhóm những hội này tìm sự đồng thuận với những nhóm những hội khác. Xã hội công dân đấu tranh ôn hòa bảo vệ tự do của con người trong xã hội hiện đại. Nhà nước pháp quyền điều tiết sự khác nhau giữa các nhóm, các hội bằng pháp luật, khi cần thì điều chỉnh pháp luật trên cơ sở của một chế độ mọi quyền lực thuộc vế nhân dân. 

Ở các nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết thì trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế đến văn hóa, xã hội đều bị chính trị hóa. Mọi quyền sở hữu, về tư liệu sản xuất, cả sở hữu sức lao dộng của mình cũng không còn, tất cả đều là của tập thể. Xã hội công dân bị buộc phải nhường chỗ cho xã hội toàn trị. Cuộc dân chủ hóa ở Liên xô và Đông Âu là quá trình hình thành và lớn lên của xã hội công dân, đưa tới sức mạnh chuyển quyền lực chính trị từ nhà nước chuyên chính sang nhân dân. 

Việt Nam ta đến nay vẫn chưa có một xã hội công dân đúng nghĩa. 

Cuộc Đổi mới chính trị quá chậm so với đổi mới kinh tế, sau 25 năm vẫn chưa có một nhà nước thực sự dân chủ, các quyền tự do dân sự và chính trị không được thực hiện, do đó chưa hình thành một xã hôi công dân. Tình hình đó làm tích tụ dông bão rất nguy hiểm đối với Đảng cầm quyền và có thể làm tiêu hao sinh lực của dân tộc, trước giặc ngoại xâm.  

XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA HIỆN ĐẠI 

Tổ tiên chúng ta đã để lại một đất nước nghìn năm văn hiến mà cốt lõi là tư tưởng nhân văn cao cả “Thương người như thể thương thân”. Hơn một trăm năm qua, chúng ta cũng có nhiều thành công trong việc Việt Nam hóa những tinh hoa văn hóa của nhân loại, đặc biệt là từ văn hóa Pháp và phương Tây. Vào thời xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta du nhập tư tưởng “người với người là bạn”, “mình vì mọi người, mọi người vì mình” rất đẹp, nhưng không làm được bao nhiêu, đến nay thì không còn gì.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng văn hóa Việt Nam đang lâm vào bất ổn, nổi bật là đạo đức xã hội xuống cấp, dối trá, lừa đảo, bạo lực đang thay cho trung thực, minh bạch, nhân hậu. 

Chúng tôi cho rằng sự đảo điên nhân tình bắt nguồn từ sự đảo điên của thể chế: Nói quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân, nhưng nhân dân không có quyền gì cả; nói cán bộ đảng viên là đầy tớ của nhân dân, nhưng thực tế họ như là cha mẹ nhân dân; nói công nhân là giai cấp lãnh đạo, nhưng thực tế họ làm tăng ca, tăng kíp vẫn lương không đủ ăn, đi biểu tình thì bị coi là bất hợp pháp… Cuộc sống đẩy con người phải phản ứng, nhưng không được luật pháp bảo vệ, hướng dẫn sự phản ứng bằng hành động ôn hòa, khiến nảy sinh những manh động mất lý trí, rồi sự lặp đi lặp lại tình trạng ấy của số đông lâu ngày trở thành một nếp văn hóa tiêu cực. 

Chế độ xã hội chủ nghĩa áp đặt quan điểm chính trị lên sinh hoạt văn hóa, đặt ý thức hệ lên trên đạo đức truyền thống, lấy chủ nghĩa Marx, Lenin làm chân lý độc tôn, đề cao tuyệt đối chủ nghĩa tập thể, đồng nhất chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa vị kỷ, buộc văn học, nghệ thuật phải minh họa đường lối chính trị, phục vụ chính trị. Đó là những nguyên nhân làm cho văn hóa thui chột và méo mó.

Phải để cho văn hóa phát triển tự nhiên trong cuộc sống tự do dân chủ, lao động sáng tạo, giữ lại cái đẹp của dân mình và du nhập cái tinh hoa của người, nước ngoài, sàng lọc và thải loại những gì không phù hợp với thể trạng tinh thần của người Việt Nam trong cuộc sống luôn luôn đổi mới.  

CẢI CÁCH GIÁO DỤC 

Giáo dục Việt Nam cũng đang bị khủng hoảng hàng nửa thế kỷ vẫn không tìm thấy lối ra. Nhà sử học Dương Trung Quốc nói: “Thế hệ chúng ta mất gốc hoàn toàn”. Câu nói ấy cho ta hiểu là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa đã đem tới sự mất gốc đó. Cụ giáo sư đáng kính Hoàng Tụy đã bỏ ra bao tâm trí để “Giáo dục, xin cho tôi nói thẳng”. Cụ đã nói thẳng và nói với kiến thức sâu sắc của một vị giáo sư, với kinh nghiệm cả đời. Về nguyên nhân từ thể chế thì tuy Cụ đã có cách nói khéo léo, mềm mỏng, vậy mà cũng bị thổi còi. Tôi nghĩ, giáo dục cũng giống như văn hóa, đã bị kiềm hãm bởi ý thức hệ, không thoát ra khỏi ràng buộc của chính trị của triết lý giáo dục cộng sản. Điều này thể hiện cả trong biên soạn sách giáo khoa, trong phương pháp giảng dạy, trong cung cách đào tạo và sử dụng người thầy…

Ngày nay người ta đòi hỏi giáo dục trước hết là đào tạo ra con người tự do, con người dám khác với những người khác dù đó là vĩ nhân, con người luôn luôn đầy ắp ý kiến phản biện. Triết lý giáo dục đó hoàn toàn trái với triết lý tôn thờ chân lý độc tôn, chân lý vĩnh cửu, không chấp nhận diễn biến hòa bình, không cho phép tự diễn biến; Lãnh tụ vĩ đại, Đảng quang vinh đã bao cấp đủ mọi chân lý lớn nhất, hãy cứ thế mà làm theo. Triết lý giáo dục chính thống như thế phải đẻ ra sách giáo khoa dành 30-40% cho các nội dung phục vụ chính trị; dành cho vô số sách tham khảo bài văn mẫu, bài giải toán mẫu. Phương pháp dạy cứ là thầy đọc, trò chép. Luận văn tốt nghiệp, luận án tiến sĩ là những sao chép, xào lại. 

Giáo sư Pierre Darriulat đã tóm tắt bài viết của đại tướng Võ Nguyên Giáp và cuốn sách của giáo sư Hoàng Tụy thành 4 câu súc tích: Chúng ta phải dừng lại việc nói một đằng làm một nẻo; chúng ta phải khôi phục phẩm giá cho giới trí thức và học giả; chúng ta phải có kế hoạch rõ ràng cho nghiên cứu và giáo dục cho tương lai; chúng ta phải chấm dứt nạn chảy máu chất xám. Tôi xin bổ sung một ý kiến của ông Nguyễn Trần Bạt: “Chúng ta phải khôi phục lại tính chất phi chính trị của nhà trường để ở đấy học sinh không còn phải nói dối”.  

XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 

Chúng ta bắt đầu đổi mới từ kinh tế và đã đạt được thành tựu trong những năm đầu khá ngoạn mục, khiến nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài hy vọng sự xuất hiện con rồng con hổ Việt Nam trong tương lai không xa. Tiếc thay, những thế lực bảo thủ (trong đó có cả giả vờ bảo thủ, kỳ thực là tìm cách duy trì môi trường để tham nhũng!) đề cao cái tính từ xã hội chủ nghĩa, làm biến dạng nền kinh tế thị trường, mỗi lần gây ra đổ vỡ thì bào chữa bằng lập luận “chúng ta sáng tạo con đường kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa chưa từng có tiền lệ!”. Dự thảo văn kiện Đại hội 11 là một bước lùi so với Đại hội 10, khi người ta đưa thêm “Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu”. Mãi đến trước ngày bế mạc mới có quyết định bỏ điều sai trái này, nhưng vẫn giữ “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” dù cho nhiều nhà nghiên cứu hàng đầu của đất nước khuyên nên bỏ. 

Nếu nói trên quan điểm về kinh tế thì có thể lý giải sự sụp đổ của phe xã hội chủ nghĩa là: Nền kinh tế tư nhân đã đánh bại nền kinh tế nhà nước! Nền kinh tế sở hữu tư nhân đã đánh bại nền kinh tế công hữu. Nhìn ra thế giới sẽ thấy, nước nào đi vào con đường xã hội chủ nghĩa thì nghèo đói; nước nào đi vào kinh tế thị trường thì dân giàu, nước mạnh. Nhìn lại nước ta, kinh tế nhà nước hủy hoại không biết bao nhiêu vốn liếng. của nhân dân ky cóp. Cái đuôi xã hội chủ nghĩa đã làm biến dạng kinh tế thị trường nước ta gây nhiều hậu quả: Kinh tế Việt Nam bắt đầu lâm vào khủng hoảng trước khủng hoảng của thế giới một năm, từ 2008 lạm phát đã tăng lên 20%, chỉ số ICOR từ 5 lên 6, 9, nhập siêu tăng, và có nhiều biểu hiện lọt vào vòng tay Trung Quốc. 

Kinh tế Việt Nam năm 2011, được nhiều cơ quan thẩm định quốc tế gọi là “đã rơi tới đáy”. Nguy hiểm nhất là lệ thuộc Trung Quốc. Trong 4 tháng đầu 2011 nhập siêu từ Trung Quốc 4 tỉ USD, 5% hàng tiêu dùng, 55% nguyên, phụ liệu, 25% thiết bị loại kỹ thuật lạc hậu rẻ tiền. Có 41 dự án trọng điểm quốc gia do 30 công ty Trung Quốc thắng thầu. Có đến 90% các dự án trọng điểm về điện, dầu khí, viễn thông, cơ khí, hóa chất và 100% dự án khai khoáng đều do các công ty Trung Quốc trúng thầu! Ôi gỡ sao cho khỏi tình trạng lệ thuộc đây! Có người cho rằng nếu chống lại sự hợp tác kinh tế với Trung Quốc coi chừng sẽ gây ra thiệt hại về phía Việt Nam. Không! Chúng ta không bao giờ chống sự hợp tác kinh tế bình đẳng với Trung Quốc. Chúng chỉ nên xem lại những sơ hở đang làm cho nước ta nhận thiết bị lỗi thời, mua rác rưởi của họ thải loại, tạo điều kiện để họ đưa lao động giản đơn vào sinh cơ lập nghiệp khắp nơi, lấy vợ đẻ con, lẫn trong đó chắc chắn có những âm binh, gián điệp vô cùng nguy hiểm!

Hãy vì lợi ích của nhân dân và Tổ Quốc cắt bỏ cái đuôi”xã hội chủ nghĩa” cho cơ chế thị trường lành mạnh. Mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng, không coi kinh tế nhà nước là chủ đạo, không ưu đãi, giải cứu những công ty nhà nước thua lỗ. 

Phải đặt thời hạn để giảm dần và chấm dứt mô hình phát triển kinh tế theo chiều rộng là: khai thác lao động giá rẻ, giá trị thấp; khai thác tài nguyên xuất thô; đầu tư thiết bị lỗi thời dùng nhiều lao động cơ bắp, tiêu hao nhiều năng lượng, nguyên liệu; sử dụng lãng phí đất đai; gây ô nhiễm môi trường. 

Mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chỉ có thể thực hiện được khi có một thể chế dân chủ và thoát khỏ vòng tay o ép của Trung Quốc.  

AI LÀ BẠN CHÍ THIẾT CỦA VIỆT NAM?  

Chúng ta đã có nhiều thành công khi tuyên bố Việt Nam là bạn của tất cả các nước. Một thành công quan trọng nữa là trở thành đối tác chiến lược với Mỹ, kẻ thù cũ. Tuy nhiên cũng có bạn thân và bạn sơ. Hơn 20 năm nay nêu hỏi cả năm châu xem ho nghĩ rằng ai là bạn thiết cốt của Việt Nam thì sẽ dễ dàng nhận được câu trả lời: Trung Quốc! 

Người Pháp có câu, hãy nói bạn thân của anh là ai, tôi sẽ nói anh là người thế nào! Chà, đến đây chúng ta sẽ thấy cái khó cho mình trên bàn cờ khu vực và thế giới hôm nay. Một lần nữa lại muốn so sánh ta với Nhật Bản và cả nước Đức nữa. Ngay sau khi bại trận hai nước này kịp hiểu nguyên nhân bại trận của nước họ, và nhìn nhận đúng bản chất kẻ thù của mình và lập tức đổi thù ra bạn, mà còn là bạn thiết cốt nữa! Hơn nữa thế kỷ đã qua, thực tế đã xác nhận hai nước Đức, Nhật hoàn toàn đúng trong việc chon bạn, nhờ đó mà trở thành giàu mạnh nhất nhì thế giới. 

Rất tiếc chúng ta không hiểu kẻ thù cũ của mình cũng không biết kẻ thù mới của mình. Mỹ sai lầm vì cho rằng đánh ta là đánh vào tiền đồn cộng sản, không ngờ rằng khi đó người Việt Nam kể cả đảng viên không hề nghĩ mình chiến đấu vì chủ nghĩa cộng sản mà chỉ vì Tổ Quốc bị xâm lược. Sau khi bị thua, Mỹ mau chóng hiểu ra vấn đề và muốn làm lành với ta. Nhưng chúng ta lại không hiểu, nên cứ tiếp tục thù dai. Ta không hiểu Mỹ, còn có nguyên nhân là vì chưa dám cởi bỏ ý thức hệ, sợ bị mất quyền lãnh đạo. Trong khi đó, cũng vì ý thức hệ, chúng ta vấp một lầm lẫn nguy hiểm là đổi kẻ thù bành trướng tàn bạo thành bạn chí thiết, còn hơn cả chí thiết, vì là đổng chí “16 chữ vàng” và “bốn tốt”. 

Cái thế của đất nước đòi hỏi Đảng Cộng sản thực hiện lời hứa của mình “không có lợi ích nào ngoài lợi ích của nhân dân và Tổ quốc”. Vì lợi ích nhân dân và Tổ quốc, Đảng cần nhanh chóng và triệt để đổi mới, đổi mới toàn diện, thực hiện những yêu cầu đã kể ở trên, để có thể trở thành bạn thân thiết của thế giới dân chủ và có thể trở thành đồng minh chiến lược với Mỹ. Có thể sẽ có ý kiến cho rằng: Bất cứ nước nào cũng lấy lợi ích của họ làm cơ sở khi cam kết với đồng minh, và khi có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho họ thì họ vẫn có thể vứt bỏ đồng minh để tự cứu. Điều đó không sai, mỗi quốc gia phải tự vươn lên hùng mạnh, bằng đường lối khôn ngoan và dũng cảm của mình, không bao giờ được ỷ lại bên ngoài. Không ai muốn làm bạn với kẻ yếu, lại không có kế sách để mạnh lên và không có gì để trao qua đổi lại. Có thể lại có ý kiến: Trung Quốc có nhiều thế mạnh để mặc cả, thương lượng với Mỹ hơn ta? Không đúng! Vì trong cuộc đấu tranh này chúng ta có chính nghĩa, chúng ta được luật pháp quốc tế bảo trợ, lợi ích của chúng ta phù hợp với lợi ích của các quốc gia trong khu vực và cả thế giới. Nước ta có vị trí cực kỳ quan trọng trong giao thương hàng hải, đặc biệt còn có vịnh Cam Ranh ở vị thế chiến lược để làm chủ cả Biển Đông. Nếu dân chủ hóa thành công thì cán cân thế và lực hoàn toàn nghiêng về chúng ta trong cuộc đấu tranh ngoại giao, mở rộng bè bạn, giao kết đồng minh. 

Tổ quốc đang kêu gọi: Tất cả để cứu nước! Tất cả để chiến thắng! 

Viết trong những ngày sôi sục cả tim gan.  

T. V. C.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.



------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này