++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn TKV. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TKV. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

He he, chuyện trẻ con: TKV kiến nghị lấy ngân sách làm đường chở bauxite

Nguồn: phapluattp.vn

TKV kiến nghị lấy ngân sách làm đường chở bauxite
TKV cho rằng dự án alumin Lâm Đồng và Nhân Cơ không có chi phí cải tạo, nâng cấp các tuyến tỉnh lộ, quốc lộ. Nếu TKV làm đường vận chuyển, dự án sẽ không còn hiệu quả kinh tế.


Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) vừa có công văn gửi Tổng cục Đường bộ Việt Nam đề cập các tính toán vận tải cho dự án tổ hợp bauxite nhôm Lâm Đồng. Theo TKV, nếu đưa chi phí cải tạo, nâng cấp các tuyến đường tỉnh lộ, quốc lộ vào các dự án bauxite thì dự án sẽ không còn hiệu quả kinh tế.

Hai dự án bauxite gặp khó vì vốn

Theo kế hoạch của TKV, tháng 9-2011, dự án tổ hợp bauxite nhôm Lâm Đồng sẽ tiến hành chạy thử tải và sẽ thu được sản phẩm alumin. Dự kiến sản lượng alumin thu được trong thời gian từ đầu tháng 10 đến hết tháng 12-2011 là khoảng 100.000 tấn alumin. Khối lượng để sản xuất ra 100.000 tấn alumin sẽ vào khoảng 105.000 tấn nguyên vật liệu cho để điền đầy đủ các khâu công nghệ trong nhà máy trước khi chạy thử.

Năm 2012, dự kiến sẽ sản xuất khoảng 60%-70% công suất thiết kế, tương ứng là 390.000-455.000 tấn alumin và nguyên vật liệu khoảng 410.000-480.000 tấn. Như thế, tổng khối lượng vận chuyển hai chiều trên các tuyến đường mà các đoàn xe của TKV đi qua sẽ vào khoảng 800.000-935.000 tấn.

Khối lượng vận chuyển lớn nhưng phương án vận chuyển alumin từ Lâm Đồng về Đồng Nai đang bế tắc (Pháp Luật TP.HCM đã nhiều lần phản ánh). Theo TKV, trong tổng mức đầu tư được duyệt của dự án alumin Lâm Đồng và Nhân Cơ không có chi phí cho việc cải tạo, nâng cấp các tuyến đường tỉnh lộ, quốc lộ (do các tuyến này nằm ngoài hàng rào nhà máy).

Theo TKV, nếu phải gánh chi phí nâng cấp, cải tạo các tuyến đường thì dự án bauxite sẽ không còn hiệu quả kinh tế. Trong ảnh: Quốc lộ 20, nơi các đoàn xe chở bauxite sẽ đi qua. Ảnh: HTD
“Nếu đưa chi phí nâng cấp, cải tạo các tuyến đường thì dự án không còn hiệu quả kinh tế, TKV cũng không thể vay vốn để cải tạo hệ thống đường bộ quốc gia. Hơn nữa, việc vay vốn đầu tư cho dự án alumin Lâm Đồng và Nhân Cơ (theo tổng mức đầu tư) đang rất khó khăn” - văn bản của TKV nêu. TKV cũng cho biết là đơn vị đã có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ đề nghị chấp thuận cấp bảo lãnh vay vốn nước ngoài cho hai dự án alumin.

Kiến nghị sử dụng vốn ngân sách...

Theo TKV, đơn vị chỉ trực tiếp thuê vận tải hai loại hàng hóa là than và sản phẩm alumin. Trong đó xe chở than từ cảng Gò Dầu lên nhà máy, khi quay về cảng sẽ kết hợp chở alumin (alumin là hàng rời đóng bao chuyên dụng, khoảng một tấn/bao). Xe chở đá vôi và vôi sống, các nguyên vật liệu khác cũng có thể kết hợp chở alumin theo chiều về. Các nguyên vật liệu khác, TKV sẽ mua theo hình thức nhà thầu cung cấp nguyên vật liệu tự thuê vận chuyển và giao tại kho hàng của nhà máy alumin.

TKV cũng cho rằng về nguyên tắc sử dụng, xe vận tải có trọng tải càng lớn thì giá cước vận tải sẽ nhỏ. Tuy nhiên, các xe này sẽ phải đảm bảo yêu cầu về tải trọng cầu, đường, chấp hành các quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn giao thông,… “Việc sử dụng các loại xe 25 tấn cước phí vận tải sẽ cao hơn nhưng không phải cải tạo cầu, đường trên tuyến, đồng thời đáp ứng được yêu cầu tiến độ vận chuyển alumin của dự án” - TKV cho biết.

Đơn vị này cũng thừa nhận không có thế mạnh về vận chuyển hàng hóa dân dụng nên có chủ trương xã hội hóa việc vận chuyển. “TKV sẽ không trực tiếp đầu tư phương tiện mà thuê các doanh nghiệp vận tải hàng hóa để vận chuyển. Phương tiện vận tải của các doanh nghiệp này phải đáp ứng yêu cầu trên tuyến vận tải. Nếu vượt quá trọng tải cầu, cống thì các doanh nghiệp này phải tự kiểm định, xử lý” - TKV nhấn mạnh.

Đối với hai phương án cải tạo, nâng cấp các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ từ Lâm Đồng đến Đồng Nai do Bộ GTVT đề nghị (Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh), TKV cho rằng các tuyến đường chủ yếu phục vụ GTVT và phát triển kinh tế - xã hội chung của khu vực, trong đó có dự án alumin Lâm Đồng và Nhân Cơ. Bởi lượng vận chuyển hàng hóa của hai dự án này rất nhỏ so với tổng lượng hàng hóa, hành khách trên tuyến. Do đó, TKV kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, vốn ODA, vốn vay… để nâng cấp cầu, đường.
THÀNH VĂN

------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

Trả giá


Năm 2009, khi đòi “quật” Bể than Sông Hồng, Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam đã tung ra dư luận dự báo Việt Nam sẽ thiếu than trầm trọng, và sẽ phải nhập than, và nhập ngay từ năm 2013, và nhập đến cả trăm triệu tấn trong tương lai không quá 10 năm. Bấy giờ, dư luận sốc nặng. Một quốc gia mà số lượng mỏ than, thể hiện bằng những chấm vuông màu đen chi chit trên bản đồ khoáng sản, một quốc gia “rừng vàng biển bạc” mà trữ lượng than lên tới 220 tỷ tấn cuối cùng đã “mút đến những ngón tay cuối cùng”. Và bây giờ, khi TKV hân hoan thông báo những tấn than đầu tiên cập cảng (Vâng, chính xác là TKV đã hân hoan. Còn tại sao lại hân hoan thì cứ nhìn sang EVN, nhìn vào những số liệu xủng xoảng bị chi phối bởi “dã tâm thành tích” thì biết), sự trả giá hoá ra đã đến sớm hơn rất nhiều so với lời đe doạ của TKV.

Nhưng 9,5 ngàn tấn than nhập khẩu, một “thành tích” đau xót của KTV khi dưới sự “thống trị” của họ, Việt Nam rất nhanh chóng từ một nước xuất khẩu trở thành một nước nhập khẩu than. Đã có những năm, việc xúc bán của KTV còn mang lại cho họ thành thích lọt top những ngành xuất khẩu có kim ngạch trên 1 tỷ USD. Thành tích của TKV ngày hôm nay rõ ràng là sự trả giá cho lối khai thác tài nguyên sa đoạ và vô tội vạ của hôm qua. Chúng ta đã có “một ngày hôm qua” vô tội vạ. Sự vô tội vạ kéo dài suốt nhiều chục năm với công nghệ khai thác kiểu cuốc xẻng, theo lối đào đất bán lấy tiền. Nhiều chục năm xuất than vô tội vạ với giá rẻ mạt, với hoạch định kiểu bóc ngắn cắn dài. Và nhiều chục năm những tập đoàn than thổ phỉ cạnh tranh lạnh lùng với những đoàn tàu nối dài vô tội vạ vượt biên đưa than về phương Bắc.

Mỗi năm, TKV vẫn xuất khẩu trên dưới hai chục triệu tấn than, có năm, họ xuất tới gần 32,5 triệu tấn. Và trước nguy cơ thiếu hụt nguồn than được cảnh báo từ trước, họ vẫn không thể ngừng xuất khẩu. Chỉ với một lý do duy nhất là để có tiền, có doanh số, có lợi nhuận với danh nghĩa “cân đối tài chính” cho việc bán than dưới giá thành cho nhu cầu trong nước. Nhưng ngay cả khi xuất tới 32,5 triệu tấn than thì giá trị của sự bán thô tài nguyên mang lại là rất rẻ mạt. Chẳng hạn với 1,08 tỷ USD thu được từ việc xuất thô hơn 32 triệu tấn than năm 2007, chỉ đủ mua lại 7,5 tấn than chỉ sau đó 1 năm.

Và giờ là đến lượt nhập. Năm 2012 phải nhập 10 triệu tấn. Năm 2020 sẽ là 100 triệu tấn “theo kế hoạch”, theo dự báo. Nhưng có lẽ, với việc những vỉa than lộ thiên ở Quảng Ninh đã cạn kiệt, với việc những tấn than ngoại đã được nhập sớm 2 năm so với dự kiến và tất nhiên là với cả công nghệ nhiệt điện ăn than như ăn gỏi, thì có lẽ con số 100 triệu tấn than nhập khẩu cũng sẽ rất sớm “vượt kế hoạch”.

Một câu hỏi cần được đặt ra: Ai sẽ là người được hưởng lợi từ việc nhập than. Câu trả lời rất dễ: Chỉ có thể là TKV dù người kêu gào nhiều nhất, cần nhiều than nhất là điện, là xi măng. Rất đơn giản là bởi bên cạnh độc quyền khai thác, họ còn có thêm độc quyền xuất nhập khẩu mặt hàng này.

Có một điều đáng chú ý: Khi ném ra dư luận những lời đe doạ về việc thiếu than lần đầu năm 2009, tức là gần 40 năm sau khi khái niện an ninh năng lượng được đưa ra sau cuộc khủng hoảng năng lượng 1973, TKV hướng tới việc đòi “quật” bể than Sông Hồng chứ không phải để rút kinh nghiệm cho việc quản lý, hoạch định và khai thác của mình. Bởi vậy, dù có trữ lượng dự đoán hơn 200 tỷ tấn, bể than Sông Hồng vẫn là quá ít cho cung cách quản lý và khai thác của TKV chừng nào những lời đe doạ và việc nhập khẩu than chưa được coi là hậu quả nhãn tiền của lối khai thác đào đất ăn tiền của một ngành độc quyền mà công việc chính là bán rẻ tài nguyên.

Vẫn phải nhắc lại là nạn than thổ phỉ chưa bao giờ chấm dứt với “kim ngạch” không dưới 10 triệu tấn mỗi năm.

Liệu an ninh năng lượng có nên phụ thuộc vào thành tích của chỉ một ngành, một tập đoàn, một cái đầu?

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2011

Suy ngẫm: Việt Nam lần đầu tiên nhập khẩu than

Việt Nam lần đầu tiên nhập khẩu than

Nguồn: dantri.com.vn
Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) vừa chính thức tiếp nhận một khối lượng lớn than nhập khẩu đầu tiên phục vụ nhu cầu trong nước.
Theo đó, chuyến tàu chở hơn 9.570 tấn than nhập khẩu đầu tiên từ Indonesia đã cập cảng Cát Lái, tỉnh Đồng Nai vào chiều 13/6. Lượng than trên được TKV giao cho Công ty Cổ phần Đầu tư khoáng sản than Đông Bắc tiếp nhận nhập khẩu, sau đó phân phối cho các nhà máy nhiệt điện mới ở miền Trung và miền Nam.

Lượng than nhập khẩu chủ yếu để cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện
(Ảnh minh họa).


Theo TKV, dự kiến số lượng than nhập khẩu từ nay đến năm 2012 khoảng 10 triệu tấn/năm và sẽ tăng dần từng năm. Đến năm 2020, dự kiến Tập đoàn sẽ nhập về khoảng 100 triệu tấn/năm, trong đó phần lớn là than bituminous có nhiệt năng từ 5.000 - 6.000 kcal/kg (cơ sở không khí khô) để cấp cho các nhà máy nhiệt điện.

Ngoài ra, các chủng loại than mà các ngành công nghiệp ở Việt Nam đang có nhu cầu, nhất là ngành thép và xi măng cũng sẽ được nhập về để phục vụ nhu cầu trong nước.

Theo TKV, trong tháng 5, sản lượng than khai thác ước đạt 3,98 triệu tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng ước đạt 19,2 triệu tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ. Trong tháng 5/2011, Việt Nam xuất khẩu 2 triệu tấn than đá, thu về 192 triệu USD. Tính chung 5 tháng đầu năm đã xuất khẩu 6,64 triệu tấn than đá, trị giá 638 triệu USD. So với cùng kỳ năm ngoái, lượng xuất khẩu giảm khoảng 25%.

Hiện than do TKV khai thác ở Quảng Ninh chủ yếu là than có chất lượng tốt, được dùng nhiều trong ngành công nghiệp luyện kim và hóa chất và có giá trị xuất khẩu cao. Do đó, Chính phủ đã cho phép TKV thí điểm thực hiện việc nhập khẩu than có giá thành rẻ hơn để phục vụ các nhà máy nhiệt điện trong nước.
Theo Bảo AnhVnEconomy
Ý kiến bạn đọc
11 bình luận
dhn
(6/14/2011 9:15:00 AM)
Mọi người có đọc kỹ không vậy? mình thấy tác giả viết rất rõ lý do tại sao nhập khẩu mà, sao lại đi phê phán này nọ. "Hiện than do TKV khai thác ở Quảng Ninh chủ yếu là than có chất lượng tốt, được dùng nhiều trong ngành công nghiệp luyện kim và hóa chất và có giá trị xuất khẩu cao. Do đó, Chính phủ đã cho phép TKV thí điểm thực hiện việc nhập khẩu than có giá thành rẻ hơn để phục vụ các nhà máy nhiệt điện trong nước"
Eleanor
(6/14/2011 9:15:00 AM)
Tôi sinh ra và lớn lên tại vùng mỏ Cẩm phả. Người quen của tôi làm than rất nhiều. Họ đều làm công ăn lương cho các ông chủ lớn, bóc lột sức lao động đổ than lên xà lan buôn lậu sang Trung quốc với giá rẻ như cho. Ông nào có cơ thì 1 chuyến xuất vài chục xà lan cỡ lớn. Chả mấy chốc từ những người thôn quê như Thái Bình, Hưng Yên thành tỉ phú. Họ bán vàng đen cho bọn TQ để thu lợi cá nhân nhưng thiệt hại cho nhà nước. Chỉ 1 thời gian nữa TQ lại bán lại cho mình đúng số than đã buôn lậu sang đó với giá cắt cổ.
Nguyen Duc
(6/14/2011 9:11:00 AM)
Anh Xuân Lưu ở trên nói là không hiểu biết j cả. Than dùng cho nhiệt điện và dùng cho luyện kim hóa chất là khác nhau. Việt Nam hạn chế khai thác đi nhập than về cho các nhà máy nhiệt điện đáng ra phải làm từ lâu rồi. Các nước tiên tiến đâu đi nhập than các nước khác trong đó mỏ than của họ lađẻe dùng trong tương lai khi có khủng hoảng năng lượng.
Minh Trình
(6/14/2011 8:58:00 AM)
Tôi cũng là một người làm trong ngành than. Tôi thấy thật phi lý. Tài nguyên thì nhiều mà phải đi nhập khẩu. Trong khi xuất khẩu thì rẻ mà nhập khẩu lại cao. Cần phải có kế hoạch tổng thể, chi tiết cho việc khai thai và sử dụng than cho hiêụ quả và hợp lý. Tránh lãng phí tài nguyên của đất nước.
TKV
(6/14/2011 8:38:00 AM)
Các bạn chỉ biết đọc và nói ra những lời đó...Các bạn hãy vào ngành than hoặc sinh sống tại đất mỏ thì các bạn mới có thể hiểu...
Phạm Thanh Long
(6/14/2011 8:23:00 AM)
Chúng ta có nhiều cái nhất! Thi công hạ tầng chậm nhất. Triển khai kế hoạch rùa nhất. Tiêu sài sang nhất. Hoang phí nhất. Kế hoạch năm 2015, chúng ta mới phải nhập khẩu than để sử dụng nhu cầu trong nước, vậy mà trên thực tế tới năm đó chúng ta đã phải nhập khẩu tương đương 50 tỉ tấn. Tại sao vậy? Đất nước Việt Nam luôn tự hào có rừng vàng, biển bạc, tài nguyên dồi dào nhưng để làm gì? Liệu đời con cháu chúng ta có còn được nghe câu nói ấy và kiểm chứng trên thực tế không? Thật đáng buồn! Cần phải quy hoạch lại thật chi tiết các nguồn tài nguyên, khoáng sản và có kế hoạch sử dụng thật đúng mực chứ! Trân trọng!
Xuanluu
(6/14/2011 8:18:00 AM)
Đây là điều đáng buồn , nước ta hang năm xuất khẩu than - chủ yếu sang Trung Quốc , nhưng lại phải nhập khẩu than chất lượng cao để phục vụ các nhà máy nhiệt điện vì chưa sản xuất được hay nói cách khác là xuất thô nhập tinh, lợi ích kinh tế mang lại không cao
quynh
(6/14/2011 8:15:00 AM)
Nghanh Than hoạt đông không hiệu quả, cần phải tái cơ cấu và thanh tra toàn diện. Không thể để 1 đất nước xuất khẩu than có những mỏ than lớn mà lại đi nhập khẩu than, trong khi than trong nước xuất đi thì rẻ như cho. Thật là nghịch lý
Trần Công Kiên
(6/14/2011 8:13:00 AM)
Hết than rồi sao, bao giời thì hết dầu mỏ Mà hết cũng phải, than xuất khẩu 10 thì buôn lậu cũng phải 7-8 rồi còn chi nữa Mà hết cũng được, hết than cũng là hết những kẻ giàu lên khi ăn trộm than của nhà nước
Tuấn Nam
(6/14/2011 8:07:00 AM)
Việt Nam ta nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có than rất phong phú, đa dạng. HIện nay than của chúng ta chủ yếu là xuất khẩu than thô ra nước ngoài với giá bán rất rẻ. Hơn nữa nguồn than của chúng ta quản lý, khai thác vẫn chưa tốt, vẫn còn tình trạng người dân khai thác than lậu bán qua Trung Quốc. Chúng ta có nhiều than, khai thác than thô bán ra nước ngoài với giá rẻ, tại sao chúng ta không chế biến để sử dụng mà phải đi nhập khẩu với giá rất đắt như vậy. Việc này có khác gì nhà có nhiều lúa nhưng không xay sát thành gạo mà lại đem lúa đi bán, sau đó lại đi mua gạo.
1 2

------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này