++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn công nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn công nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2011

Viettel vươn ra biển lớn... với gói cước Sea+ dành cho người dân vùng biển, đảo.


Nguồn: baodatviet.vn
Viettel vươn ra biển lớn...
Cập nhật lúc :6:13 PM, 16/08/2011
(ĐVO) Sáng nay (16/8), Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel chính thức ra mắt gói cước Sea+ dành cho người dân vùng biển, đảo.
>> Gói cước mới cho khách hàng Blackberry của Viettel

Với thông điệp “Cùng ra khơi”, gói cước trả trước Sea+ của Viettel được thiết kế với những ưu đãi  và tính năng đặc biệt nhằm giúp cho cuộc sống của người dân vùng biển và ven biển an toàn và tiện ích hơn. Theo đó, khách hàng được cung cấp miễn phí bản tin về thời tiết biển theo yêu cầu (gồm bản tin hàng ngày, cảnh báo lốc xoáy, báo bão khẩn cấp) tại 01 vùng đăng ký và thông tin về các số điện thoại khẩn cấp để liên hệ trong các trường hợp gặp nguy hiểm cần hỗ trợ.
Điểm nhấn của gói cước là tính năng thông báo khẩn cấp bằng tin nhắn qua đầu số 1111. Sử dụng tính năng này, khách hàng được đăng ký tối đa 10 số điện thoại nhận thông báo tình trạng khẩn cấp. Khi gặp sự cố, khách hàng chỉ cần nhắn tin đến đầu số 1111, tin nhắn sẽ tự động chuyển tới danh sách số điện thoại trong nhóm đã đăng ký. Cước phí cho 1 lần nhắn tin lên đầu số thành công là 1.000đ. Viettel cũng đang nghiên cứu để cung cấp tính năng thoại khẩn cấp qua đầu số 1111.
Ông Nguyễn Việt Dũng, Phó Giám đốc Viettel Telecom khẳng định gói cước Sea+ không đặt tiêu chí lợi nhuận lên hàng đầu.

Người ngư dân thường ra khơi đánh bắt theo ngư đội (từ 3 – 5 tàu/thuyền); thời gian cho mỗi hải trình kéo dài hàng tháng. Do đó, nhằm giúp khách hàng thuận tiện trong việc liên lạc với người thân và các bạn tàu trong những chuyến đi biển, Viettel cung cấp tính năng gọi nhóm tiết kiệm cho gói Sea+. Theo đó, với mức phí 10.000đ/tháng, khách hàng được đăng ký 10 số di động Viettel để được giảm 50% cước gọi tới các số này.
Gói cước Sea+ không bị giới hạn thời gian sử dụng, trong vòng 60 ngày chỉ cần phát sinh một trong các hành động: nhắn tin hoặc gọi điện chiều đi.
Ông Nguyễn Ngọc Oai, Cục trưởng Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Tổng cục Thủy Sản, cho biết: “Do biến đổi khí hậu nên thời tiết trên biển hiện nay diễn biến hết sức phức tạp. Để giảm thiểu tai nạn trên biển và hỗ trợ ngư dân, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã xây dựng rất nhiều dự án về thông tin cho ngư dân. Gói cước Sea+ của Viettel mang đến thông tin hai chiều sẽ hỗ trợ đắc lực cho ngư dân bám biển”.
“Đưa ra gói cước Sea+, Viettel không đặt mục tiêu lợi nhuận kinh tế lên hàng đầu mà trước hết là vì trách nhiệm xã hội, hỗ trợ, phục vụ công đồng ngư dân”, Ông Nguyễn Việt Dũng, Phó Giám đốc Viettel Telecom khẳng định.
Như Biển



------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

Trí tuệ Việt: Đưa vào sản xuất công nghiệp nhà máy sắt xốp bằng công nghệ hoàn nguyên đầu tiên ở Đông Nam Á tại Cao Bằng



ĐƯA VÀO SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP NHÀ MÁY SẮT XỐP BẰNG CÔNG NGHỆ HOÀN NGUYÊN ĐẦU TIÊN Ở ĐÔNG NAM Á Ở CAO BẰNG …

Phạm Viết Đào.

TGĐ Nguyễn Xuân Liêu với sản phẩm thép luyện trong tay được luyện từ sắt xốp MIREX đạt 99,2231 % hàm lượng sắt
Sáng nay 12/8/2011, Đại hội đồng cổ đông Công ty Cổ phần khoáng sản và luyện kim Việt Nam ( MIREX ) đã nhóm họp để biểu quyết, quyết định việc tiếp tục đầu tư, tăng vốn lưu động để chính thức đưa nhà máy luyện sắt xốp theo công nghệ hoàn nguyên vào giai đoạn sản xuất công nghiệp…
Đây là nhà máy luyện sắp xốp theo công nghệ hoàn nguyên đầu tiên được xây dựng tại khu vực Đông Nam Á; Nhà máy do tập thể kỹ sư, cán bộ công nhân viên Công ty MIREX tự thiết kế, lắp đặt dưới bàn tay vàng của Kỹ sư Nguyễn Ngọc Linh-Phó Giám đốc Kỹ thuật của công ty…
Ks Nguyễn Ngọc Linh là tác giả của phát minh sáng chế ra công nghệ hoàn nguyên luyện săt sắt xốp phi coke đã được Bộ Khoa học Công nghệ cấp bằng chứng nhận cách đây 2 năm; Đây là là công nghệ tiên tiến vào loại bâch nhất của thế giới hiện nay vì hạ giá thành, có thể dùng than gầy thay cho than mỡ và lại thân thiện môi trường vì hạn chế tối đa thải khí CO2 ra môi trường…
Theo công nghệ luyện thép hàng ngàn năm nay thì: quặng sắt được luyện ra thành gang, từ gang mới nấu ra thép; công nghệ truyền thống này buộc phải dùng than coke một loại nhiên liệu không có sẵn tại thị trường Việt Nam…Than coke vừa hiếm vừa có giá thành cao vì nó được luyện từ than mỡ; giá than coke thường cao gấp rưỡi than gầy; do đó đã đẩy ngành thép Việt Nam vào bế tắc, mặc dù chúng ta có nhiều mỏ quặng có trữ lượng lớn và chất lượng cao…
Bằng công nghệ hoàn nguyên do phát minh của kỹ sư Nguyễn Ngọc Linh, Nhà máy luyện thép Cao Bằng đã tự thiết kế ra một giây chuyền công nghệ hoàn nguyên; giây chuyền này không cần sử dụng than coke mà sử dụng loại than gầy bình thường của Quảng Ninh nhưng đã sản xuất thành công sắp xốp…
MIREX đã sử dụng những mẻ sắt xốp đầu tiên, đã đưa những mẻ sắt xốp vào những lò luyện thép bình thường hiện có tại Việt Nam để luyện thử; kết quả đã cho ra lò sản phẩm thép được Viện trưởng Viện Công nghệ kiểm định ghi nhận tại văn bản Kiểm định ngày 11/8/2011: Thép đạt hàm lượng sắt tới 99,2231 %; như vậy sản phẩm thép của MIREX đã đạt đạt hàm lượng cao của thế giới; với sản phẩm thép đạt tiêu chuẩn hàm lượng sắt trên 99 % này đủ tiêu chuẩn để có thể sản xuất ra bình ga, vỏ tàu thủy…



Như vậy bài toán dùng công nghệ hoàn nguyên do tập thể cán bộ kỹ sư MIREX phát minh, sáng chế, từ sản phẩm này tiến tới sản xuất ra thép hợp kim đã được MIREX tìm ra được lời giải…
Sau hơn một năm trời vận hành, chạy thử, rà soát, khắc phục những trục trặc kỹ thuật vì nhà máy được thiết kế và lắp đặt hoàn toàn mới; đến nay theo báo cáo của Tổng Giám đốc, chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Xuân Liêu trước toàn thể cổ đông sáng nay ngày 12/8/2011 thì giây chuyển công nghệ của nhà máy của MIREX tại Cao Bằng đã đạt tới sự ổn định 100 %...Tập thể cán bộ, kỹ sư, công nhân viên nhà máy đã hoàn toàn làm chủ nhà máy, hiểu rõ đặc điểm của từng công đoạn giây chuyền công nghệ để có thể kịp thời khắc phụ, tìm có đủ giải pháp đối phó nếu xảy ra sự cố…
Theo Tổng Giám đốc Nguyễn Xuân Liêu báo cáo, hiện nay giá sắt xốp trên thị trường thế giới giao động từ 8 tới 9 triệu đồng/tấn; mỗi tấn đã có thể có lãi từ 1 tới 2 triệu đồng; Dự kiến từ ngày 20/8/2011 nhà máy sẽ chính thức đi vào sản xuất công nghiệp…Vừa qua tuy chạy thử nhưng cũng đã sản xuất ra được 700 tấn sắp xốp…Hiện nay theo tính toán, sắp tới mỗi ngày nhà máy cho ra lò khoảng 100 tấn sắt xốp…
Hiện nay MIREX đã thu hút mộ lực lượng hơn 600 lao động trong đó chủ yếu là thanh niên các dân tộc tại Cao Bằng…
Cũng theo báo cáo của Tổng Giám đốc MIREX Nguyễn Xuân Liêu thì từ sắt xốp của MIREX có thể sản xuất ra mặt hàng bạc trượt chịu nhiệt, chịu được sự mài mòn và tự bôi trơn; các phin lọc xốp phục vụ ngành dầu khí và nhiều ngành công nghiệp khác; giá của 1 tấn sắt xốp nếu sản xuất ra các mặt hàng này có thể gia tăng lên tới 200 triệu/tấn…Hiện nay MIREX đã nhận được đơn đặt hàng về các sản phẩm này và đang mở rộng thị trường…Với chất lượng sắt xốp của MIREX, những sản phẩm trên của MIREX có độ bền hơn 200 lần so với những sản phẩm nhập ngoại từ các quốc gia tiên tiến như Thụy Điển, trong khi đó giá thành lại hạ hơn…
Để cho ra đời nhà máy luyện sắt xốp bằng công nghệ hoàn nguyên này, tiền đề để cho ra đời thép hợp kim có thể dùng cho công nghiệp quốc phòng, chế tạo vũ khí và các ngành công nghiệp mũi nhọn khác như dầu khí; tập thể lãnh đạo công nhân viên nhà máy dưới sự chéo lài lái của “Thuyền trưởng” Nguyễn Xuân Liêu, “cơ trưởng” Nguyễn Ngọc Linh, nhà quản trị Đặng Văn Mấn, nhà tổ chức và kiểm soát Nguyễn Xuân Dĩnh họ thật sự đã “nếm mật nằm gai” tại Cao Bằng mấy năm trời…Riêng Nguyễn Xuân Liêu đã phải bán đi mấy cái nhà để đổ vào lò luyện thép này; rất nhiều bạn bè do cảm phục và đặt niềm tin thép vào các anh đã mạnh dạn bỏ tiền túi của mình ra đầu tư vào nhà máy do tư nhân bỏ vốn ra thiết kế và xây dựng này…
Hiện nay tổng mức đầu tư của nhà máy trên 500 tỷ, một con số không lớn so với các công trình trọng điểm khác của nhà nước; nhưng đối với Nguyễn Xuân Liêu, Nguyễn Ngọc Linh, Đặng Văn Mấn và các cổ đông góp vốn thì đây không những là sự nghiệp mà còn là sinh mệnh, là toàn bộ gia tài của gia đình, vợ con họ…Thành công tất nhiên là vinh quang nhưng thất bại thì họ sẽ về “mo”…. Bởi MIREX là một công ty tư nhân dám đầu tư trí tuệ, công sức lao vào một ngành công nghiệp lớn, công nghiệp luyện thép... 
Như vậy câu cửa miệng của Nguyễn Xuân Liêu luôn phải có “ niềm tin thép “ đã có câu trả lời, đã có đáp án trong những ngày tháng 8 lịch sử này tại mảnh đất Cao Bằng…
Xin chúc mừng MIREX, chúc mừng những cái đầu dám nghĩ, với những trái tim ngoan cường không biết run sợ và không chịu khuất phục trước khó khăn; không chịu men theo lối mòn sẵn có để chỉ biết làm giàu cho bản thân mình. MIREX đã phiêu lưu, đã khai phá, đã sáng tạo và đã thành công. Với công nghệ hoàn nguyên này, MIREX không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới cho Cao Bằng, cho ngành thép Việt Nam và cho cả khu vực Đông Nam Á vốn rất giàu quặng sắt…

P.V.Đ

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

Sản phẩm của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN: Gót chân Asin của công nghiệp phần mềm Việt Nam (Bài 2)

Nguồn: Bee.net.vn

Gót chân Asin của công nghiệp phần mềm Việt Nam

09/08/2011 16:46:27
Hàng trăm triệu USD đầu tư vào thị trường công nghệ Việt Nam nhưng đến nay chưa hề có thống kê về hiệu quả của những đầu tư này. TS Trần Lương Sơn tiếp tục phân tích những bất cập của ngành công nghệ phần mềm Việt Nam.

TIN LIÊN QUAN

Thiếu vắng công ty mạnh và sự bế tắc chiến lược

Trong một bối cảnh thị trường như thế, có thể nói là trong 10 năm qua, Việt Nam có quá ít, thậm chí hầu như không có công ty phần mềm mới nổi lên với tiềm lực lớn, những sản phẩm chiếm lĩnh thị trường Việt Nam và vươn ra quốc tế.

Trong khí đó, các công ty được hình thành trong giai đoạn 10-15 năm vừa qua thì không đầu tư chiều sâu mà lại có xu hướng “đa dạng hóa” sang các ngành ngoài CNTT. Sự “đa dạng hóa kinh doanh” của các công ty CNTT lớn có bao gồm ngành kinh doanh phần mềm các ngành khác chứng tỏ rằng phần mềm có ưu tiên thấp trong đầu tư của họ. Kết quả là các công ty Việt Nam hầu như không sáng tạo ra công nghệ trong ngành phần mềm.

a
Việc thiếu đầu tư theo chiều sâu dẫn đến Việt Nam không có những sản phẩm có tầm cỡ. Ảnh minh họa

Việc thiếu đầu tư theo chiều sâu dẫn đến Việt Nam không có những sản phẩm có tầm cỡ “chuẩn thị trường” theo ngành ngang (horizontal) như các phần mềm phục vụ quản lý kinnh doanh (Quản trị tài nguyên doanh nghiệp, Quản lý quan hệ khách hàng, Cộng tác văn phòng. Thương mại điện tử…) và cũng không có các công ty nổi lên trong các thị trường theo chiều dọc (vertical) như ngành tài chính, ngân hàng, y tế, chế tạo, dịch vụ, bán lẻ…
 
 Vậy là về cấu trúc và chất lượng thị trường, CNPM Việt Nam không hơn cách đây 10 năm được bao nhiêu và vai trò dẫn dắt của các công ty lớn là rất mờ nhạt. Đó chính là kết quả của sự bế tắc chiến lược của ngành, của các công ty lớn trong thập kỷ qua.

Ngành công nghiệp thiếu đầu tư

Trong gần 10 năm qua, có hàng chục quỹ đầu tư, trong đó có quỹ đầu tư rủi ro, đã đưa vào thị trường hàng trăm triệu USD với danh nghĩa là đầu tư cho các công ty CNTT, phần mềm. Thực tế, chúng ta thấy các nguồn đầu tư phần lớn là chảy vào các công ty phi công nghệ như trò chơi điện tử, mạng xã hội, tốt hơn cả thì có thương mại điện tử. Hàng trăm triệu USD đầu tư vào thị trường công nghệ Việt Nam nhưng đến nay chưa hề có thống kê về hiệu quả của những đầu tư này.

Trong khi tiền đổ rất nhiều vào các công ty phục vụ cho nhu cầu xa xỉ như trò chơi điện tử… (thực chất là kinh doanh sản phẩm của nước ngoài) thì hàng loạt nhu cầu thiết yếu cho thị trường Việt Nam như các phần mềm quản lý doanh nghiệp, thương mại điện tử… lại hầu như không nhận được đầu tư.

Thị trường đầu tư tài chính cho ngành CNPM là một vòng luẩn quẩn: Các quỹ đầu tư gặp khó khăn trong việc tìm công ty tốt để đầu tư, còn các công ty thì lại khó khăn trong việc tìm quỹ đầu tư tốt để thực hiện việc phát triển sản phẩm và kinh doanh của mình. Điều đó có nghĩa là Việt Nam không phải là một thị trường tốt cho việc phát triển công nghệ phần mềm.

Điểm lại một số công phần mềm thành công, đặc biệt là ngành gia công phần mềm (outsourcing) chúng ta đều sẽ thấy rằng nguồn tài chính dẫn đến thành công đó là tài chính nội tại, từ các ngành kinh doanh khác của công ty mẹ. Điều đó chứng tỏ rằng đầu tư vào ngành phần mềm là thích đáng và quyết định đầu tư vào ngành phần mềm hay không của một công ty, hay một quỹ đầu tư thể hiện quan điểm khác nhau của họ về triển vọng của ngành: Các nhà đầu tư chưa tin vào triển vọng ngành phần mềm như một ngành công nghiệp thượng nguồn (upstream), so với đầu tư vào các ngành sử dụng phần mềm để kinh doanh như công nghiệp nội dung số, ngành công nghiệp hạ nguồn (downstream).

Khủng hoảng nhân lực

Nhân lực là niềm hy vọng lớn của Việt Nam trong toàn thể chiến lược ngành CNPM. Tuy nhiên trong khoảng 5 năm vừa qua, nhân lực CNPM Việt Nam đã có sự giảm sút nghiêm trọng. Cuối năm 2007, đầu năm 2008, tôi đã có những bài phát biểu cảnh báo về tình trạng này và đưa ra quan điểm rằng ngành CNPM gặp khủng hoảng, và khủng hoảng nhân lực trong ngành CNPM là nguyên nhân và cũng là hệ quả của khủng hoàng ngành CNPM.

Việc nhân lực ngày càng trở nên đắt đỏ so với năng lực thực tế, các công ty rất khó khăn trong việc tuyển dụng các vị trí thích hợp, thế hệ kỹ sư phần mềm trưởng thành bỏ nghề tăng lên, sinh viên khó tìm được công ty tốt để làm việc và trưởng thành, và gần đây, có thông tin (cần kiểm tra lại cho chính xác) rằng số sinh viên thi vào ngành CNTT giảm đến 40-50%... là những dấu hiệu không thể rõ ràng hơn về cuộc khủng hoảng ngành nhân lực này. Với tình hình chuẩn bị nhân lực như vậy, chúng ta sẽ tiếp tục gánh chịu khó khăn cho sự phát triển ngành CNPM trong ít nhất một thập niên tiếp theo và việc “đầu tư lại” sẽ là hết sức tốn kém.

Sự hỗ trợ của Nhà nước

Ngoại trừ các quốc gia có cơ chế thị trường mạnh, đặc biệt là các nước phát triển, ngành CNPM ở các nước đang phát triển, các nền kinh tế đang lên, đều nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của Nhà nước, và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.

Sự hỗ trợ của Nhà nước thể hiện ở ba khía cạnh. Thứ nhất, đó là chính sách, pháp luật. Thứ hai, đó là các chương trình cụ thể. Thứ ba là sự tham dự có tính chất cổ vũ của lãnh đạo Nhà nước, thể hiện qua các phát biểu chính thức, và sau đó được cụ thể hóa bằng các chính sách, pháp luật, hay chương trình… như nêu trên.

Tuy nhiên, đáng tiếc rằng sự hỗ trợ của Nhà nước ở Việt Nam đã đi chệch phương hướng. Thí dụ, trong giai đoạn từ năm 2000, chúng ta đã dành phần lớn tiền đầu tư cho việc xây dựng các khu công nghiệp phần mềm tập trung, với hàng chục Tỉnh, Thành phố có “Công viên phần mềm”. Có thể nói cho đến nay, các khu công viên phần mềm đó là trống rỗng hoặc đã trở thành các khu cho thuê văn phòng, trong đó, bên cho thuê là những công ty phần mềm nhưng tỷ lệ kinh doanh phần mềm của họ chỉ là rất nhỏ so với kinh doanh cho thuê văn phòng, còn bên thuê là những công ty phần mềm khác nhỏ bé hơn, phải trả giá thuê không còn gì là “ưu đãi” cho ngành CNPM.

Trong khi đó, ở các nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan… các khu công nghiệp phần mềm tập trung nằm dưới sự quản lý của Nhà nước, với giá thuê là rất ưu đãi để các công ty của họ có thể cạnh tranh quốc tế, và không có hiện tượng các công ty phần mềm phải lợi dụng kinh doanh bất động sản cho việc làm ăn của mình.

Gần đây, Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành một nước mạnh về CNTT” là sự thể hiện một lần nữa ý chí của lãnh đạo nhà nước trong việc phát triển ngành CNTT thành một ngành chiến lược của quốc gia. Song tiếp theo, chúng ta đã chứng kiến một dự thảo đề án thiếu hợp lý, thiếu tính khoa học và thực tiễn.

Từ những “mong muốn” được nêu trong Đề án, chúng ta sẽ chờ xem chính sách, pháp luật và các chương trình cụ thể sẽ được hình thành và thực thi như thế nào để Việt Nam thực sự sớm trở thành một nước mạnh về CNTT.

Kỳ tới: Gương mặt nổi bật trong ngành CNTT Việt Nam

TS Trần Lương Sơn

------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

Sản phẩm của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN:Công nghiệp phần mềm VN, 10 năm kỳ vọng, bùng nổ, thất bại (Bài 1)


Nguồn: Bee.net.vn

Công nghiệp phần mềm VN:10 năm kỳ vọng, bùng nổ, thất bại

08/08/2011 13:43:12
Trong hàng loạt các nội dung của Chỉ thị, người ta không thể thấy được các định hướng chiến lược đã trở thành chuẩn mực cho các quốc gia “đi sau” về phát triển CNTT, đó là việc xác định CNTT: 1) là một ngành công nghiệp, hay 2) là một yếu tố thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế quốc gia.
 
Trong bài này, Tiến sĩ Trần Lương Sơn trình bày một số nhận định của mình về ngành  công  nghệ phần mềm (CNPM) trong bối cảnh Việt Nam đang chuẩn bị tích cực cho chương trình đưa Việt Nam trở thành một nước mạnh về CNTT.

Một thập kỷ "dậm chân"

Theo tôi, giai đoạn 2000 – 2010 là một thập kỷ đặc biệt của Việt Nam với nhiều dấu ấn của ngành CNTT và Viễn thông nói chung và CNPM nói riêng, với những kỳ vọng, cao trào, bùng nổ, thất bại và  trầm lắng.

Trong các ngành đang ngày càng trở nên “hội tụ” như thế, ngành CNPM có lẽ là ngành đang trải qua thời kỳ trầm lắng nhất.

Với những con số chưa đáng tin cậy về doanh số ngành phần mềm, với những kế hoạch được vạch ra cách đây 10 năm chưa được thống kê, tổng kết một cách nghiêm túc, với sự phát triển vũ bão của ngành viễn thông làm lu mờ không chỉ ngành CNPM mà còn làm lu mờ chính khái niệm về ngành CNPM. Người ta không còn phân biệt ngành CNPM với công nghiệp nội dung số, với viễn thông, với mạng xã hội, trò chơi trực tuyến…


Năm 2014, Việt Nam sẽ có công viên phần mềm
Năm 2014, Việt Nam sẽ có công viên phần mềm

Dù không thể phủ nhận tính “hội tụ” của các ngành đó, sự tách biệt ngành ngành CNPM, với tư cách là một ngành “thượng nguồn” (upstream),  để có chính sách và chiến lược phát triển tốt hơn, nhằm tới mục tiêu đem lại đóng góp vào GDP và vào sự phát triển kinh tế xã hội nói chung, trong đó có những ngành “hội tụ” với nó như nêu ở trên.

Các con số mong ước về doanh số CNPM như 500 triệu USD vào năm 2005, 1 tỷ USD vào năm 2010 đều chưa được tổng kết hay kiểm chứng. Sau một thập kỷ phát triển, dường như người ta vẫn ngần ngại tổng kết một cách trung thực về ngành công nghiệp từng hết sức hứa hẹn này. Và như vậy, con đường tương lai là chưa thể rõ ràng.

Đang tìm phương hướng

Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị về phát triển CNTT là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử ngành CNTT Việt Nam. Ra đời năm 2000, Chỉ thị này đã mở ra một triển vọng lạc quan về sự phát triển của ngành CNPM, với hàng ngàn công ty đăng ký mới hoạt động trong lĩnh vực phần mềm.

Tuy nhiên, trong hàng loạt các nội dung của Chỉ thị, người ta không thể thấy được các định hướng chiến lược đã trở thành chuẩn mực cho các quốc gia “đi sau” về phát triển CNTT, đó là việc xác định CNTT: 1) là một ngành công nghiệp, hay 2) là một yếu tố thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế quốc gia. 


Tiến sĩ Trần Lương Sơn là Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Phần mềm Việt (VietSoftware). Tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học Quản trị từ trường Quản trị Kinh doanh thuộc Đại học Tổng hợp Massachusetts, anh là chuyên gia về chiến lược phát triển khoa học công nghệ và đặc biệt là ngành Công nghệ thông tin, tham vấn cho các Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông. Anh cũng là thành viên của Hội đồng Tư vấn chính sách ngành Công nghệ Thông tin thuộc Hiệp hội Phần mềm Vinasa.

Dường như những năm 2000, Việt Nam đã phát động mạnh mẽ xuất khẩu phần mềm và coi đó là chiến lược hàng đầu của ngành. Sau mười năm, chúng ta vẫn chưa có nhiều công ty hàng ngàn người, không có công ty hàng chục ngàn người như ở các quốc gia mạnh về xuất khẩu phần mềm, với doanh số chỉ vài trăm triệu USD, lại không được xác thực.

Trong khi đó, thị trường doanh nghiệp trong nước hầu như không được phục vụ thích đáng. Mức độ sử dụng phần mềm như là công cụ quản lý kinh doanh sản xuất của các công ty Việt Nam là rất thấp. Cho đến nay phần lớn các doanh nghiệp mới chỉ sử dụng phần mềm cho nghiệp vụ kế toán.
Hàng loạt các phần mềm khác như Quản trị nhân sự, Quản lý quan hệ khách hàng, Thương mại điện tử, Quản trị tài nguyên doanh nghiệp… đều chưa đi vào thực tế quản lý hàng ngày của các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp lâu năm và có quy mô lớn.

Khi mà thị trường doanh nghiệp còn chưa thực sự hình thành thì thị trường Chính phủ đã đem lại nhiều hứa hẹn, với sự ra đời của Đề án 112 có quy mô hàng ngàn tỷ Đồng. Tiếc thay, Đề án 112 đã thất bại nặng nề và để lại những hậu quả chồng chất: Tiền bạc được tiêu phí mà hầu như không có ứng dụng nào phục vụ công dân, kiến trúc nền tảng cho Chính phủ điện tử hoàn toàn không được hình thành ở bất kỳ mức sơ khởi nào, các sản phẩm được tạo ra phục vụ cho đề án không theo bất kỳ chuẩn mực công nghệ hay quản lý nào,
các công ty, do mải chạy theo các dự án một cách rất cơ hội, đã không đầu tư sâu cho công nghệ, sản phẩm. Phần lớn các công ty theo đuổi các dự án thuộc Đề án 112 đều thiệt hại nặng nề về tài chính, nhân lực, nhiều công ty đã đóng cửa.

Vậy mà cho đến nay, chúng ta cũng chưa thực sự có một chương trình thay thế Đề án 112 một cách xứng đáng. Các địa phương, các khu vực của hệ thống quản lý Nhà nước vẫn tiếp tục tự xoay xở để tìm giải pháp cho mình, trong khi các công ty lại tiếp tục là các chuyên gia nghiệp dư đi xây dựng và phục vụ cho hệ thống Hành chính điện tử…

Nếu kết quả của Đề án 112 là khả quan, thị trường còn có được những công trình CNTT, công trình PM có quy mô quốc gia, thí dụ như các hệ thống dịch vụ công trên toàn quốc. Với 112, các giải pháp và sản phẩm PM do các công ty cung cấp có cơ hội trở thành “chuẩn thị trường”, được đưa vào cuộc sống thực tế cả những khu vực thị trường khác, như các hệ thống xử lý văn bản, hồ sơ, hệ thống quản lý điều hành tác nghiệp… và vô hình trung, thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành CNPM. Tiếc thay, tất cả các triển vọng trên đều không trở thành hiện thực, và kết quả tiêu cực của chương trình thất bại đó là sự biến mất của hàng loạt công ty, đáng lẽ phải phát triển thành những nhà cung cấp PM đáng kể trên thị trường.

Đề án 112 thất bại đã không được nối tiếp kịp thời bằng một một chương trình khác thay thế, và cho đến gần đây, tôi cho rằng thị trường Chính phủ vẫn chưa có một định hướng rõ ràng cho tương lai.

Kỳ tới:  Gót chân Asin của công nghiệp phần mềm Việt Nam?

TS Trần Lương Sơn



------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Bỉ thiết kế và xây dựng vệ tinh nhân tạo quản lý môi trường sinh thái giúp ngư dân Việt Nam đánh cá

July 27th, 2011 
 
Vệ tinh quan sát sinh thái
Vệ tinh quan sát sinh thái

Vệ tinh nhân tạo Bỉ cho Việt Nam

Một công ty hàng không không gian Bỉ SPACEBEL có địa bàn tại Liège chuyên về công nghệ không gian và quản lý lãnh thổ, môi trường vừa ký với chính phủ Việt Nam một hợp đồng trị giá 70 triệu Euro để xây dưng một vệ thinh tý hon dung cho việc quan sát môi trường sinh thái

Các kỷ thuật gia Bỉ sẽ thiết kế và chế tạo vệ tinh đồng thời những thiết bị cần thiết cho việc quan sát sinh thái. Phía Bỉ cũng sẽ tổ chức các phương tiện trênđất liền tại Việt Nam dung cho việc thu nhận và phân tích những dữ kiện do vệ tinh gởi về.

Hợp đồng đã được ký kết sau 5 năm thương thảo và phía Bỉ đã thắng thầu đánh bại những công ty uy tín như  EADS (Hàng không Không gian Quốc phòng Châu Âu), Thales…

Hợp đồng sẽ chính thức công bố năm 2012 khi phái đoàn kinh tế Bỉ do Thái tử Philippe dẫn đầu sẽ sang Việt Nam trong năm tới 2012.

Mục đích của dự án này là giúp đỡ ngư dân Việt Nam tìm nguồn cá hữu hiệu. Vệ tinh cũng sẽ làm nhiệm vụ quan sát sự thay đổi của khí hậu cũng như những ảnh hưởng đi theo : ô nhiễm môi trường trên Biển Đông và trên sông Cữu Long có nguy hại cho nền kinh tế lúa nước của Việt Nam.

Cho đến bây giờ Việt Nam phải mua lại nhưng dữ kiện này từ đối tác nước ngoài. Khi vệ tinh được phóng lên Việt Nam sẽ có điều kiện riêng cho mình trên lĩnh vực này!
Một hình ảnh của Đại học Liège: Bệnh viện Đại học
Một hình ảnh của Đại học Liège: Bệnh viện Đại học

Đại học Liège cũng sẽ tham gia dự án trên lĩnh vực giáo dục đào tạo. Khoảng 20 kỹ sư Việt Nam sẽ được cấp học bổng sang Bỉ theo học các lớp thạc sỹ về ngành hàng không không gian. Công ty SPACEBEL đã có mặt tại Tp Hồ Chí Minh từ những năm 90 của thế kỷ trước.

Nguồn:
http://www.lalibre.be/economie/actualite/article/675194/satellite-pur-belge-pour-le-vietnam.html

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2011

Báo Nhật: Trung Quốc chuẩn bị thâu tóm Biển Đông

Nguồn: NCBĐ

 
 
Theo báo "Yomiuri" (Nhật), với việc đưa tàu sân bay vào sử dụng, Trung Quốc đang định thâu tóm hoàn toàn quyền khống chế trên Biển Đông, tiến hành phong tỏa và thâm nhập sâu vào vùng biển này. Đây là mối nguy hiểm không chỉ đối với biển Đông mà còn đối với cả biển Hoa Đông, nơi có quần đảo Senkaku của Nhật Bản. 
Báo "Yomiuri" cho biết ngày 8/7, báo "Thanh niên Trung Quốc" của Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc - cơ sở chính trị của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào - đã đăng bài xã luận với tựa đề “Hàng không mẫu hạm của Trung Quốc trong tương lai sẽ như thế nào” của một đại tá hải quân, chuyên gia của Viện nghiên cứu học thuật quân sự hải quân, trong đó nêu rõ: Trung Quốc, với tư cách là một cường quốc hải dương, cần phải có tàu sân bay hạng trung trở lên. Nếu theo đúng qui tắc, Trung Quốc phải có ít nhất 3 tàu sân bay. Theo báo "Yomiuri", tuyên bố trên ám chỉ việc Trung Quốc sẽ đóng thêm 2 tàu sân bay nữa, ngoài tàu sân bay Varyak mua của Ucraina. Tàu sân bay do Trung Quốc bắt đầu tự đóng trong năm nay sẽ được biên chế vào Hạm đội Hải Nam quản lý Biển Đông. Nếu hai đội tàu chiến có tàu sân bay được triển khai ở Biển Đông, một đội sẽ làm nhiệm vụ tuần tra-tác chiến, còn đội kia có thể tham gia hỗ trợ và đảm nhiệm công tác huấn luyện. Các đội tàu chiến có tàu sân bay của Trung Quốc - với sức mạnh chiến đấu áp đảo - sẽ thường trú ở Biển Đông và các nước như Philíppin sẽ không thể “động chân, động tay” được nữa. Như vậy, trên thực tế, Biển Đông sẽ trở thành “biển của Trung Quốc”.
Nhật Bản, nước đang đối đầu với Trung Quốc về các lợi ích ở biển Hoa Đông, cũng sẽ không tránh khỏi bị ảnh hưởng. Một nguồn tin nắm rõ mối quan hệ Nhật-Trung bày tỏ lo ngại rằng “khi va chạm xảy ra ở vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku, có thể tàu sân bay của Trung Quốc sẽ xuất hiện ở khu vực này. Đây là mối đe dọa lớn”.
Việc Trung Quốc sở hữu tàu sân bay và tích lũy kinh nghiệm vận hành còn được cho là nhằm răn đe Mỹ trong tương lai vì Mỹ đang tăng cường can dự vào tình hình Biển Đông. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng “cho dù tàu sân bay của Trung Quốc được hoàn thành, trước mắt nó vẫn chưa trở thành mối đe dọa lớn đối với Mỹ vì Trung Quốc thiếu kinh nghiệm vận hành". Báo "Sankei" của Nhật Bản dẫn lời giáo sư trường đại học quốc phòng Mỹ Bernard Cole, người có kinh nghiệm 30 năm làm sĩ quan hải quân Mỹ và là hạm trưởng tàu khu trục ở Thái Bình Dương, cho rằng tàu sân bay của Trung Quốc quá yếu trước sức tấn công của quân Mỹ khi xảy ra chiến sự và sẽ trở thành mục tiêu dễ bị tiêu diệt. Hải quân Trung Quốc chưa đủ tàu tiếp nhiên liệu và tàu vận tải để hỗ trợ tàu sân bay. Bản thân tàu sân bay của Trung Quốc không có khả năng phòng ngự và tấn công như tàu sân bay của Mỹ. Ngoài ra, nếu Trung Quốc đóng nhiều tàu sân bay, nguồn tài nguyên để đóng các tàu chiến khác sẽ giảm đi. 
Các chuyên gia quân sự khác của Mỹ cũng chỉ rõ rằng tàu sân bay Varyak của Trung Quốc không có rađa giống như rađa E2 và cũng không có loại máy EA phòng chống rađa địch như của Mỹ. Máy bay “Tiêm kích J-15” của Trung Quốc cũng không thể so với máy bay Mỹ về tốc độ, cự ly bay và vũ khí được trang bị, trong khi các tàu hộ tống và tàu ngầm bảo vệ tàu sân bay Varyak cũng yếu hơn.
Tuy nhiên, cũng có nhiều chuyên gia Mỹ nhấn mạnh đến uy lực trong thời bình của tàu sân bay Trung Quốc. Một chuyên gia về Trung Quốc từng là quan chức cao cấp của Bộ Quốc phòng Mỹ cho rằng năng lực của Mỹ và Nhật Bản trong việc đối phó với tàu sân bay Trung Quốc khi xảy ra chiến sự là rất cao, nhưng để tấn công và vô hiệu hóa tàu sân bay của Trung Quốc thì không phải dễ mà phải triển khai trước một lực lượng chiến đấu đặc biệt tại những vị trí xác định. Ngoài ra, tàu sân bay vào thời bình có hiệu quả vô cùng lớn trong việc phô trương sức mạnh và uy tín với người dân. Do đó, cần coi trọng sức mạnh mà tàu sân bay tạo ra cho toàn bộ chiến lược hải dương của Trung Quốc. Một chuyên gia cảnh báo: "Tàu sân bay của Trung Quốc sẽ trở thành mối đe dọa thực sự sau 10-20 năm nữa”. Với việc triển khai tàu sân bay, hải quân Trung Quốc còn nhằm tiến ra Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương. Ở Ấn Độ Dương, Trung Quốc đang hợp tác với Mianma, Xri Lanca, Pakixtan và bắt đầu xây dựng các cảng quân sự.
Theo Yomiuri
  Mỹ Anh (gt)
------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

Nhật Bản phát hiện tại đáy Thái Bình Dương các mỏ kim loại đất hiếm

Nguồn: Blog Kichbu

Các khoáng chất ở đáy đại dương

Минералы на дне

Những người Nhật Bản đã phát hiện thấy các mỏ kim loại đất hiếm tại đáy biển Thái Bình Dương
Nguồn: vz.ru
Kichbu post on thứ hai, 04.7.2011
 Новость на Newsland: Крупные залежи редкоземельных металлов обнаружили японцы
Các nhà địa chất  Nhật Bản đã phát hiện tại đáy biển Thái Bình Dương các mỏ kim loại hiếm khổng lồ mà chúng được sử dụng trong các sản phẩm công nghệ cao. Khối lượng của chúng vượt gấp 1000 lần so với các mỏ kim loại hiếm tương tự trên đất liền. Thêm vào đó, theo lời các nhà khoa học, chúng có thể dễ dàng khai thác.

Các nhà bác học đại học Tokyo đã phát hiện ở đáy biển Thái Bình Dương các mỏ kim loại đất hiếm, có trữ lượng vượt 1000 lần các mỏ nguyên liệu này trên lục địa.
Chỉ 1 km2 mỏ kim loại đất hiếm có thể đảm bảo cho một phần năm nhu cầu sử dụng trong năm của toàn thế giới.

Mức độ tập trung của kim loại đất hiếm rất cao. Chỉ 1 km2 mỏ kim loại đất hiếm có thể đảm bảo cho một phần năm nhu cầu sử dụng trong năm của toàn thế giới, phó giáo sư đại học Tokyo Yasuhiro Kato thông báo.

Các nhà nghiên cứu phát hiện chúng tại khu đất bùn đáy biển ở độ sâu 3500 đến 6000 m, hãng Reuters đưa tin.

Các mỏ này nằm tại vùng lãnh hải quốc tế cách các đảo Hawaii về phía đông và tây, và phía đông Taiti, Yasuhiro Kato nói. Diện tích ước khỏang 11 triệu km2.

Theo đánh giá của ông, số lượng kim loại đất hiếm hiện nằm ở đáy Thái Bình Dương vào khoảng từ 80 đến 100 tỷ tấn. Thêm vào đó các trữ lượng thế giới kim loại như vậy Cục địa chất Hoa Kỳ ước 110 triệu tấn. Các nguồn đất hiếm hiện chủ yếu tập trug tại Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nga và các nước khác của Liên Xô trước đây.

Mức độ của uran và topia tại các mỏ của Thái Bình Dương – các chất phóng xạ mà chúng thường là mối đe dọa an ninh sinh thái – chiếm một phần năm toàn bộ các nguồn dự trữ trên Trái đất.

Hiện nay sự thiếu hụt kim loại hiếm cần thiết sống còn đối với việc phát triển sản xuất trong lĩnh vực điện tử, từ thạch và pin công nghệ cao buộc phải phát triển các dự án khai thác chúng trong những năm gần đây. Trung Quốc  mà tỷ lệ cung cấp kim loại đất hiếm cho thế giới ciếm 97% đã xiết chặt các nguyên tắc buôn bán kim loại chiến lược và việc này đã gây đột biến tăng giá.

Theo các thông tin của bộ tài chính Nhật Bản, vào tháng năm giá bình quân mỗi tấn kim loại đất hiếm mà Trung Quốc xuất khẩu là 88,2 nghìn dollars. Để so sánh:  vào giai đoạn từ tháng một đến tháng tư giá bình quân mỗi tấn của kim loại đất hiếm của Trung Quốc là 65,6 nghìn dollars.

Nhật Bản, mà tỷ lệ của nó một phần ba nhu cầu của thế giới, đã tập trung các nguồn cung cấp kim loại đất hiếm như disprozie đang sử dụng trong các thạch từ.
Đáy biển Thái Bình Dương đặc biệt phong phú các kim loại nặng, ví dụ, gadolnia, lyutensie, terbie và disprozie. Chúng được sử dụng để sản xuất TV màn hình phẳng, các diod điện quang và ô tô hổn hợp. Chúng cũng có ý nghĩa quan trọng đối với khu vực quốc phòng.

Tuy nhiên các kim loại đất hiếm cần khai thác từ đáy Thái Bình Dương. Để làm điều đó, theo lời các nhà khoa học, cần sử dụng a xít loãng. Yasuhiro Kato đoan chắc rằng đây là quá trình nhanh, và trong thời gian vài giờ có thể khai thác được 80-90% kim lạo đất hiếm. Tuy vậy, phó giáo sư đại học Tokyo không giải thích rõ khi nào sẽ bắt đầu khai thác các kim loại này.

Nhật Bản đang chuẩn bị xây dựng nhà máy chế biến kim loại đất hiếm tại Ấn Độ để tránh sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu của Trung Quốc. Ngoài ra, Tokyo đã đạt được các thỏa thuận với công ty khia thác Lunas của Úc mà công ty này đang đảm bảo cho 30% nhu cầu của Nhật Bản về kim loại đất hiếm. Và Nhật Bản cũng đã ký được hợp đồng khai thác kim loại đất hiếm với chính phủ Việt Nam.

Đối với Nhật Bản khả năng phát hiện các nguồn khác của nguyên liệu này có ý nghĩa to lớn nếu tính đến vụ đụng độ mới đây với tàu đánh cá của Trung Quốc khi đó CHND Trung Hoa thực tế đã ngưng cung cấp các kim loại đất hiếm cho Nhật Bản, hãng RIA «Novosti» đưa tin. 

Vào tháng chín 2010 các cuộc tranh cãi  Nhật-Trung về đảo Dyaoyuidao trở nên căng thẳng nghiêm trọng. Lúc đó các tàu bảo vệ ven biển của Nhật Bản đã bắt giữ tàu đánh cá của Trung Quốc với một thuyền trưởng và 14 thủy  thủ đoàn trên bong.-Kichbu-

Kichbu: Bài này lắm từ kỹ thuật quá. Các bạn đọc thông cảm và hiệu đính giúp..:)-
------------------
*****


»» xem thêm

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2011

"Gió giật", siêu vũ khí dưới nước của Liên Xô (kỳ 1+2)

Nguồn: baodatviet.vn
Cập nhật lúc :9:35 AM, 03/07/2011
Đôi lời:  Việc báo Đất Việt đưa ra loại vũ khí này trong thời điểm này là cả vấn đề cần suy nghĩ các bác ạ. Hy vọng, trong thời gian qua, Việt Nam ra với vốn sáng tạo, đã chế ra nhưng tên lửa-ngư lôi dùng cho đặc công nước.
Giả sử rằng, một tên lửa-ngư lôi to bằng một người đặc công, sau khi được ca nô cao tốc đưa đến cách tàu chiến đối phương khoảng 45-50 km, sau đó một đặc công nước và một ngư lôi được nhẹ nhàng di chuyển đến cách tàu địch khoảng 300-500 mét, sau đó ngắm và bấm nút... một tốp 3-5 người như thế (mỗi người một ngư lôi) dành cho một tàu chiến hoặc tầu ngầm Trung cộng.
Biết đâu, Việt Nam mình có cái mòn này?! 

Phương Tây không quan tâm lắm đến việc chế tạo loại vũ khí mới này và cho rằng việc chế tạo là không cần thiết vì họ nghĩ rằng tàu ngầm Nga gây tiếng ồn rất lớn và không thể tiến gần đến tàu địch được. 

Thế nhưng chính Shkval đã giải quyết điểm yếu này khi có thể tấn công tàu địch từ khoảng cách rất xa. 

Shkval hoàn toàn là loại tên lửa – ngư lôi sát thủ. VA-111 không có đầu dẫn chủ động và cũng không có thiết bị tự dẫn. Không có loại tín hiệu radio nào thoát ra khỏi túi bọt khí bao bọc quanh nó. 

Ngư lôi tự động di chuyển theo tuyến đường đã được lập trình trên máy tính của đầu đạn, đi theo tọa độ đã định không thay đổi và không bị ảnh hưởng bởi nhiễu điện từ trường. 

Báo chí cho rằng: trong lĩnh vực này, người Mỹ đã chậm chân rất xa, nhưng thực tế không hẳn như vậy, các nhà khoa học Mỹ đã đạt được tốc độ dưới nước lên tới 1.549m/giây, vượt tốc độ âm thanh dưới nước.  Nhưng từ thí nghiệm đến thực tế chế tạo còn rất xa, vì thế, hoạt động tình báo công nghiệp quốc phòng đã hoạt động hết sức sôi động. 

Trên Internet, người ta có thể tìm thấy rất nhiều các tài liệu về Shkval, nhưng có những chi tiết kỹ thuật chưa hề được công bố, và sẽ vô cùng khó khăn tạo ra được một sản phẩm tương đương. 

Các nhà khoa học quân sự cũng đã thông báo khá nhiều về những tiến bộ của Shkval, ví dụ như khoảng 4 năm trước tạp chí Military Parade công bố về một loại siêu ngư lôi có thể "nhảy" lên khỏi mặt nước và tấn công tàu từ phía trên. Cùng thời gian đó, ITAR-TASS thông báo Hải quân Nga sẽ thử nghiệm loại tên lửa – ngư lôi VA-111 nâng cấp. Dù sao đi nữa, thì VA-111 vẫn chưa hề có một loại vũ khí tương đương. 

Đầu đạn lửa dưới đáy nước
Điểm đặc biệt của siêu tên lửa, đó là tốc độ. Tốc độ của Shkval và các ngư lôi thông thường khác nhau tương tự như xe đua công thức 1 và xe Ford-T.  

Tốc độ tối đa của nó rất lớn, thông thường ngư lôi có tốc độ khoảng 60 -70 hải lý/giờ, nhưng Shkval có tốc độ đến 200 hải lý (370km/giờ) đạt kỷ lục tuyệt đối trong nước biển. 

Để đạt được và duy trì một tốc độ lớn như vậy cần phải có một lực đẩy rất lớn, lực đẩy này không thể sử dụng được bằng động cơ thông thường với chân vịt, do đó, tên lửa – ngư lôi được sử dụng độ cơ tăng tốc phản lực, với lực đẩy lên đến hàng chục tấn, nó sẽ đẩy ngư lôi sau khi phóng khoảng 4 giây, và sẽ tách ra khỏi ngư lôi. Sau đó, động cơ hành trình của ngư lôi, cũng là động cơ phản lực sử dụng nhiên liệu rắn bao gồm nhôm, magiê, liti, hoạt động cháy nhờ phản ứng hóa học với nước biển.
Sơ lược cấu tạo VA - 111. Động cơ tên lửa sử dụng nhiên liệu rắn. Dụng cụ đo lường quán tính. Tự động lái. Mũi tên lửa ngư lôi được bịt kim loại hình chóp elip.
Các bộ phận chính: 

- Họng xả động cơ hành trình
- Họng xả động cơ phóng gia tốc
- Buồng đốt (động cơ) thuốc phóng rắn
- Động cơ hành trình thuỷ phản lực
- Đầu nổ
- Bộ lái hướng bằng cách nghiêng đĩa tạo khoang có ống thu nước cho động cơ hành trình thuỷ phản lực
- Lỗ phun khí tạo khoang
- Máy tạo khí
- Cổng nhập tham số điều khiển định trước
- Nhưng ngay cả động cơ phản lực cũng không thể tạo được vận tốc lớn như vậy, điều thú vị của Shkval là ở hiệu ứng siêu khoang bọt. Ngư lôi hoàn toàn không bơi, mà bay trong đám bọt khí mà tên lửa ngư lôi tự tạo ra. 

Siêu khoang hoạt động thế nào? 

Phần đầu của tên lửa – ngư lôi được đặt một thiết bị đặc biệt, máy tạo khoang bọt khí. Đó là một miếng kim loại dày hình elip được mài sắc cạnh. Thiết bị tạo bọt có góc nghiêng với trục của ngư lôi, trên mặt cắt ngang có hình tròn, để tạo góc nâng cho tên lửa - ngư lôi. 

Phía đuôi lực nâng được tạo ra bởi cánh đuôi. Khi đạt tốc độ đến 80m/giây ở sát cạnh của tấm tạo bọt, khí đạt cường độ cao đến mức tạo thành bọt khí khổng lồ bao trùm toàn bộ ngư lôi, do đó lực cản thủy năng giảm xuống rõ rệt. 

Nhưng trên thực tế, một thiết bị tạo bọt không đủ, do đó trên đầu của tên lửa – ngư lôi có những lỗ-ống dẫn khí tạo bọt, bọt khí được tạo ra bởi một máy nguồn tăng khí ga. Điều đó cho phép tăng khối bọt khí và và quả bong bóng bao chùm toàn bộ thân của tên lửa – ngư lôi. Từ mũi đến động cơ phản lực đuôi tên lửa. 

Điểm yếu của tên lửa ngư lôi siêu khoang 

Tên lửa – ngư lôi được lập trình trước thời điểm phóng, thông số của tọa độ mục tiêu được nạp vào máy tính đầu đạn (đương nhiên đã tính cả tọa độ di chuyển của mục tiêu). Do đó, nó không có mối liên lạc 2 chiều, tín hiệu radio dưới nước không xuyên qua được bong bóng siêu khoang. 

Shkval không thể quay được, hệ thống ổn định tên lửa buộc nó phải đi theo đường thẳng, sự thay đổi độ lệch sẽ được điều khiển bằng bánh lái, gần chạm nhẹ vào bọt khí, nếu có thay đổi hơn thì ngư lôi sẽ lệch hướng và phá hỏng bọt khí. 

Tên lửa không thể ngụy trang được, nó được phóng ra với tốc độ rất cao và tạo ra tiếng rít rất mạnh, bọt khí nổi lên trên mặt nước tạo thành đường bọt rất rõ, chuyển động với vận tốc cực nhanh. 

Sát thủ tàu sân bay và tàu tuần dương


Người Mỹ gọi Shkval là sát thủ tàu sân bay và tàu tuần dương. Và đó cũng là nhiệm vụ chủ yếu của tên lửa – ngư lôi Shkval VA-111. Nó có thể diệt 1 tàu sân bay hoặc một cụm tàu sân bay nếu như được lắp đầu đạn hạt nhân. 

Thoát khỏi hoặc tự vệ chống lại Shkval hoàn toàn không thể, trong vòng 100 giây tên lửa - ngư lôi lao tới mục tiêu. Không có một tàu tuần dương hoặc một tàu ngầm nào có khả năng quay vòng hoặc né tránh, giảm tốc độ hay khởi động ngư lôi đánh chặn, trong trường hợp có độ lệch thì sai số của ngư lôi là 15-20 m, nhưng với đương lượng thuốc nổ mạnh 210 kg có trong đầu đạn, đặc biệt khi bị tấn công bằng 2 đầu đạn song song, số phận chiến hạm mục tiêu được coi là kết thúc.
" Gió giật-E/ Shkval -Э" là biến thể xuất khẩu với đầu đạn nổ mảnh, thuốc nổ TNT.


Biển thể nâng cấp của "Gió giật/ Shkval" là "Gió giật-15/Shkval-15" và "Gió giật-15B/ Shkval -15Б". Chưa có thông số chính xác về tính năng kỹ chiến thuật. Nhưng có thể nói, từ những giải pháp kỹ thuật cực kỳ đơn giản và tin cậy, từ những năm 1960, Shkval đã có một tốc độ và khả năng tác chiến đáng sợ, với khả năng nâng cấp và cải tiến vô cùng, siêu ngư lôi có thể có được những tính năng thế nào, mong các bạn tưởng tượng.
Tính năng kỹ chiến thuật của Shkval:
- Trọng lượng : 2.700kg.
- Đường kính : 533,4mm.
- Dài : 8200mm.
- Tầm bắn : 7-12km (có tài liệu nói tầm bắn tối đa 10km).
- Tốc độ : 90-100m/s.
- Góc ngoặt sau loạt phóng:  ± 20o.
- Độ sâu hải trình : 6m.
- Loại đầu đạn : Nổ phá (Thuốc nổ TNT)
- Trọng lượng chất nổ : 210kg.
- Mang đầu đạn hạt nhân: Đương lượng nổ 15-18KT (Mẫu sản xuất 1978).
- Các tàu được trang bị : chiến hạm, tàu ngầm.
- Độ sâu trong nước có thể phóng : 30m.
>> 'Gió giật', siêu vũ khí dưới nước của Liên Xô (kỳ 1)

Vũ khí hải quân

Trịnh Thái Bằng/ Giáo dục Quốc phòng An ninh

------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này