++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Viết Đào. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Viết Đào. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

Những "quả bom" đại thảm họa đang treo trên đầu người dân Trung Hoa cộng sản (phần 1)



Nguyễn Vĩnh Long Hồ.
Tổng hợp các tài liệu, phân tách và nhận định...)

Cuộc phát triển thần kỳ của Trung Cộng trong thế kỷ XXI làm cho cả thế giới kinh ngạc. Bọn Trung Nam Hải thừa thắng xông lên với tham vọng thống trị thế giới bằng chủ nghĩa thực dân mới đã lỗi thời bị nhân loại vứt vào thùng rác lịch sử tiến hóa của nhân loại. Trung Cộng bây giờ ví như một cây cổ thụ khổng lồ mà cái tàng cây và các rễ phụ bò tràn lan trên mặt đất, trùm phủ lên trên một diện tích rộng của thế giới để thu hút các tài nguyên thiên nhiên nhằm thỏa mãn cơn khát quyền lực. Nhưng, cây cổ thụ không có rễ cái ăn sâu trong lòng đất để giữ cho gốc bền vững thì làm sao có thể chống lại những trận động đất, cuồng phong? Và bên trong thân cây cổ thụ khổng lồ nầy bị ruỗng nát bởi những loại mối mọt đụt khoét trong cốt lõi của nó? Đó chính là những đại thảm họa và nan đề sẽ hủy diệt tên thực dân mới Trung Cộng trong thập niên tới đây, một căn bệnh ung thư nan trị đang tàn phá cơ thể người khổng lồ Trung Cộng.
 
I.  NHỮNG ĐẠI THẢM HỌA CỦA TRUNG CỘNG:
MÔI SINH:
Một trong những ưu tư hàng đầu của thế giới hiện nay là làm sao cứu vãn và bảo vệ môi sinh hiện bị đe dọa trầm trọng trên địa cầu. Thật vậy, tại nhiều nước lương thực không kịp sản xuất để cứu đói, diện tích canh tác đang thu hẹp dần vì thiên tai, kỹ nghệ đang phát triển làm ô nhiễm bầu khí quyển, không kể trái đất trở nên quá tải vì bị khai thác quá mức. Trung Hoa Lục Địa ở vào một trong số quôc gia suy thoái nhất về môi sinh. Trong ba thập niên qua, Trung Cộng không chú trọng đến môi sinh mà chỉ chạy theo chỉ tiêu phát triên kinh tế, gây nên tình trạng ô nhiễm đến độ cực kỳ nguy hiểm.

Một viên chức môi sinh hàng đầu của Trung Cộng nói rằng, cuộc chiến chống nạn ô nhiễm kinh niên của nước ông đang gặp nhiều khó khăn vì tình trạng đô thị hóa và tăng trưởng nhanh chóng. Thứ Trưởng Bộ Môi Trường tên Trương Lập Quân phát biểu tại cuộc họp báo tháng 3/2011, số lượng các chất ô nhiễm ở Hoa Lục tiếp tục ở mức cao và một số khu vực không đạt được chỉ tiêu do chánh phủ đề ra. Các công nghiệp mới cũng tạo nhiều hóa chất nguy hiểm và các loại chất thải điện tử. Điều nầy tạo ra những vấn đề tác hại tới sức khỏe của nhân dân.

Theo báo cáo chính trị Đại Hội XVII, cái giá phải trả cho sự phát triển kinh tế thần kỳ của Trung Cộng trong ba thập niên qua: Nguồn nước bị ô nhiễm với nhiều mức độ khác nhau: 70% nước sông hồ và 90% nguồn nước ngầm đã làm cho hơn 10% cây công nghiệp bị nhiễm kim loại nặng:

SÔNG DƯƠNG TỬ (Yangtze): Mổi năm có khoảng 30 tỷ tấn nước ô nhiễm chưa xử lý đã thải ra sông hồ. Ngoài ra, sông Dương Tử còn phải gồng mình tiếp nhận 24 tỷ tấn chất phế thải công nghiệp.

SÔNG HOÀNG HÀ (Huanghe): Con sông nầy dài 4.666 km chảy qua miền cao nguyên đất vàng gọi là hoàng thổ độ dầy đến 100 thước tại vùng Thiểm Tây đem lại phù sa đất vàng phì nhiêu. Nhưng, vì sự sai lầm chết người của Mao Trạch Đông trong kế hoạch “đấp đập trị thủy” đem đại họa triền miên cho vùng Hoa Bắc, bởi mỗi khi đê vỡ, sông Hoàng Hà sẽ đổi dòng chảy vào Bột Hải. Mỗi lần đổi dòng làm nhà cửa ruộng vườn, đất đai canh tác bị tàn phá nặng nề làm hàng trăm người chết. Hoa Bắc ít mưa, nhưng sau trận lụt là hạn hán kéo dài 2, 3 năm, gây ra nạn đói triền miên. Rồi đến thời kỳ kỹ nghệ hóa, nạn đốn cây phá rừng bừa bãi để lấy đất canh tác theo phương pháp cũ, được giới chuyên gia kinh tế mệnh danh “Slash and burn farming”, xin đọc bài nghiên cứu “Cultivating trouble” của Murray Hiebert trong FEER, July, 1997.

BỘT HẢI: là nội hải của Hoa Lục vì phải chứa các nguồn nước ô nhiễm và chất phế thải công nghiệp nên đang đứng trước nguy cơ sẽ là “biển chết”.

THÁI HỒ: là hồ chứa nước ngọt lớn nhất ở Hoa Lục đã bị ô nhiễm tới mức chánh phủ phải bỏ ra 15 tỷ USD để cứu Thái Hồ trong vòng 10 năm. Chánh quyền phải đóng cửa 772 xí nghiệp hóa chất, 125 nhà máy chế tạo bình điện accu và 76 nhà máy giấy.

HẮC LONG GIANG (Heilóngjang): Chạy dọc theo biên giới Nga – Hoa là dòng sông ô nhiễm nhất Hoa Lục. Nhiều khúc sông dài cả trăm cây số, nước đen ngòm vì chất thải kỹ nghệ. Dân Nga ở phía bên kia biên giới, hàng ngày phải vớt hàng ngàn thùng hóa chất bằng nhựa do dân Tàu quăng xuống dòng Hắc Long Giang một cách vô trách nhiệm.

THAN ĐÁ: Năng lượng chính của Hoa Lục sử dụng đến 3.000 triệu tấn than đá/ năm đạt tới 70%, cộng thêm khói và bụi của hàng chục ngàn nhà máy công kỹ nghệ, hàng trăm triệu chiếc xe hơi và xe có động cơ thải ra hàng ngày đã làm cho Hoa Lục trở thành nước có số lượng khí thải CO2 lớn nhất thế giới. 60% dân các thành phố Hoa Lục phải thở bầu không khí ô nhiễm cao hơn 5 lần tiêu chuẩn của WHO ấn định. Mỗi Năm có khoảng 750.000 người chết vì thở không khí ô nhiễm.

RÁC RƯỞI: Hoa Lục coi như là quốc gia bị rác rưởi bao vây nghiêm trọng nhất thế giới. Trong hơn 600 đô thị lớn nhỏ của Trung Cộng thì có tới 2/3 thành phố bị rác rưởi bao vây. Tổng số lượng rác thải ra trong các thành phố nầy hàng năm lên tới 150 triệu tấn.

Xin liệt kê vài thành phố điển hình:

BẮC KINH: Thủ đô Bắc Kinh có khoảng 14 triệu người sinh sống trong cơn sốt xây dựng cao ốc, nhà cửa, công thự…chỗ nào cũng thấy xe trộn xi măng, xe cầu cẩu hoạt động rầm rộ. Một hình ảnh tương phản là những công nhân xây dựng vẫn còn sử dụng cuốc xẻng thô sơ để xúc cát đá vào những các ki đan bằng tre, phải chăng để giải quyết nạn thất nghiệp? Bụi mù quanh năm che phủ Bắc Kinh, đây cũng là một trong những thành phố ô nhiễm nhất, nhì thế giới. Vào mùa đông, dân chúng sống trong những căn nhà ổ chuột, lụp xụp ở ngoại ô vẫn còn dùng than đá để sưởi ấm, trong không khí đầy mùi than đá nồng nặc. Khi rửa mặt, soi gương thấy màng mũi dính đầy bụi than. Chưa kể những cơn bão cát từ sa mạc Gobi thổi về làm tối tăm trời đất. Đại họa sa mạc hóa đang tiến dần đến ngưỡng cửa Bắc Kinh.

THƯỢNG HẢI: Đầu tàu kinh tế của Hoa Lục, một New York của Tàu ở bờ dọc bờ biển phía Đông, cũng trong cơn sốt xây dựng công kỹ nghệ hiện đại và hàng trăm nhà máy điện chạy bằng…than đá. Dân chúng Thượng Hải không còn không khí sạch để thở, không còn nước sạch để uống, mọi sự sống đang chấm dứt trên sông Dương Tử vì phải hứng chịu hàng năm ước tính khoảng 25 tỷ tấn hóa chất, rác độc từ những xưởng công kỹ nghệ dọc theo sông Dương Tử.

Cả thành phố Thượng Hải chìm  trong bầu không khí màu vàng đục do các nhà máy chạy bằng than đá thải khói ra bao trùm thành phố. Theo báo cáo mới đây cho biết, tình trạng thiếu hụt năng lượng đang lan rộng và tác động tiêu cực đến xã hội Hoa Lục. Trong khoảng thời gian từ đây đến tháng 9, sẽ có ít nhất 10 tỉnh thành của Hoa Lục phải trải qua cảnh cạn kiệt năng lượng. Riêng Thượng Hải sẽ có tới 24.000 doanh nghiệp được thông báo về nguy cơ thiếu điện trầm trọng và 70% nhu cầu năng lượng của Trung Cộng vẫn là THAN ĐÁ. Trong khi đó, giá than đá nhập cảng lại không ngừng tăng giá. Trung Cộng hiện tiêu thụ đến 46 % năng lượng than đá trên thế giới, trong khi giá cả tăng gắp đôi trong vòng 5 năm qua. Chính sự tăng giá của nguồn than đá nhập cảng là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng lạm phát cao ngất ngưỡng của Trung Cộng làm gia tăng tốc độ lạm phát ở mức 6,7 % hồi tháng 7 và có thể leo thang lên tới 7,2 % vào cuối năm 2011.

QUẢNG CHÂU: Thành phố Quảng Châu là nơi tổ chức Á Vận Hội lần thứ XVI bị bụi khói do các nhà máy sản xuất xi măng chạy bằng than đá thải ra, bao trùm cả thành phố Quảng Châu. Bầu không khí bụi bặm là một trong những mối lo ngại lớn nhất cho dân chúng.
 
TÌNH TRẠNG HẠN HÁN:

Hoa Lục đang trải qua một hạn hán khủng khiếp từ trước tới nay. Chánh quyền cho biết tình trạng khô hạn kéo dài nhiều tháng ở miền Trung và miền Đông là vụ hạn hán nghiêm trọng nhất kể từ hơn thế kỷ nay, khiến hàng triệu mẫu đất canh tác khô nức nẻ vì đã lâu không có giọt mưa nào, gây nên tình trạng thiếu nước cho hơn 1 triệu dân  của 13 thành phố lớn trong tỉnh Hồ Nam. Tân Hoa Xã cho biết sông hồ trong khu vực nầy bị cạn nước gây nên nạn thiếu nước ở hơn 150 thành phố và thị trấn tại các tỉnh khác. Có hơn 170.000 hecta đất canh tác tại tỉnh Hồ Nam bị thiếu nước, trong số nầy có hơn 100.000 hecta mùa màng không gặt hái được. Trong tháng 5 vừa qua, nhà chức trách cho biết tại tỉnh Hồ Bắc có gần 1.400 hồ  chứa nước ở đây không sử dụng được vì mực nước hồ xuống quá thấp.

Theo AFP, Trung Cộng đang quay cuồng trong cơn hạn hán (reeling from drought) đang hoành hành ác liệt ở khu tự trị Nội Mông và Hồi Ninh Hạ cùng các tỉnh Cam Túc, Quý Châu và Hồ Nam là do nhiệt độ nóng và không mưa kéo dài từ đầu tháng 7 đến nay. Theo báo cáo của Cơ quan Hạn hán của Trung Cộng cho biết: Tính đến ngày 31/7 năm nay, Trung Cộng có tổng cộng 422 triệu ha đất canh tác chịu ảnh hưởng nặng nề của hạn hán làm nông dân Hoa Bắc và 3.88 triệu gia súc lâm vào tình trạng thiếu nước uống trầm trọng và còn kéo dài chưa biết đến khi nào mới chấm dứt.
 
BĂNG TAN TRÊN ĐỈNH HIMALAYA:

Nhưng, tất cả chưa đáng sợ bằng thảm họa khi các băng hà trên đỉnh Himalaya tan hết thì cả tỷ người Trung Hoa sẽ lâm vào cảnh khốn đốn. Đó là một cái máy chém “guillotine” đang treo lơ lững trên đầu người dân Hoa Lục trong vài thập niên tới.
Trung Tâm International Centre for Intergrated Mountain Development (ICMOD) đã loan báo trong một buổi hội thảo về chủ đề toàn cầu vào tháng 6/2007: Trong vòng một thế kỷ qua, nhiệt độ bầu khí quyển đã tăng lên 0.74 độ C do sức ép quá lớn của hiện tượng nóng lên toàn cầu trong 3 thập niên qua. Nhiệt độ trung bình của vùng núi Himalaya đã tăng thêm tới 0.6 độ C, đó là những con số không thể bỏ qua.

Theo Surendra Shrestha – Giám đốc khu vực của cơ quan Environment Programme for Asia & the Pacific của LHQ – đưa ra nhận xét: “Nếu nhiệt độ trung bình của bầu khí quyển của trái đất cứ như đà tăng lên như hiện nay thì trong vòng 50 năm tới, khối băng hà và băng sơn vĩ đại trong vùng núi hiểm trở Himalaya sẽ tan hết, làm cho 1,3 tỷ con người từ Trung Hoa, Ấn Độ, Pakistan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam sẽ bị lâm nguy vì khối băng hà trên Himalaya là nguồn dự trữ và cung cấp nước cho 9 dòng sông lớn của Châu Á và bán đảo Ấn Độ…

Theo Andrea Schild – Giám đốc ICIMOD – cho biết: “Vì băng hà tan rã như thế sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng trên nhiều lãnh vực khác nhau. Đầu tiên là hệ sinh thái của vùng nầy sẽ biến đổi, các nhà máy thủy điện sẽ ngưng hoạt động, các nền công nghiệp và nông nghiệp sẽ lâm nguy và toàn vùng đất rộng lớn nầy sẽ trở nên nguy hiểm cho sự sống.

Một viễn tượng kinh hoàng nhất là hệ thống đập nước trên dòng sông Mekong sẽ ra sao khi Himalaya tan băng? Đó là hiện tượng tràn hồ và các hồ nước sẽ vỡ ra bất cứ vào lúc nào và làm ngập lụt vùng rộng lớn phía dưới hạ nguồn,” ông  nói tiếp. “Nếu một trận động đất xảy ra thì sao? Chỉ cần một trận động đất với cường độ nhỏ thôi, cũng khiến cho tất cả hồ chứa nước sụp đổ đồng loạt. Hiện tượng nầy sẽ giống như cơn sóng thần Tsunami, nó sẽ tàn phá sạch, quét sạch, giết sạch mọi sinh vật trên con đường đi của nó từ thượng nguồn đến hạ nguồn sông Mekong.”

Theo ông Om Bajrachatya, một nhà Thủy văn Học (Hydrologist) hàng đầu của chánh phủ Nepal, loan báo một tin không vui cho cả thế giới: “Khu vực băng hà KHUMBHU có ngọn núi Everest nổi tiếng đã giảm diện tích đều đặn hằng năm và lùi dần đến 30 thước kể từ 1978 tới 1995”...

( Còn nữa...) 

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

Trí tuệ Việt: Đưa vào sản xuất công nghiệp nhà máy sắt xốp bằng công nghệ hoàn nguyên đầu tiên ở Đông Nam Á tại Cao Bằng



ĐƯA VÀO SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP NHÀ MÁY SẮT XỐP BẰNG CÔNG NGHỆ HOÀN NGUYÊN ĐẦU TIÊN Ở ĐÔNG NAM Á Ở CAO BẰNG …

Phạm Viết Đào.

TGĐ Nguyễn Xuân Liêu với sản phẩm thép luyện trong tay được luyện từ sắt xốp MIREX đạt 99,2231 % hàm lượng sắt
Sáng nay 12/8/2011, Đại hội đồng cổ đông Công ty Cổ phần khoáng sản và luyện kim Việt Nam ( MIREX ) đã nhóm họp để biểu quyết, quyết định việc tiếp tục đầu tư, tăng vốn lưu động để chính thức đưa nhà máy luyện sắt xốp theo công nghệ hoàn nguyên vào giai đoạn sản xuất công nghiệp…
Đây là nhà máy luyện sắp xốp theo công nghệ hoàn nguyên đầu tiên được xây dựng tại khu vực Đông Nam Á; Nhà máy do tập thể kỹ sư, cán bộ công nhân viên Công ty MIREX tự thiết kế, lắp đặt dưới bàn tay vàng của Kỹ sư Nguyễn Ngọc Linh-Phó Giám đốc Kỹ thuật của công ty…
Ks Nguyễn Ngọc Linh là tác giả của phát minh sáng chế ra công nghệ hoàn nguyên luyện săt sắt xốp phi coke đã được Bộ Khoa học Công nghệ cấp bằng chứng nhận cách đây 2 năm; Đây là là công nghệ tiên tiến vào loại bâch nhất của thế giới hiện nay vì hạ giá thành, có thể dùng than gầy thay cho than mỡ và lại thân thiện môi trường vì hạn chế tối đa thải khí CO2 ra môi trường…
Theo công nghệ luyện thép hàng ngàn năm nay thì: quặng sắt được luyện ra thành gang, từ gang mới nấu ra thép; công nghệ truyền thống này buộc phải dùng than coke một loại nhiên liệu không có sẵn tại thị trường Việt Nam…Than coke vừa hiếm vừa có giá thành cao vì nó được luyện từ than mỡ; giá than coke thường cao gấp rưỡi than gầy; do đó đã đẩy ngành thép Việt Nam vào bế tắc, mặc dù chúng ta có nhiều mỏ quặng có trữ lượng lớn và chất lượng cao…
Bằng công nghệ hoàn nguyên do phát minh của kỹ sư Nguyễn Ngọc Linh, Nhà máy luyện thép Cao Bằng đã tự thiết kế ra một giây chuyền công nghệ hoàn nguyên; giây chuyền này không cần sử dụng than coke mà sử dụng loại than gầy bình thường của Quảng Ninh nhưng đã sản xuất thành công sắp xốp…
MIREX đã sử dụng những mẻ sắt xốp đầu tiên, đã đưa những mẻ sắt xốp vào những lò luyện thép bình thường hiện có tại Việt Nam để luyện thử; kết quả đã cho ra lò sản phẩm thép được Viện trưởng Viện Công nghệ kiểm định ghi nhận tại văn bản Kiểm định ngày 11/8/2011: Thép đạt hàm lượng sắt tới 99,2231 %; như vậy sản phẩm thép của MIREX đã đạt đạt hàm lượng cao của thế giới; với sản phẩm thép đạt tiêu chuẩn hàm lượng sắt trên 99 % này đủ tiêu chuẩn để có thể sản xuất ra bình ga, vỏ tàu thủy…



Như vậy bài toán dùng công nghệ hoàn nguyên do tập thể cán bộ kỹ sư MIREX phát minh, sáng chế, từ sản phẩm này tiến tới sản xuất ra thép hợp kim đã được MIREX tìm ra được lời giải…
Sau hơn một năm trời vận hành, chạy thử, rà soát, khắc phục những trục trặc kỹ thuật vì nhà máy được thiết kế và lắp đặt hoàn toàn mới; đến nay theo báo cáo của Tổng Giám đốc, chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Xuân Liêu trước toàn thể cổ đông sáng nay ngày 12/8/2011 thì giây chuyển công nghệ của nhà máy của MIREX tại Cao Bằng đã đạt tới sự ổn định 100 %...Tập thể cán bộ, kỹ sư, công nhân viên nhà máy đã hoàn toàn làm chủ nhà máy, hiểu rõ đặc điểm của từng công đoạn giây chuyền công nghệ để có thể kịp thời khắc phụ, tìm có đủ giải pháp đối phó nếu xảy ra sự cố…
Theo Tổng Giám đốc Nguyễn Xuân Liêu báo cáo, hiện nay giá sắt xốp trên thị trường thế giới giao động từ 8 tới 9 triệu đồng/tấn; mỗi tấn đã có thể có lãi từ 1 tới 2 triệu đồng; Dự kiến từ ngày 20/8/2011 nhà máy sẽ chính thức đi vào sản xuất công nghiệp…Vừa qua tuy chạy thử nhưng cũng đã sản xuất ra được 700 tấn sắp xốp…Hiện nay theo tính toán, sắp tới mỗi ngày nhà máy cho ra lò khoảng 100 tấn sắt xốp…
Hiện nay MIREX đã thu hút mộ lực lượng hơn 600 lao động trong đó chủ yếu là thanh niên các dân tộc tại Cao Bằng…
Cũng theo báo cáo của Tổng Giám đốc MIREX Nguyễn Xuân Liêu thì từ sắt xốp của MIREX có thể sản xuất ra mặt hàng bạc trượt chịu nhiệt, chịu được sự mài mòn và tự bôi trơn; các phin lọc xốp phục vụ ngành dầu khí và nhiều ngành công nghiệp khác; giá của 1 tấn sắt xốp nếu sản xuất ra các mặt hàng này có thể gia tăng lên tới 200 triệu/tấn…Hiện nay MIREX đã nhận được đơn đặt hàng về các sản phẩm này và đang mở rộng thị trường…Với chất lượng sắt xốp của MIREX, những sản phẩm trên của MIREX có độ bền hơn 200 lần so với những sản phẩm nhập ngoại từ các quốc gia tiên tiến như Thụy Điển, trong khi đó giá thành lại hạ hơn…
Để cho ra đời nhà máy luyện sắt xốp bằng công nghệ hoàn nguyên này, tiền đề để cho ra đời thép hợp kim có thể dùng cho công nghiệp quốc phòng, chế tạo vũ khí và các ngành công nghiệp mũi nhọn khác như dầu khí; tập thể lãnh đạo công nhân viên nhà máy dưới sự chéo lài lái của “Thuyền trưởng” Nguyễn Xuân Liêu, “cơ trưởng” Nguyễn Ngọc Linh, nhà quản trị Đặng Văn Mấn, nhà tổ chức và kiểm soát Nguyễn Xuân Dĩnh họ thật sự đã “nếm mật nằm gai” tại Cao Bằng mấy năm trời…Riêng Nguyễn Xuân Liêu đã phải bán đi mấy cái nhà để đổ vào lò luyện thép này; rất nhiều bạn bè do cảm phục và đặt niềm tin thép vào các anh đã mạnh dạn bỏ tiền túi của mình ra đầu tư vào nhà máy do tư nhân bỏ vốn ra thiết kế và xây dựng này…
Hiện nay tổng mức đầu tư của nhà máy trên 500 tỷ, một con số không lớn so với các công trình trọng điểm khác của nhà nước; nhưng đối với Nguyễn Xuân Liêu, Nguyễn Ngọc Linh, Đặng Văn Mấn và các cổ đông góp vốn thì đây không những là sự nghiệp mà còn là sinh mệnh, là toàn bộ gia tài của gia đình, vợ con họ…Thành công tất nhiên là vinh quang nhưng thất bại thì họ sẽ về “mo”…. Bởi MIREX là một công ty tư nhân dám đầu tư trí tuệ, công sức lao vào một ngành công nghiệp lớn, công nghiệp luyện thép... 
Như vậy câu cửa miệng của Nguyễn Xuân Liêu luôn phải có “ niềm tin thép “ đã có câu trả lời, đã có đáp án trong những ngày tháng 8 lịch sử này tại mảnh đất Cao Bằng…
Xin chúc mừng MIREX, chúc mừng những cái đầu dám nghĩ, với những trái tim ngoan cường không biết run sợ và không chịu khuất phục trước khó khăn; không chịu men theo lối mòn sẵn có để chỉ biết làm giàu cho bản thân mình. MIREX đã phiêu lưu, đã khai phá, đã sáng tạo và đã thành công. Với công nghệ hoàn nguyên này, MIREX không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới cho Cao Bằng, cho ngành thép Việt Nam và cho cả khu vực Đông Nam Á vốn rất giàu quặng sắt…

P.V.Đ

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

Phạm Viết Đào: Eu và Mỹ dùng kế "Lã Bố bắn kích ở Viên Môn" để ứng xử với tranh chấp Việt - Trung?



Đôi lời với bạn đọc:


Hôm 08/8 trong lời tâm sự với bạn đọc khi đưa tin bài "Việt Nam phản đối TQ khảo sát ở vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa", Chủ Blog có nói rằng: "... việc Trung cộng hợp tác với Pháp trong sự việc này là rất đáng để người Việt Nam suy nghĩ"; quả thật, trong bài viết dưới đây, nhà văn Phạm Viết Đào có một cái nhìn rất thâm thúy mà ta hay gặp ở ông.

Phải nói rằng, từ lâu, Chủ Blog tôi rất kính nể nhà văn Phạm Viết Đào ở kiến thức mà nhà văn đọc và nhớ đối với tác phẩm TAM QUỐC DIỄN NGHĨA, lần này nhà văn Phạm Viết Đào liên hệ trong trường hợp này khiến ta rất đau lòng!

Xin giới thiệu với bạn đọc bài viết của nhà văn Phạm Viết Đào, rất cảm ơn tác giả đã đưa đến cho bạn đọc một cái nhìn, và rất có thể sẽ là một bước ngoặt đối với chủ quyền của nước ta trên Biển Đông theo chiều hướng... rất bất lợi cho đất nước!
------------------------------------------------------------





Phía Tây QĐ Hoàng Sa, cũng có nghĩa là nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam - một mất mát lớn về mặt ngoại giao và lãnh hải nếu như có sự tham gia của Pháp trong dự án này...

EU VÀ MỸ DÙNG KẾ “ LÃ BỐ BẮN KÍCH Ở VIÊN MÔN “ ĐỂ ỨNG XỬ VỚI TRANH CHẤP VIỆT-TRUNG ?
Phúc Lộc Thọ.

VOA vừa đưa tin:” Báo chí trong nước trích lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga nói rằng Việt Nam coi các hoạt động của phía Trung Quốc là vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Bà Nga nói thêm rằng Việt Nam yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay và không để tái diễn các hoạt động tương tự”.

Tuyên bố này được đưa ra sau khi hãng thông tấn chính thức của Trung Quốc, Tân Hoa Xã đưa tin từ ngày 13/6 đến ngày 30/7/2011, Cục thăm dò địa chất Trung Quốc hợp tác với phía Pháp đã sử dụng tàu thăm dò Thám Bảo (Tan Bao Hao) tiến hành đo đạc, khảo sát khoa học từ vùng biển phía Tây quần đảo Hoàng Sa, mà phía Trung Quốc gọi là Tây Sa, đến phía Bắc quần đảo Trường Sa, phía Trung Quốc gọi là Nam Sa…”

Sự kiện này làm cho Phúc Lộc Thọ bất chợt nhớ câu chuyện “Lã Bố bắn kích ở Viên Môn” trong Tam Quốc diễn nghĩa…

Chuyện kể như sau: “Viên Thuật muốn đánh chiếm Tiểu Bái của Lưu Bị liền đem lương thực hối lộ cho Lã Bố, đang cai quản Từ Châu; Từ Châu vốn là đất cũ của Lưu Bị vì bị ép nên đã nhường cho Lã Bố. Thấy được Viên Thuật hối lộ và đưa thư kết giao cùng đánh Lưu Bị, ngoài mặt thì Lã Bố giả đò đồng ý nhưng trong bụng thì đã có phương án đối phó. Lã Bố cũng hiểu rằng: Lưu Bị binh mọn tướng ít, thành Tiểu Bái lại nhỏ nên khó lòng hại được Lã Bố; còn nếu Viên Thuật mà đánh được Tiểu Bái của Lưu Bị thì tha gì không nuốt Từ Châu của mình…

Khi được Lã Bố chịu nhận hối lộ, Viên Thuật cử Kỷ Linh cất quân đánh Lưu Bị; được tin Kỷ Linh đến đánh mình, Lưu Bị lo sợ viết thư cầu cứu Lã Bố; Bố cất quân đi để cứu Lưu Bị…Khi quân của 3 bên giáp mặt nhau, Lã Bố cho mời Lưu Bị và Kỷ Linh cùng đến dự yến tiệc…Khi Lưu Bị và Kỷ Linh đến chạm mặt nhau cả hai đều e sợ không biết ý tứ Lã Bố như thế nào…Lã Bố tuyên bố: Cho mời 2 bên đến để giảng hòa; Cả hai bên, bên Lưu Bị thì Trương Phi, bên kia là Kỷ Linh đều không chịu nghe Lã Bố giảng hòa…Thấy căng Lã Bố liền cho mang họa kích đến, lại sai người nhà đem cắm xa ngoài cửa nha môn cách 150 bước. Lã Bố tuyên bố: Tôi giảng hòa các ông không chịu nghe thì tùy vào lòng trời; nếu tôi bắn một mũi tên này trúng vào ngạnh kích thì lòng trời buộc 2 ông phải bãi binh; nếu không trúng thì các ông muốn làm gì thì làm…Nếu bên nào không chịu nghe ta, tức không theo ý trời thì ta sẽ hợp quân với phía bên kia đánh lại…

Nghe xong Kỷ Linh nhìn thấy ngọn kích ở rất xa nên tin Lã Bố không thể nào bắn trúng liền đồng ý ngay. Còn Lưu Bị thì chẳng cách nào khác…Kết quả Lã Bố bắn trúng và yêu cầu Kỷ Linh phải bãi binh, nếu không sẽ bị Lã Bố giúp Lưu Bị đánh lại…"

Câu chuyện này cũng giống với EU và Mỹ trong vụ can gián nhà cầm quyền Việt Nam đừng bỏ tù Cù Huy Hà Vũ; theo EU và Mỹ thì việc bỏ tù Cù Huy Hà Vũ là hành vi chính trị theo kiểu Tàu mà Mỹ và EU rất ghét…Nhà đương cục Việt Nam trong tuyên bố mới nhất vẫn yêu cầu EU và Mỹ không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; tức là không thèm nghe EU và Mỹ giảng hòa… Nếu đã vậy thì trước hết EU sẽ quay sang bắt tay với Trung Quốc cho Việt Nam trắng mắt ra; Việc “Cục thăm dò địa chất Trung Quốc hợp tác với phía Pháp đã sử dụng tàu thăm dò Thám Bảo (Tan Bao Hao) tiến hành đo đạc, khảo sát khoa học từ vùng biển phía Tây quần đảo Hoàng Sa…” là vùng mà Việt Nam vẫn thuộc chủ quyền mình; Mọi người đều hiểu sau Pháp là EU và Mỹ…Không chừng sắp tới Mỹ cũng sẽ vào hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí với Trung Quốc trong vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền của mình…Tới lúc đó có khi Việt Nam hết cửa, có bò cũng không có chỗ mà chui…

Có thể coi vụ án Cù Huy Hà Vũ là một nước “ cờ tàn” trong “ván cờ” tranh chấp căng thắng trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc…Mỹ sẽ không chịu để Trung Quốc dùng hải quân lộng hành trên Biển Đông, nhưng nếu hai bên ăn rơ với nhau, ngoặc tay nhau xô vào múc trộm dầu của Việt Nam thì hảo hảo ngay…Chả nhẽ lúc đó Việt Nam đem hải quân ra đánh nhau với cả Mỹ-Trung Quốc-Pháp hay sao ?

Giờ đây con dân Đại Việt phải chăng lại phải chuẩn bị ca bài ca “ Nhập Tống “ thôi; một bài ca cất lên khi vua tôi nhà Trần trước thế mạnh như chẻ tre của quân Nguyên đã phải bỏ kinh thành Thăng Long mà chạy…Bằng tuệ nhỡn của Đức Vua Trần Nhân Tông, ông đã lấy tay nhúng nước viết vào mạn thuyền 2 câu thơ:
Cối kê cửu sự quân tu ký
Hoan Diễn do tồn thập vạn binh…

Với 2 câu thờ trên đã khích lệ tinh thần quyết chiến của quân đội nhà Trần...Không biết Hoan Diễn ngày nay còn được như thời Trần Nhân Tông, thời Hoàng đế Quang Trung nữa không? Hoàng đế Quang Trung chỉ mang trong Huế ra có 6000 tinh binh, ra Nghệ An chiêu tập thêm 10 vạn tráng sĩ; Với đội quân này đã đánh tan 29 vạn quân Thanh trong mười ngày…

Dân Hoan Diễn ngày nay liệu có yên lòng, dốc lòng khi thấy một đứa con nghĩa khí của họ bị tù đày…Vụ án xử " Cù Huy hà Vũ " hình như cái thành công là đạt được sử thỏa mãn về " tiếu khí ' nhưng làm rối loạn thế cờ đại cục, rất dễ đẩy  tướng vào thế bị chiếu bí, hoặc bị rơi vào thảm cảnh " tứ bề thọ địch"...

Phải chăng khúc ca “ Nhập Tống “ lại sắp được cất lên rồi đây…

Nếu đúng thế thì EU và Mỹ đã quả đã dùng kế Lã Bố “bắn kích ở Viên Môn” thời Tam Quốc …
P.L.T.


------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

Phạm Viết Đào: Khâu đột phá sinh tử, chiến lược nhất, thì Chính phủ lại tiếp tục né tránh



Liệu các thầy bói mù có làm nên... Chính phủ?




Phạm Viết Đào.


Nghiên cứu kỹ bài viết quan trọng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa được TTXVN công bố hôm qua 31/7/2011: Ba khâu đột phá của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016, thấy đây là một vấn đề cần được rộng đường dư luận để tham góp với Chính phủ, giúp Chính phủ hoạch định chính sách đúng hướng, không làm lãng phí thêm nữa các nguồn tài lực của nhân dân…


Xin tạm tóm tắt 3 khâu đột phá đã được Thủ tướng đề ra:


“Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 xác định ba khâu đột phá, gồm: (i) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; (ii) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; và, (iii) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn…”


Theo người viết bài này, mọi ách tắc trong xã hội hiện nay, mọi tiêu cực, vấn nạn trong xã hội hiện nay xuất phát từ bộ máy công quyền nhà nước; cụ thể hơn đó là guồng máy hành chính của chính phủ…Khi còn sống, Cụ Hồ từng nói: cán bộ quyết định hết thảy…Cán bộ tốt, đủ phẩm chất, năng lực, công việc trôi chảy, hoàn thành; cán bộ hư hỏng dẫn tới làm láo báo cáo hay…


”Muốn có chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa…” câu nói có vẻ ngược, duy tâm: con người, ý thức có trước sự tồn tại của thiết chế xã hội… nếu như chỉ xem xét câu nói này bằng việc căn cứ vào cái vỏ bề ngoài của chữ nghĩa; nhưng nếu nghiên cứu sâu, thấu đáo thì đây là một đúc kết của phương đông: Cán bộ nào phong trào ấy, chính phủ nào chính sách ấy, rau nào sâu ấy; anh hãy chỉ bạn anh là ai, tôi sẽ cho biết anh là loại người nào (ngạn ngữ phương tây)… và đây cũng chính là một định đề quan trọng của Hồ Chí Minh …


Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, khi thông qua chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 – 2010, Chính phủ cũng đã đề ra ba khâu đột phá: “(i) Xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà trọng tâm là đổi mới cơ chế, chính sách nhằm giải phóng triệt để lực lượng sản xuất, mở rộng thị trường trong và ngoài nước; (ii) Tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; (iii) Đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, trọng tâm là cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh…”


Mặc dù, đã đưa vào 1 trong 3 mũi đột phá nhưng tình hình kinh tế xã hội tuy có những phát triển nhất định, thế nhưng cũng đã đề lại nhiều tai tiếng nhất, điển hình đó là vụ án Năm Cam, Vụ PMU 18, Vụ Huỳnh Ngọc Sĩ và mới nhất là vụ Vinashin với hàng loạt cán bộ cao cấp hàm thứ trưởng, Bộ trưởng đã bị kỷ luật, vào tù vì dính đến tiêu cực, tệ nạn xã hội…Có vẻ như khi Chính phủ càng hô “đột” không những không “phá” được mà nó càng trở nên dày hơn, to hơn, phát triển vụ sau to hơn vụ trước, nguy hiểm hơn trước…


Đề ra đột phá để củng cố bộ máy hành chính mà còn đến nông nỗi đó; còn Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hiện tại lại lờ cái việc xây dựng bộ máy công quyền trong sạch vững mạnh thì quả là nguy nan rồi…


Dư luận sững sỡ trước số tiền đánh bạc của Bùi Tiến Dũng, nếu không có vụ đánh bạc vô tình vỡ lở thì với bộ máy thanh tra, điều tra hiện có khó lòng đưa được Bùi Tiến Dũng ra vòng móng ngựa…Tưởng sau vụ này, sự quan lý kinh tế xã hội sẽ rút ra được bài học quản lý cán bộ, sẽ bớt sơ hở hơn, sẽ chặt chẽ hơn…Nào ngờ đến vụ Huỳnh Ngọc Sĩ, đến vụ Vinashin thì vụ Bùi Tiến Dũng chỉ còn là những “ con muỗi “ đứng cạnh những con voi…Và với cái đà này ai dám chắc sẽ không có những vụ đổ bể còn to gấp năm, gấp mười vụ Vinashin trong nay mai ???

Nếu xem xét các kỹ Đại hội Đảng, là sinh hoạt chính trị quan trọng nhất của Đảng cầm quyền thì vấn đề chủ yếu, cơ bản nhất vẫn là vấn đề nhân sự, sắp xếp các loại ghế, tức là sắp xếp con người…Tổ chức Đảng chỉ quan tâm mỗi vấn đề phân, chia người của Đảng ra nắm bộ máy nhà nước, nắm các chiếc ghế…Đây có vẻ là điều duy nhất mà Đảng quan tâm: vấn đề con người nắm các bộ máy công quyền; không phải là con người chung chung mà con người cụ thể sẽ được sắp đặt tiếp quản các loại ghế: Ai sẽ là Tổng Bí thư, ai sẽ là Chủ tịch nước, ai sẽ nắm ghế Thủ tướng, ai sẽ làm Chủ tịch Quốc hội, ai sẽ nắm chiếc ghế Bộ trưởng nọ, Ủy ban kia…


Đảng và Chính phủ chỉ quan tâm tới việc sắp đặt, phân chia các loại ghế nhưng lại chưa thiết kế được một thiết chế quản lý giám sát những người ngồi trên những chiếc ghế đó, đảm bảo để cho những người ngồi trên ghế ấy không làm bậy, không vơ vét không biến của nhà nước thành của mình; biến các nguồn tài lực đất nước trở thành cái “sân sau” phục vụ cho nhóm lợi ích của mình ? Câu nói chý lý của ông Nguyễn Văn An: Bộ Chính trị là một ông vua tập thể đã nói lên chính xác bản chất của cái cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ…


Thử hình dung, 4,5 tỷ USD (vụ Vinashin) là thành quả lao động, là mồ hôi nước mắt của hàng triệu con người bỏ ra; bằng 1/20 của tổng thu nhập quốc dân… Thế nhưng ai là kẻ làm cho số tiền này tiêu tan trong vòng vài năm trời? Hiện nay mới chỉ ra được chưa trên dưới chục vị…Chỉ cần vài chục kẻ như vụ Vinashin thì cả cái cơ nghiệp quốc gia này, mồ hôi xương máu của hàng triệu con người sẽ tiêu tan trong phút chốc… Tại sao cả cái dân tộc này, cả bộ máy công quyền đồ sộ như vậy họp lên họp xuống để sắp đặt mà lại để cho một vài chục kẻ có thể thụt két, phá hoại đến khi đổ bể ra mới biết, mới tá hỏa ra, mới ra quyết định điều tra này, điều tra nọ, mở phiên tòa này, phiên tòa nọ cho nó có chứ có hữu ích gì đâu? 


Những phần thủ du thủ du thực ngoài đường có trộm cướp thì thiệt hại cho xã hội không đáng là bao, sự thiệt hại do cán bộ công quyền gây ra, tiếp tay đó mới là điều khủng khiếp nhất. Vinashin là một điển hình. Vụ án kinh tế này đã hủy hoại lòng tin chế độ và bộ máy công quyền bởi do cán bộ trong các tập đoàn kinh tế nhà nước gây ra; nó thật sự đã gây mất lòng tin cái thiết chế: Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ…


Ông chủ biết gì về vụ Vinashin? Nhà nước quản lý gì trong vụ Vinashin ? Đảng lãnh đạo gì trong vụ Vinashin ? Nếu không bạch hóa được cái thiết chế này thông qua một vài trường hợp cụ thể thì đất nước tiếp tục hứng chịu, lãnh đủ nhưng vụ còn to gấp năm, gấp mười Vinashin ???


Nếu Chính phủ muốn làm tốt khâu quản trị kinh tế xã hội thì phải quản cho được bộ máy công quyền do mình bổ nhiệm, sắp đặt…Nếu quản không được thì khác gì một gia đình chồng làm ra của cải nhưng vợ con ở nhà lại máu mê cờ bạc, lại nghiện ngập…


 Chuyện làm ăn là chuyện của xã hội, chuyện xây dựng bộ máy công quyền mới là chuyện của chính phủ…Vậy hiện nay phải chăng do dân lười nhác không chịu lao động dẫn tới của cải bị nghèo đi, hay do của cải, các nguồn tài lực nằm trong tay Chính phủ nhưng đã bị các quan chức chính phủ phung phí, không được quản lý tốt để tái đầu tư, phân bổ hợp lý để nhân nguồn tài lực này lên đưa đất nước vào con đường phát triển bền vững, an sinh xã hội được đảm bảo ?


Để mở được đột phá trong khâu này thì phải minh bạch đời sống thông tin xã hội, minh bạch hóa thể chế và quyền lực quản trị của nhà nước. Dễ trăm lần không dân cũng chịu; Khó vạn lần dân liệu cũng xong…Trước những thử thách cam go, hiểm nghèo do chiến tranh, giặc ngoại xâm uy hiếp thì Đảng và Chính phủ sử dụng thiết chế này; còn giờ đây, trong lao động hòa bình và phân chia lợi ích, nhân dân đã bị đẩy ra ngoài rìa để cho bộ máy nhà nước, chính phủ trở thành những ông vua, bộ máy độc quyền nắm giữ hết thảy mọi thứ quyền lực, lợi ích dẫn tới muốn làm gì thì làm…Chỉ cần một vài chục ông trong bộ máy công quyền rắp tâm phá thì cả cơ đồ đất nước sẽ xuống sông xuống hồ…Vụ Vinashin là một ví dụ điển hình?!


Một định đề đã được đúc kết đối với bộ máy công quyền: Thượng bất chính thì hạ tắc loạn; nếu quả Thủ tướng Chính phủ muốn hoàn thành được trọng trách thì trước hết phải nghiêm, chính với bản thân mình trước; kế đến hãy “đột phá” tới các ông Phó, các ông Bộ trưởng trong nội các, các ông Tống các tập đoàn kinh tế độc.Còn nếu không…


Trong bài viết kỳ này không thấy Thủ tướng nhắc tới từ “quyết liệt“? Phải chăng ông cũng đã bắt đầu cảm thấy bất lực, nhàm chối trước bộ máy công quyền trong tay ông ? Hay bởi các Chính phủ tiền nhiệm đã "đột" mũi này nhưng không "phá" nổi nên ông có quyết… liệt thế chứ quyết… liệt hơn thế nữa nữa thì rồi nó vẫn thế nên đành phải "sống chung với lũ". Vì thế nên ông đánh bài lờ, buông, khoát nước theo mưa cho nhàn thân để sắm vai một kẻ “ sớm vác ô…(tô)  đi tối vác ô…(tô) về “ ?!

                                                        P.V.Đ.


------------------------------------------------

BA KHÂU ĐỘT PHÁ CỦA THỦ TƯỚNG



Huy Đức
  
Không thể nghi ngờ khả năng sắp đặt nhân sự để thâu tóm quyền lực của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng, nhìn hai trang báo đăng bài “nhậm chức” dày đặc chữ, mới thấy, ông làm Thủ tướng tới nhiệm kỳ thứ hai mà cũng không kiếm được người viết diễn văn biết cách phân biệt sự khác nhau trong ngôn ngữ của một chuyên viên cấp vụ với ngôn ngữ của một chính trị gia ở hàng nguyên thủ.
 Định xếp trang báo lại coi như nó chẳng liên can gì tới mình, nhưng anh bạn café cùng bàn thở dài, “sợ đến cuối nhiệm kỳ, tô phở tăng giá lên mấy trăm”! Nhớ cái Tết 2006, mấy tháng trước khi ông nhậm chức, tô phở 15.000 đồng đã bị báo chí la làng. Bây giờ tô phở cùng loại đã là 50.000 đồng. Khi ông lên, ký thịt gà loại thả vườn cũng chỉ mới 28.000 đồng, ký heo nạc mới 38.000 đồng… Như tôi đã từng phân tích, do những chính sách về tài chính, ngân hàng của ông mà khủng khoảng kinh tế của Việt Nam xảy ra từ tháng 3-2008 trong khi, khủng hoảng kinh tế toàn cầu nếu có ảnh hưởng cũng chỉ có thể lan tới Việt Nam sớm nhất là tháng 12-2008.
 Đầu năm 1998, sau cuộc phỏng vấn một nhà lãnh đạo, biết ông đang vui, tôi hỏi: “Anh vừa đi Yên Tử về có thấy những cục đá xung quanh chùa Đồng đầy những tên tuổi của Trần Văn Chắt, Nguyễn Thị Tèo…?”. Thấy ông chưa thực sự hiểu câu hỏi của mình, tôi tiếp: “Những kẻ, cho dù thuộc hàng chăn trâu cắt cỏ như Chắt, như Tèo, khi đã leo lên tới đỉnh thì cũng cố đánh dấu cái nơi mình đã đặt chân lên. Cái mà một bậc nguyên thủ quốc gia mưu cầu phải là lưu danh chứ không phải là tiền bạc”. Tất nhiên, để được lịch sử ghi nhận công lao thì khó hơn chia phần trăm và nhận bao thơ.
 Trong cái chính thể do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nguyễn Tấn Dũng là vị Thủ tướng có nhiều quyền lực nhất. Thời ông Phạm Văn Đồng, danh sách nội các thường chỉ được bên ông Lê Đức Thọ chuyển sang không lâu trước khi ông đọc trước Quốc hội. Ông Đồng là người trọng chữ nghĩa, nên ông thường yêu cầu bên ông Thọ cho ông thời gian để sửa những câu trong tờ trình bị viết sai chính tả, ngữ pháp. Ông Đồng thừa nhận ông Võ Văn Kiệt là vị Thủ tướng làm được nhiều việc nhất.
 Thời ông Kiệt, tuy không có “tam quyền phân lập” nhưng lại có “tam nhân phân quyền”. Ông Kiệt cũng chịu chế ước rất nhiều bởi những người đồng nhiệm như Lê Đức Anh, Đỗ Mười. Khi ông Kiệt đang đẩy nhanh tiến độ công trình đường điện 500 kv, tư lệnh công trình của ông, Bộ trưởng Năng lượng Vũ Ngọc Hải, bị xử tù 3 năm. Năm 1995, ông Kiệt viết thư yêu cầu cải cách chính trị, liền sau đó, ông Nguyễn Trung, trợ lý của ông, người chấp bút “thư gửi Bộ Chính trị” đã bị áp lực tới mức phải ra đi, còn ông Hà Sỹ Phu, người tàng trữ một bản sao bức thư, thì bị bắt.
 Trong tình hình ấy, Chính phủ ông Kiệt vẫn hoàn thành một khối lượng lớn công việc, xây dựng được những bộ luật làm nền tảng pháp lý cho nền kinh tế thị trường vận hành. Và, đặc biệt, dù bị cản trở rất nhiều, vẫn đưa Việt Nam gia nhập ASEAN, thiết lập quan hệ với EU và với những quốc gia một thời bị coi là kẻ thù như Đại Hàn, như Mỹ… Người kế vị ông, ông Phan Văn Khải nói: “Về bản lĩnh chính trị, tôi không thể nào so sánh với đồng chí Võ Văn Kiệt”.
 Khi ông Phan Văn Khải làm Thủ tướng, người ta sốt ruột bởi nhịp độ cải cách chậm đi so với người tiền nhiệm. Nhưng, như ông Kiệt nhận xét: “Thủ tướng Phan Văn Khải là một nhà kinh tế hàng đầu của đất nước”. Ông Khải không có những tuyên bố làm nức lòng dân bởi ông không phải là một nhà chính trị. Nhưng nhờ là một nhà kỹ trị, ngay từ khi làm phó cho ông Kiệt, ông Khải đã tham gia hình thành chính sách như một kiến trúc sư.
 Gần như toàn bộ các thiết chế pháp lý mà nền kinh tế đang vận hành đều được hình thành dưới thời ông Kiệt và được tiếp tục hoàn thiện hơn dưới thời ông Khải. Đặc biệt, chính phủ ông Khải đã có công rất lớn khi ban hành Luật Doanh nghiệp đồng thời bãi bỏ hàng trăm loại giấy phép mẹ, giấy phép con. Chính quyền của Thủ tướng Phan Văn Khải cũng hoàn thành những vòng đàm phán gay go nhất trong tiến trình Việt Nam gia nhập WTO, để lại cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng một nền kinh tế đang tăng trưởng trên 8%, lạm phát chỉ hơn 6% và một Việt Nam có vị thế khá cao trên trường quốc tế.
 Thật khó để gạch ra vài đầu dòng để nói về đóng góp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong nhiệm kỳ đầu nhất là về mặt chính sách. Nhưng, khác với những người tiền nhiệm của mình, Nguyễn Tấn Dũng đang có cả một nhiệm kỳ trước mắt. Đây có thể là cơ hội cuối cùng và cũng có thể là cơ hội bắt đầu để ông tiếp tục nắm quyền với vai trò Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước.
 Chính trị là “nghệ thuật của những điều có thể”. Có rất nhiều điều chúng ta muốn làm cho đất nước nhưng chúng ta không có quyền. Có rất nhiều điều có thể ông Dũng cũng muốn làm, nhưng thế và lực cũng không cho phép. Với năng lực của cá nhân Thủ tướng và đội ngũ cố vấn hiện thời, Chính phủ chưa nên ban hành chính sách gì mới. Việc đầu tiên, trong phạm vi quyền Hiến định của mình, Chính phủ nên sắp xếp lại các cơ quan chính phủ theo hướng tách bạch chức năng hành pháp chính trị và hành chính công vụ.
 Năm 2006, Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, trong một trạng thái tinh thần lãng mạn, đã lập ra một nhóm nghiên cứu giúp ông Nguyễn Thiện Nhân cải cách giáo dục. Khi đó, tôi đề nghị, ông Nhân thay vì đưa ra chính sách, trước hết phải sắp xếp lại bộ máy của Bộ Giáo dục theo hướng: lập các vụ, chỉ tham mưu chính sách cho bộ trưởng; lập các cục, chỉ thi hành hành chính công vụ. Không thể đòi hỏi các vụ của ông giảm bớt các thủ tục và thôi can thiệp vào công việc của các nhà trường khi chính họ là người hưởng lợi từ việc duy trì những thủ tục không cần thiết ấy. Nhưng, thay vì thao tác như một bộ trưởng ông Nhân đã làm phong trào “hai không” như một cán bộ đoàn.Khi đã tách bạch hai chức năng này thì chỉ rất ít bộ còn các cục vì chức năng hành chính công vụ sẽ được giao cho địa phương. Bộ trưởng chỉ làm vai trò chủ yếu là hành pháp chính trị. Mỗi bộ có thể sẽ có một ông thứ trưởng chuyên nghiệp, một nhà kỹ trị đúng nghĩa, trông coi phần hành chánh công vụ thuộc ngành mình và chỉ ra tay khi có một cấp nào đó hiểu sai chính sách và chỉ hướng dẫn lại để các địa phương hiểu đúng về thủ tục và chính sách.
 Tách bạch như vậy, chính phủ chỉ còn quan tâm tới việc hình thành những hành lang pháp lý sao cho người dân dễ thở, kinh tế phát triển: sáp nhập Thủ đô thì không nghĩ đến các dự án đất đai của đàn em; bãi bỏ thi cử thì không sợ mất khoản phần trăm từ việc in ấn đề thi… Những người chạy chức bộ trưởng sẽ không dám bỏ tiền triệu ra vì mai mốt không thể bán giấy phép mà thu hồi vốn. Và, Hà Nội đất chật sẽ không còn tấp nập xe cộ vào những khi lễ, tết vì chẳng ai còn có nhu cầu biếu quà.
 Việc thứ hai, nhân sửa đổi Hiến pháp, nên áp dụng chế độ đa sở hữu đối với đất đai. Đây là một vấn đề mà khi soạn thảo Hiến pháp 1992, Chính phủ Võ Văn Kiệt đã muốn làm nhưng điều kiện chính trị chưa chín muồi như bây giờ. Chế độ đất đai thuộc sở hữu toàn dân chỉ mới được đưa vào Hiến pháp 1980 trong một hoàn cảnh mà ngay chính những người soạn thảo cũng không hiểu hết hệ lụy của nó. Khi trình dự thảo hiến pháp 1980, Chủ tịch Ủy Ban sửa đổi Hiến pháp Trường Chinh đề nghị áp dụng 5 hình thức sở hữu đối với đất đai. Nhưng, khi họp Trung ương, Tổng Bí thư Lê Duẩn có một bài phát biểu riêng về việc lấy tư tưởng “làm chủ tập thể” làm trung tâm. Sau khi phân tích “đạo lý của việc áp dụng phương thức sở hữu toàn dân đối với đất đai”, ông Lê Duẩn cho rằng tinh thần của Hiến pháp 1980 phải dựa trên ba yếu tố: làm chủ tập thể, chuyên chính vô sản và sở hữu toàn dân. Cả chuyên chính vô sản và làm chủ tập thể đã gãy và cái kiềng ba chân ấy chỉ còn cái chân sở hữu toàn dân cà nhắc.
 Không chỉ lỗi thời về mặt lý luận, việc không tách bạch các hình thức sở hữu đất công, đất tư đã dẫn đến sự lúng túng trong việc ban hành các chính sách liên quan đến thuế và thu tiền sử dụng đất. Việc các chính quyền địa phương bị thao túng bởi các doanh nghiệp, tiếp tay cho họ cướp đất, đang là mầm mống của những vụ gây bất ổn về chính trị. Có lẽ chính quyền cũng nên biết xấu hổ khi người dân ở các vùng đất chống Mỹ như Bến Tre, Long An… giờ đây khi bị mất đất thay vì cậy đến chính quyền mà họ đã đổ máu để lập nên đã phải khăn gói đến cầu xin trợ giúp trước các cơ quan ngoại giao của Mỹ.
 Có một việc mà cả Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải đều chưa làm được là cải cách khu vực kinh tế nhà nước, tiến tới dẹp bỏ kinh tế quốc doanh. Nhu cầu để quốc doanh “chết” xuất hiện từ cuối năm 1989 khi Chính phủ Đỗ Mười chống lạm phát thành công bằng cách áp dụng lãi suất tín dụng theo nguyên tắc kinh tế thị trường và buộc các doanh nghiệp phải tự hạch toán kinh doanh. Chính sách này đã làm cho nền kinh tế mạnh lên nhưng đồng thời đã đặt các doanh nghiệp quốc doanh trước nguy cơ phá sản. Ông Mười bị Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh phê phán đã định quay lại chính sách bao cấp nhưng, trước sự can gián của những nhà cố vấn dũng cảm như Đào Xuân Sâm, Trần Đức Nguyên, Lê Đức Thúy, Nguyễn Văn Nam… ông đã chỉ lùi một bước: ném cái phao tín dụng để cứu quốc doanh. Kinh tế quốc doanh vì thế đã tiếp tục được bú bầu sữa từ độc quyền khai thác tài nguyên, độc quyền các thương quyền, đến được ưu đãi hơn về tín dụng.
 Việt Nam, xét về bản chất, không còn là một quốc gia cộng sản mà chỉ là quốc gia độc đảng. Trong thâm sâu, những người đồng nhiệm của ông Dũng không còn coi ý thức hệ là kim chỉ nam cho dù độc đảng vẫn là lẽ sinh tồn của họ. Nếu ông Dũng đòi xét lại định hướng xã hội chủ nghĩa, ông cũng sẽ bị tiêu diệt. Các đối thủ của ông sẽ chống ông không vì niềm tin mà vì đấy là công cụ tấn công mà không ai dám cãi. Nhưng, với tư cách Thủ tướng, ông Dũng có thể thuyết phục các đồng chí của mình: Giữ định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng thay vì lấy quốc doanh là chủ đạo thì phải chọn hiệu quả của nền kinh tế làm chủ đạo.
 Năm 2005, năm trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng cầm quyền, khu vực quốc doanh tuy nắm 54,9% tổng số vốn sản xuất kinh doanh, 51% giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn nhưng chỉ tạo ra 38,8% doanh thu; Trong khi khu vực tư nhân chỉ chiếm 25% vốn sản xuất kinh doanh, 20,6% giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chánh dài hạn nhưng đã tạo ra mức doanh thu chiếm 39,5%. Thế nhưng, năm 2006, thành phần kinh doanh kém hiệu quả này vẫn được ưu tiên, doanh nghiệp nhà nước vẫn nắm giữ 75% tài sản cố định quốc gia, 20% vốn đầu tư xã hội, gần 50% vốn đầu tư của nhà nước và 60% tín dụng ngân hàng trong nước và 70% vốn vay từ nước ngoài. Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu chấp nhận kinh tế nhiều thành phần, chưa bao giờ khu vực kinh tế quốc doanh được coi là một khu vực kinh doanh hiệu quả. Không thể có cái gọi là chủ nghĩa xã hội như đức tin của một số người nếu những anh nắm nhiều nhất tài nguyên và vốn liếng quốc gia lại làm ra tiền ít nhất.
 Tất nhiên, nếu ông Dũng muốn, việc thực hiện những điều tối thiểu này cũng không phải dễ dàng. Một nội các mà một số thành viên của nó đã phải chi phí rất nhiều để ngồi vào không thể sẵn sàng chia tay với quyền cấp từng tờ giấy phép. Nhưng, cũng như “Trần Văn Chắt, Nguyễn Thị Tèo”, đã lên tới đó thì đừng nghĩ tới mục tiêu kiếm chác. Thủ tướng cũng cần có sự ủng hộ của các thành viên trong gia đình. Đối với một dòng họ có một người ngồi trên ghế Thủ tướng tới hai nhiệm kỳ thì điều đáng tự hào là những gì người đó đã làm chứ không phải là lượng đất đai, cổ phiếu mà các thành viên trong gia đình nắm được.
 Viết đến đây thì nhận được tin tòa y án đối với Cù Huy Hà Vũ. Như vậy, không chỉ những người giúp việc viết diễn văn, các cố vấn chiến lược của Thủ tướng cũng vẫn mang những tư duy cũ. Tiểu khí vẫn bị đánh thức. Thay vì, sau những nỗ lực sinh tử để thâu tóm quyền hành, bậc anh hùng phải bắt đầu nhiệm kỳ bằng cách mở lòng đại xá. Hy vọng, sau khi Quốc hội phê chuẩn nội các, Thủ tướng sẽ có những người giúp việc hiểu được vai trò lịch sử của ông hơn.

H.Đ.
( Nguồn: Blog Quê choa của Bọ Lập )

------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này