++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Thềm Biển Đông - cái nôi của người Việt


Nguồn: Ba Sàm

http://anhbasam.wordpress.com/2011/09/04/them-bien-dong-noi-cua-nguoi-viet/

Posted by basamnews on 04.09.2011

THỀM BIỂN ĐÔNG – CHIẾC NÔI CỦA NGƯỜI VIỆT

Hà Văn Thùy

Cho đến nay, có lẽ ít người để ý rằng, tiến trình hình thành dân cư Việt Nam có khoảng trống lớn. Từ giữa thế kỷ XX, khảo cổ học xác nhận, 32.000 năm trước, người khôn ngoan (Homo sapiens) có mặt đầu tiên trên đất nước ta tại di chỉ Sơn Vi.

Nhưng những nghiên cứu di truyền học gần đây cho thấy, người tiền sử đã từ châu Phi theo bờ biển Ấn Độ tới Việt Nam khoảng 70.000 năm trước.

Khám phá của các nhà di truyền học là đáng tin vì khảo cổ học cũng đã phát hiện bộ xương người Mongoloid tại Lưu Giang, Quảng Tây 68.000 năm tuổi, một sọ người Australoid 60.000 năm trước tại sa mạc Mungo nước Úc. Như vậy, di truyền học đã đẩy thời gian người tiền sử xuất hiện trên đất nước ta xa thêm 40.000 năm. 40.000 năm ấy là khoảng trống vô tận của khảo cổ học, chắc chắn đã vô tăm tích nếu không được ghi dấu trong bộ gen của chúng ta!

Vấn đề đặt ra là, trong thời gian thăm thẳm ấy, tổ tiên chúng ta sống ở đâu và hoạt động như thế nào?

Theo nhiều nghiên cứu thì vào thời Băng Hà, mực nước biển thấp hơn hiện nay 130 mét, Thái Bình Dương bị thu hẹp thành những biển nhỏ. Giữa chúng nổi lên lục địa Sundaland nối từ Đài Loan xuống Indonesia và Hainanland ở phía nam đảo Hải Nam, là thềm lục địa Biển Đông của Việt Nam. Về cấu tạo địa chất, thềm Biển Đông là nối dài của kiến tạo địa chất Trường Sơn vươn ra biển.

Chưa có nghiên cứu nào về khí hậu Đông Nam Á thời Băng Hà, nhưng dựa trên khí hậu chung của trái đất thời đó, có phần chắc rằng, Đông Nam Á không nóng và ẩm như bây giờ mà có lẽ khô và mát. Trong điều kiện lúc đó thì khí hậu như vậy là thuận lợi nhất cho động, thực vật và con người sinh sống.

Từ châu Phi, vượt qua cửa Hồng Hải, đoàn người di cư tới đất Yemen. Một bộ phận dừng lại ở đây vì bị bức thành băng phía bắc chặn đứng. Một bộ phận đi về hướng mặt trời mọc. Từ bờ Ấn Độ dương, họ băng qua eo biển rộng 120 hải lý, tới đảo Mã Lai, sau đó tới quần đảo Indonesia. Một số đi tiếp tới các đảo khác ở Thái Bình dương và châu Úc. Một bộ phận từ mạn tây Borneo đi lên phía bắc, tiến vào đồng bằng Hainanland và Sundaland (1). Gặp môi trường thuận lợi, họ hòa huyết, sinh sôi cho bốn chủng người mà sau này khoa học đặt tên là Indonesian, Melanesin, Vedoid và Negritoid, cùng thuộc loại hình Australoid. Trong đó, chủng Indonesian chiếm đa số (2).

Cách nay khoảng 50.000 năm, người từ Hainanland và Sundaland đã đông đúc. Một bộ phận di cư về phía đông nam, tới các hải đảo Thái Bình Dương và châu Úc. Một bộ phận băng qua đất liền Việt Nam, Myanmar vào chiếm lĩnh Ấn Độ. Có thể một nhóm người khi tiến về phía tây, đã dừng lại tại khu vực Phú Thọ, trở thành chủ nhân văn hóa Sơn Vi 32.000 năm trước và để lại di cốt sớm nhất của người tiền sử trên đất liền Việt Nam. Không hiểu vì sao, chúng ta không phát hiện được đi cốt người tiền sử ở Việt Nam sớm hơn niên đại cách nay 32.000 năm, mặc dù di truyền học cho thấy 50.000 năm trước, người xưa đã băng qua Việt Nam tới Ấn Độ.

Khoảng 40.000 năm trước, khi khí hậu phía bắc được cải thiện, người từ Hainanland và Sundaland đi lên khai phá đất Trung Quốc.

Khoảng 20.000 năm trước, tại Hainanland, người cổ thuần hóa được cây kê và cây lúa khô (lúa nương, lúa lốc). Nhờ tự túc được một phần lương thực, đời sống được cải thiện, nhân số tăng nhanh, phân công lao động xuất hiện. Tại đây con người nảy sáng kiến mài đá cuội thành búa, rìu, giúp vỡ đất đề cấy trồng.

Từ 18.000 năm trước, khí hậu trở nên ấm nóng, băng hà bắt đầu tan, mưa nhiều hơn, nước biển dâng lên mỗi năm một centimet. Một số nương trồng kê ngập nước, diện tích kê bị thu hẹp. Tuy nhiên, cũng lúc này, một số chủng lúa khô lại phát triển tốt hơn trong môi trường nước. Con người chuyển sang chăm sóc những ruộng lúa nước. Nông nghiệp lúa nước ra đời cùng với thuần dưỡng gà và chó.

Khoảng 15.000 năm trước, nước biển dâng cao, ngang với mức hiện nay. Đồng bằng Hainanland, Sundaland bị chìm trong nước. Do nước lên từ từ nên người cổ đã di chuyển lên vùng đất cao xung quanh: các đảo của Mã Lai, Indonesia, miền nam sông Dương Tử, đất Việt Nam… Khoảng 18.000 năm trước, tổ tiên ta định cư ở Hòa Bình và sáng tạo nền văn hóa Hòa Bình nổi tiếng (3).

Một điều khiến giới khảo cổ đau đầu là trong khi nhiều đoán định cho rằng, khoảng 15.000 năm trước, lúa nước đã được trồng ở nơi nào đó tại Đông Nam Á nhưng trên thực tế, những di chỉ khảo cổ có dấu vết lúa nước trong vùng tuổi lại khá muộn!

Nay có thể giải thích là, cái nôi của lúa nước là tại đồng bằng Hainanland. Cả bào tử phấn hoa từ cây lúa trồng đầu tiên cũng như di cốt chủ nhân của chúng đã bị chìm trong lòng nước.

Ngày nay, nhiều khảo sát ADN cho thấy, trong dân cư Đông Á, người Việt Nam có chỉ số đa dạng di truyền cao nhất, có nghĩa là người Việt Nam là dân cư cổ nhất ở khu vực. Điều này có thể được giải thích, đồng bằng Hainanland, hay thềm Biển Đông chính là cái nôi của dân cư Đông Á mà phần lõi của khối dân cư ấy, khi nước dâng đã di cư lên đất Việt Nam. Do khoảng di chuyển quá ngắn, kiểu như từ chân lên lưng chừng đồi nên các nghiên cứu ADN kết luận: “Người tiền sử từ châu Phi theo đường Nam Á đến Việt Nam 60.000-70.000 năm trước.” Đến Việt Nam nhưng không phải là đất liền Việt Nam hiện tại mà là thềm biển Đông của Việt Nam.

Kết luận được rút ra ở đây là: thềm Biển Đông là cái nôi của người Việt. Tại đây, tổ tiên chúng ta đã gặp gỡ, yêu đương, lao động và sáng tạo ra nền văn minh nông nghiệp đầu tiên của nhân loại. Cũng từ đây, nhiều thế hệ người Việt lên đường mở đất, gieo văn minh trên khắp châu Á, châu Âu và cả châu Mỹ.

Hy vọng rằng, sau này, nhờ tiến bộ khoa học, cùng với khai thác tài nguyên thềm lục địa, chúng ta sẽ xây dựng khoa khảo cổ hải dương học, tìm lại vết tích của tổ tiên xưa.

Bảo vệ Biển Đông cùng Hoàng Sa, Trường Sa không chỉ giữ gìn lãnh hãi mà còn bảo vệ cái nôi thiêng liêng, nơi tổ tiên chúng ta lần đầu đặt chân lên đất châu Á, 70.000 năm trước.

Sài Gòn, tháng Bảy 2011

Tham khảo:

  1. Stephen Oppenheimer. Địa đàng ở phương Đông. NXB Lao Động, H, 2004
  2. Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB ĐH&THCN. H, 1983
  3. Hà Văn Thùy. Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

Giấc mộng báo điềm gì?

nguyenvanthanh | 15 August, 2010 12:44

KTS Trần Thanh Vân

imageĐêm hè, lúc chập tối tôi còn cảm thấy nóng ngột ngạt, nằm ngủ phải bật quạt. Nhưng đến gần sáng, tôi bỗng thấy lạnh khi có một cơn gió từ Hồ Tây thổi vào, Trời trở gió, mưa bắt đầu rơi. Nhỏm dậy đi tắt quạt và tôi không sao ngủ được nữa. Giấc mộng hãi hùng vừa chợt đến thì tôi đã tỉnh dậy. Một bức tường thành cao ngất vừa đổ sập xuống dòng nước chảy xiết. Không phải tường thành, một cái cống rất to, không phải cống, một đập nước hùng vĩ vừa đổ sập, tôi nhìn thấy con ngựa gỗ màu đen bị gãy làm đôi, trôi đi... tôi nghe lao xao hai tiếng Lan Châu...

Lan Châu là đâu nhỉ?

Tôi ngẩng lên, nhìn thấy con tôi nhìn tôi cười: "Mẹ không nhớ sao? Con và mẹ đã cùng đến Lan Châu trong chuyến đi thăm Trung Quốc rồi, thăm một nửa tỉnh Cam Túc, ngược thượng nguồn sông Hoàng Hà, rồi đi thăm Tây An, rồi đến thăm thành phố Trùng Khánh, đi xem người ta xây đập Tam Hiệp, rồi xuôi dòng Trường Giang trở lại thành phố Nam Kinh.

Ở Nam Kinh chúng ta đã đi cáp treo lên thăm Phật Di Đà... hôm nay cái vẫn còn cái đã mất. Ông Phật vẫn ở trên núi cao, nhưng ông không cười nữa, tất cả đang bị uy hiếp, tất cả đã sạt lở, động đất. Chúng sinh đang rên xiết, đang bị chôn vùi và Trời Đất đang thịnh nộ."

Nhưng tại sao lại Lan Châu? Tại sao có con ngựa gỗ bị gãy làm đôi?

Tôi đã tỉnh hẳn, nhấn nút mở máy tính, mở Email xem xem có thư từ gì không?

Không có, trời chưa sáng, ai gửi thư giờ này?

Sao lại có con ngựa gỗ bị gãy làm đôi nhỉ?

Thôi chết rồi, tôi nhớ ra rồi, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào. Cách đây vài ngày tôi có đọc một bài nói về tham vọng quyền lực của ông ta và sự can thiệp trắng trợn của ông ta đối với Việt Nam. Hồ Cẩm Đào chính là con ngựa gỗ, một cây dương liễu mộc, nhưng lại ứng với mệnh Thiên tử. Thiên tử gỗ nhưng lại được phong là con hắc mã đạp trên lưng chim én như sách vở vẫn xưng tụng.

Nói đến đây chắc có bạn đọc sẽ chất vấn tôi, rằng câu chuyện như thế nào mà sao tôi liên tưởng ly kỳ làm vậy? Vâng tôi biết khá rõ, vì ông Hồ Cẩm Đào cùng lứa với tôi, lại sinh trưởng ở vùng tôi rất quen thuộc. Khi tôi học ở Đại học Đồng Tế Thượng Hải thì ông ta cũng học ở một trường đại học nào đó (có thể là ĐH Thanh Hoa?). Ông sinh năm 1942, tuổi Nhâm Ngọ, con một gia đình buôn bán chè ở thị trấn nhỏ Giang Yên thuộc tỉnh Giang Tô. Một tỉnh ở Miền Đông Trung Quốc có các thành phố cổ nổi tiếng như Tô Châu của nàng Tây Thi và Vô Tích của nàng Kiều, ngay gần kề thành phố Thượng Hải hiện đại. Tuy vậy, người ta còn biết quê gốc của ông Hồ này là tỉnh An Huy, kế cận thành phố Hàng Châu, quê hương xứ trồng chè Long Tỉnh nổi tiếng. Tỉnh An Huy là nơi có vùng nghỉ dưỡng suối nước nóng Hoàng Sơn, đã từng đón nhiều vua chúa và danh nhân đến nghỉ dưỡng (tôi từng đến Hoàng Sơn nghỉ 2 tuần vào mùa hè năm 1965). Có điều không sách báo nào nói đến, nhưng tôi thì biết rất rõ, rằng ông Hồ Cẩm Đào từng là Hồng vệ binh thứ thiệt. Mà đã là Hồng vệ binh thì khó tránh khỏi chiến tích đã từng xuống đường hò hét, đập phá, ca ngợi bè lũ bốn tên, lãnh tụ của Đại Cách mạng Văn hóa do bà văn công Giang Thanh, vợ Mao Trạch Đông cầm đầu và đã từng đấu tố thầy cô giáo đã dạy dỗ mình. Có lẽ do có giai đoạn bỏ học đi theo Cách mạng Văn hóa làm bậy khoảng 4, 5 năm, cho nên vào đại học từ năm 1959 mà mãi đến năm 1969 ông Hồ mới tốt nghiệp Khoa Thủy lợi ở Đại học Thanh Hoa thành phố Bắc Kinh (mặc dù ông này là người Giang Nam), rồi được cử đến tỉnh Cam Túc phụ trách phong trào thanh niên và ông trở thành người hùng ở Miền Tây và Tây Bắc nước Trung Hoa. Sự kiện người ta đào được trong ngôi mổ cổ thời Đông Hán vào năm 202 ở tỉnh Cam Túc một bức tượng đồng "Hắc mã đạp phi yến" ứng với việc ông Hồ Cẩm Đào xuất hiện và người ta gọi hiện tượng đó là "quý vật đón quý nhân". Sau khi ở Cam Túc, ông Hồ được cử đi cai trị Tây Tạng làm Bí thư khu tự trị này và cũng thành công trong chiến dịch trấn áp dân Tây Tạng năm 1988. Đúng là quý vật đã đón quý nhân, vận may đến với ông cựu Hồng vệ binh này là do lúc đó Đặng Tiêu Bình đã lại trở lại nắm quyền và gây ra sự kiện đẫm máu Thiên An Môn. Con người này không chỉ được Đặng Tiểu Bình phát hiện, bồi dưỡng, mà sau này, thời kỳ Hồ Diệu Bang và Giang Trạch Dân nắm quyền, ông ta đã rất được sủng ái và trở thành nhân vật nhất nhì Trung Quốc rồi.

clip_image002

Hồ Cẩm Đào

Tôi được biết, riêng sự kiện Đập Tam Hiệp ngăn sông Dương Tử ở tỉnh Tứ Xuyên và tỉnh Hồ Bắc được bàn đến từ năm 1919 thời Tôn Dật Tiên và cuộc tranh luận bàn cãi dai dẳng kéo dài trên 80 năm, cho đến năm 1994 mới thực sự bắt đầu xây dựng. Công trình đại quy mô bậc nhất thế giới này đã tiêu tốn trên 70 tỷ USD và đã hoàn thành vào năm 2006 cũng có công đóng góp của Kỹ sư thủy lợi Hồ Cẩm Đào. Đập thủy điện lớn nhất thế giới này đã phá hoại một hệ sinh thái lớn, vùi lấp bao nhiêu ruộng đồng màu mỡ, là mối đe dọa lũ lụt, trầm tích cho cả lưu vực sông Trường Giang và làm cạn kiệt hơn 2000 Km hạ lưu sông Mê Kông như chúng ta đã biết. Ngày hôm nay thì ông Hồ Cẩm Đào đang thực sự là ngôi sao chói lọi nhất nước Trung Hoa và mang tai họa đến cho nhiều dân tộc. Có điều những nơi ông Hồ Cẩm Đào dấy nghiệp đều đang có tai biến, kể cả nhân tai lẫn thiên tai.

Bỗng nhiên tôi nhớ đến hình ảnh con tuấn mã đạp trên lưng chim én, hay nói ngược lại, chim én đang nâng cho tuấn mã bay cao hơn. Tại sao ông ta lại sinh năm 1942, tuổi Nhâm Ngọ, mệnh Dương Liễu Mộc nhỉ ? Nhưng con "Hắc mã đạp phi yến" là bằng đồng cơ mà? Có gì mâu thuẫn không? Thôi đúng rồi, bức tượng gỗ kia đã có lúc được sơn quét nhũ đồng bên ngoài, trông hùng dũng như hình ảnh con tuấn mã. Nhưng lớp nhũ đang rơi xuống và công trình thủy lợi đổ sụp, con ngựa gỗ gãy làm đôi, trôi hút đi, cùng núi rác thải đang uy hiếp dòng chảy đập Tam Hiệp.

Thôi, điềm gở đến rồi. Năm nay là năm Canh Dần, năm nay là năm Tùng Bách Mộc, Mộc - Mộc diệt, cây Tùng Bách bắt đầu phá cây Dương Liễu yếu ớt rồi đây, nhưng chưa tai hại lắm. Phải bốn năm nữa, đến năm 2014, con Tuấn Mã thật, con Ngựa Vàng Sa trung Kim sẽ từ trên trời bay xuống nghiền nát Hồ Cẩm Đào và sự nghiệp vĩ đại của ông ta.

Nếu được khuyên thì tôi xin khuyên ông Hồ Cẩm Đào hãy xem lại bộ phim truyền hình "Nghiệp chướng" nói về những người bạn từng là Hồng vệ binh cùng thời với ông ở thành phố Thượng Hải và nghĩ đến nghiệp chướng của đời mình. Hãy dừng tay lại, ông sẽ giữ được một chút phước lộc cho con cháu.

Bằng không chưa biết điều gì sẽ xẩy ra.

Ai coi đây là chuyện mê tín dị đoan thì xin đừng đọc.

TTV

HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập


------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Tống văn Công: Nghĩ về Libya

30/08/2011

Nghĩ về Libya

Tống văn Công

imageSáng nay, 29-8-2011, một tờ báo lớn có bài Ba điểm yếu của cuộc chiến Libya: 1- Bộc lộ yếu kém của NATO; 2- Lãnh đạo mới có thể không tốt hơn cũ; 3- Quá phụ thuộc vào NATO. Hôm kia, 27-8-2011, một nhà bình luận tên tuổi của báo chí Việt Nam đặt ra 2 “câu hỏi lớn”: Một là vai trò NATO, ngoài chuyện không kích và phong tỏa không phận, còn có gì nữa chưa được biết? Hai là, tại sao ông Gaddafi để mất Tripoli quá dễ dàng, nhanh chóng đến thế?

Thật kinh ngạc vì sự tổng kết cuộc chiến và câu hỏi lớn nhất của các nhà báo nước ta!

Các nền báo chí tự do của thế giới từng ngày có những quan điểm trái nhau. Ngay các nước tích cực trợ giúp quân sự cho quân nổi dậy, nhà báo của họ từng ngày có ý kiến phản biện với chính phủ. Trong khi đó, báo chí chúng ta quen chọn ý kiến của một phía thích hợp với khẩu vị mình, tự đánh lừa, cuối cùng bị bối rối khi sự thật diễn ra nhanh chóng và hoàn toàn trái ngược! Bạn đọc cũng bị “định hướng” của nhà báo đánh lừa!

Ngày 21-8, khi nghe tin quân nổi dậy Libya tràn vào thủ đô Tripoli, mấy bác cạnh nhà tôi đều ngạc nhiên không tin! Bởi mới cách đây đúng một tuần nhiều tờ báo của Việt Nam miêu tả “quân nổi dậy đang rối như canh hẹ” mà! Đêm nào trên Truyền hình cũng thấy nhân dân tung hô ông Gaddafi. Nhiều nhà bình luận Việt Nam gọi đây là “cuộc chiến tranh dầu lửa” hàm ý cho rằng nó xảy ra là do sự kích động của các đầu óc thực dân phương Tây. Một nhà bình luận tên tuổi cho rằng nhiều quan chức cao cấp của chính quyền Gaddafi chạy sang quân nổi dậy là do truyền thông Phương Tây chiếm ưu thế. Ngày 24-8-2011, khi đã có hơn 40 chính phủ công nhận Hội đồng quốc gia chuyển tiếp Libya là đại diện hợp pháp duy nhất của nước Cộng hòa Libya, ngay Trung Quốc cũng tỏ ý mong muốn được hợp tác với chính quyền mới thì VN Express còn gọi họ là “phiến quân”! Đến ngày 25-8, nhiều tờ báo vẫn còn nghi vấn “Phe đối lập đáng tin đến đâu”; “Đây là thời điểm các phe phái trong quân nổi dậy bộc lộ mâu thuẫn nhau”; và “hơn 5000 người có vũ trang trung thành với Gaddafi đã kéo vào Tripoli”. Như vậy là theo các nhà bình luận Việt Nam thì nội chiến sẽ còn kéo dài ở Libya không biết tới bao giờ! Buổi truyền hình tối 28-8, một nhà bình luận tỏ ý bất bình về sự can thiệp thô bạo từ bên ngoài đối với nước Libya có chủ quyền và lo lắng cho số phận nhà nước Syria đang khủng hoảng.

Thiết nghĩ, nhìn lại diễn biến 6 tháng qua ở Libya cũng là điều bổ ích.

Từ một anh hùng trở thành tên độc tài tham nhũng!

Năm 1969, Gaddafi làm đảo chính lật đổ chế độ quân chủ lập nên chế độ Nhân dân xã hội chủ nghĩa Ả rập, với những khẩu hiệu “Phúc lợi xã hội”, “Dân chủ nhân dân trực tiếp”, đưa đất nước nghèo nàn trở thành giàu có, thu nhập đầu người hơn 10 lần nước ta hiện nay. Tuy nhiên, ông ta cũng nhanh chóng trở thành tên độc tài và ở ngôi vị 42 năm, lâu hơn các ông vua trước đó.

Ngày 31-8-2006, ông tuyên bố: “Phải tiêu diệt những kẻ đòi thay đổi chính trị”. Ngày 29-8-2009, ông tự phong: “Ta là một lãnh tụ quốc tế, thầy của các ông chủ Ả rập, vua của mọi nhà vua châu Phi, trưởng lão của người Hồi giáo và có tư cách cao quý không cho phép hạ thấp hơn”.

Tháng 9-2009, ở Hội nghị thượng đỉnh Nam Mỹ ông cùng Hugo Chavez kêu gọi thành lập “NATO phương Nam”. Cũng năm đó, tại Hội nghị thượng đỉnh Liên đoàn Ả rập ông tuyên bố mình là “Nhà lãnh đạo của các nhà lãnh đạo Ả rập”.

Ông bổ nhiệm con cái vào các vị trí cao cấp trong hệ thống cầm quyền. Ông tổ chức ám sát hơn 30 người đối lập sống ở nước ngoài. Libya hai lần tổ chức đánh bom máy bay hành khách của Mỹ và Pháp giết chết hằng trăm người. Gaddafi sở hữu gia sản khổng lồ gần trăm tỷ USD, riêng bà vợ thứ hai của ông sở hữu 30 tỷ USD và 20 tấn vàng.

Sự chuyển động ở Libya bắt đầu từ ngày 15-2-2011, khi 200 người dân ở thành phố Benghazi biểu tình yêu cầu trả tự do cho nhà hoạt động nhân quyền Fathi Terbi, bị đàn áp. Hôm sau, số người biểu tình tăng lên 500, rồi 600 người. Cảnh sát nặng tay hơn, đánh bị thương 40 người. Hằng ngàn nhân dân Thủ đô Tripoli và thành phố Al-Baida xuống đường yểm trợ cuộc biểu tình của thành phố Benghazi.

Ngày 20-2 cảnh sát và quân đội Gaddafi bắn chết 200 người. Các thành phố Misurata, Tobruk… tham gia biểu tình.

Ngày 21-2 chính phủ Gaddafi cho không quân bắn vào người biểu tình.

Ngày hôm sau, 22-2, ông Mustafa Abdel Jalil, Bộ trưởng Tư pháp và tiếp theo là ông Abdel Fatah Younes Bộ trưởng Nội vụ tuyên bố ly khai chính quyền Gaddafi, đứng về phía nhân dân. Các chính phủ Mỹ và châu Âu lên tiếng phê phán việc đàn áp biểu tình.

Ngày 24-2, Gaddafi lên đài truyền hình cho rằng các thế lực thù địch ở phương Tây đang xúi giục bọn xấu trong nước gây rối.

Hôm sau, Gaddafi cho lính đánh thuê tràn vào Tripoli thẳng tay đàn áp và tiếp tục cho không quân bắn vào nhân dân biểu tình ở các thành phố.

Ngày 26-2 máy bay bắn vào đám tang của người biểu tình bị bắn chết, giết nhiều người đưa tang.

Ngay hôm sau, 27-2 Hội đồng Quốc gia chuyển tiếp (NTC) tuyên bố thành lập do nguyên Bộ trưởng Tư pháp Mustafa Abdel Jalil làm Chủ tịch. Ngày 28-2 Gaddafi lên truyền hình tuyên bố: “Không có quân nổi dậy nào cả, chỉ có những kẻ xấu bị các thế lực thù địch nước ngoài xui giục. Tất cả người dân Libya của tôi đều yêu tôi” (Đài truyền hình VTV1 có phát cảnh này).

Ngày 5-3 Hội đồng Quốc gia chuyển tiếp tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Libya với tiêu chí Tự do, Công bằng, Dân chủ.

Ngày 10-3 Pháp là quốc gia đầu tiên công nhận Hội đồng chuyển tiếp là đại diện hợp pháp của nhân dân Libya.

Chính quyền Gaddafi tăng cường cho không quân tiếp tục đàn áp dữ dội các vùng nhân dân nổi dậy.

Ngày 17-3 Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ra nghị quyết 1973, cho phép lập vùng cấm bay ở Libya để bảo vệ dân thường. Từ 31-3 NATO nhận nhiệm vụ này. Nhiều nhà bình luận tiến bộ đã nhận định rằng “Số phận của Gaddafi đã được định đoạt rồi”! Rất tiếc các nhà bình luận của báo chí Việt Nam không ai nhận ra điều đó!

Nhờ có sự yểm trợ của không quân NATO, quân nổi dậy liên tiếp giành chiến thắng, chỉ trong bốn tháng rưỡi, ngày 21-8 đã tiến vào Tripoli được đông đảo nhân dân nổi dậy trợ giúp.

Ngày 26-8 Hội đồng quốc gia chuyển tiếp (NTC) đã về thủ đô Tripoli im tiếng súng. Ông Gamaty điều phối viên của Hội đồng Quốc gia chuyển tiếp tuyên bố: “Sớm hay muộn gì Gaddafi cũng bị bắt”.

Một cuộc cách mạng dân chủ hay chỉ là sản phẩm của phương Tây?

Từ 2003, Gaddafi đã lần lượt cải thiện quan hệ tốt lên với các nước lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Ý… Gaddafi thừa nhận các vụ đánh bom máy bay hành khách và chịu bồi thường những khoản tiền lớn.

Năm 2004, Thủ tướng Anh Tony Blair, Thủ tướng Đức Gerhard Schoder đến thăm Libya, ký kết nhiều hợp đồng khai thác, chế biến dầu mỏ.

Năm 2006 Gaddafi tuyên bố từ bỏ chương trình vũ khí giết người hằng loạt, bà Rice Ngoại trưởng Mỹ sang thăm được Gaddafi nồng nhiệt tiếp đón. Chính phủ Mỹ nhanh chóng đưa Libya ra khỏi danh sách những nước hỗ trợ khủng bố và tuyên bố “Libya và Mỹ là bạn”, nâng quan hệ hai bên lên cấp đại sứ.

Năm 2007, Tổng thống Pháp Sarcozy thăm Libya và ký nhiều hiệp ước hợp tác.

Đặc biệt Gaddafi và Thủ tướng Ý quan hệ với nhau rất thân thiết. Như vậy các chính phủ phương Tây không còn có vấn đề gì bức xúc để có kế hoạch chống lại Gaddafi.

Vấn đề Libya chính là mâu thuẫn tích tụ suốt 42 năm giữa nhân dân với nhà cầm quyền độc tài trấn áp dân chủ, nhen nhóm một lò lửa phản kháng. Làn gió “mùa Xuân nhân dân” từ Tunisia, Ai Cập thổi tới đã làm bùng lên lò lửa âm ỉ ấy.

Ở Tunisia và Ai Cập quân đội không nhả đạn vào nhân dân. Nhưng ở Libya thì khác, Gaddafi xuất thân là một quân nhân, ông ta có nhiều thủ đoạn nắm chắc tướng lĩnh và có chính sách mua chuộc quân đội. Do đó, khi nhân dân nổi dậy, Gaddafi lập tức sử dụng quân đội thẳng tay đàn áp vô cùng man rợ.

Hồi nhân dân Tunisia nổi dậy, phương Tây bị bất ngờ đã hờ hững, ủng hộ rất yếu ớt. Lúc ấy, Thủ tướng Anh đang thăm Ai Cập rao bán vũ khí. Ngoại trưởng Pháp đang thăm Tunisia bàn việc chia sẻ kinh nghiệm của cảnh sát Pháp cho cảnh sát Tunisia. Phương Tây chưa vượt khỏi nổi lo sợ từ kinh nghiệm Iran, sau khi vua Shah sụp đổ, chính quyền lọt vào tay Cách mạng Hồi giáo đã thù địch với họ. Họ phải dè chừng tìm hiểu mãi mới quyết định ủng hộ nhân dân nổi dậy.

Lần này với Libya, phương Tây đã được Mùa Xuân nhân dân Ả rập thức tỉnh, nên tất cả hăm hở lên tiếng ủng hộ và nhanh chóng tìm cách giúp đỡ, đặc biệt là việc giúp đỡ quân sự đã gây tranh cãi gay gắt.

Có hai quan điểm đối chọi nhau chan chát trong cách nhìn, cách giúp đỡ Libya:

Một là, quan điểm cho rằng Phương Tây can thiệp thô bạo vào độc lập, chủ quyền của Libya, một nước có chính phủ hợp pháp được nhiều quốc gia công nhận. Đứng đầu lập luận này là những quốc gia độc tài không cần che giấu, kế tiếp họ là những quốc gia độc tài mang mặt nạ dân chủ. Theo quan điểm này thì ở Libya không có Hội đồng quốc gia chuyển tiếp nào cả, mà chỉ có bọn gây rối, bọn phiến loạn do phương Tây giật dây, phục vụ cho máu tham dầu lửa của họ. Hiện nay, những người có quan điểm này đang lo cho số phận của nhà cầm quyền Syria – nhà cầm quyền đang dùng dùi cui và súng đối với nhân dân.

Hai là lập luận: Chính quyền Gaddafi đã dùng vũ lực chống nhân dân mình thì không còn tư cách đại diện nhân dân Libya. Đứng đầu là Mỹ, Anh, Pháp, Ý… Theo quan điểm này thì làm mọi việc, giúp đỡ mọi hình thức, kể cả quân sự cho lực lượng nổi dậy của nhân dân, chẳng những là nhân đạo, mà còn là thực sự tôn trọng chủ quyền đất nước phải thuộc về nhân dân Libya.

Nghe lập luận này, chúng ta không khỏi nhớ câu nói của Hồ Chí Minh: “Nếu nước đã được độc lập mà nhân dân không được tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”.

Suy ra, nhân quyền, dân quyền mới là vấn đề thực chất, chủ quyền đất nước phải thuộc về nhân dân chứ không phải của nhà cầm quyền độc tài. Không cho phép nhà cầm quyền độc tài núp sau bình phong chủ quyền để trấn áp nhân dân! Biểu tình là thước đo nguyện vọng nhân dân. Thái độ đối với biểu tình là thước đo dân chủ của nhà cầm quyền. Đó là bài học mà những Ben Ali, Mubarak, Gaddafi đều không chịu học. Đến ngày cùng, Gaddafi vẫn đang tâm giết hại hằng trăm tù nhân đang bị ông ta giam giữ. Không ai mong muốn bạo lực và chiến tranh, nhưng làm sao để các nhà độc tài còn đang trị vì, còn có thì giờ học bài dân chủ, chịu chấp nhận hòa bình cải cách, chuyển đổi dần dần sang dân chủ? Điều ấy hình như nan giải?

Nhân dân Việt Nam có đủ kinh nghiệm lịch sử để nhận thức hai quan điểm trái ngược nói trên bên nào là đúng đắn, bên nào là phản ngụy. Bởi vì, trong hai cuộc chiến tranh giành độc lập, chúng ta đã tiếp nhận sự giúp đỡ vũ khí từ nhiều nước để chống địch. Chúng ta cũng đã từng đưa quân tình nguyện của mình vào hai nước Campuchia, Lào giúp bạn chống ngoại xâm và các chính quyền bù nhìn. Đặc biệt, chúng ta đã đưa quân giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng do một nhà nước mang tên Campuchia Dân chủ gây ra. Chúng ta hiểu sự can thiệp nào là chính nghĩa, khi sự can thiệp đó nhằm cứu nguy cho nhân dân đang ngạt thở. Chúng ta vui mừng nhìn thấy thời đại đã bước sang kỷ nguyên dân chủ, nhân quyền, một khi nhân dân vùng lên chống nhà nước độc tài sẽ không còn bị cô độc. Nhân loại không chỉ hô hào suông mà khi cấp thiết nhất đã có thể bảo vệ quyền sống và mưu cầu hạnh phúc của nhân dân bằng mọi phương tiện, kể cả súng!

Ngày 29 – 8 – 2011

T.V.C.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.


------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2011

Gặp lại cụ bà 78 tuổi hướng dẫn du lịch bằng tiếng Anh

Nguồn: dantri.com.vn

Gặp lại cụ bà 78 tuổi hướng dẫn du lịch bằng tiếng Anh


(Dân trí) - Không chỉ gây ấn tượng bằng những màn coi bói liến thoắng bằng tiếng Anh, hơn 30 năm nay, cụ Trần Thị Diều còn là một nữ hướng dẫn viên du lịch có một không hai ở cầu ngói Thanh Toàn, có khả năng hướng dẫn bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp.
Cụ Trần Thị Diều, 78 tuổi, được coi là một "đặc sản" ở cầu ngói Thanh Toàn, xã Thủy Thanh (thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế); là người khiến những du khách nước ngoài đã qua nơi đây, được gặp cụ sẽ không thể nào quên.
Thân hình gầy gò, bé nhỏ, mái tóc bạc phơ, cụ Diều đã khiến cho rất nhiều khách du lịch bất ngờ khi chứng kiến và được nghe bà cụ nói tiếng Anh một cách rất lưu loát. Màn "xem bói về tình duyên" của cụ đặc biệt thu hút du khách, đặc biệt là giới trẻ. Nghe cụ bói cho du khách nước ngoài bằng tiếng Anh giống như một "đặc sản du lịch" vô cùng thú vị.
Cụ Diều đang giới thiệu với khách du lịch về cầu ngói Thanh Toàn
“Hello! Welcome to Thanh Toan tile bridge” (Chào mừng quý khách đến cầu ngói Thanh Toàn) là câu nói quen thuộc của cụ Diều mỗi khi có đoàn khách nước ngoài về tham quan cầu ngói.  
Màn coi bói bằng tiếng Anh của cụ Diều khiến du khách vô cùng thích thú.
Ngoài tiếng Anh, cụ còn nói được cả những câu tiếng Pháp “bồi” như “Bonjour monsieur, bonjour madamme, un, deux, trois, quatre, cinq...” (chào ông, chào bà, một hai ba bốn năm) làm nhiều du khách Pháp rất thích thú.
Nói về công việc của mình, bà cụ gần 80 tuổi hóm hỉnh: “Tôi rất vui khi được làm công việc ni vì mình có thể tự giới thiệu cho khách du lịch những thông tin liên quan về cầu ngói Thanh Toàn, một địa điểm tham quan nổi tiếng của địa phương. Tôi có biết coi bói nên nhiều người về đây rất thích thú khi tôi kể về chuyện quá khứ, tương lai của họ. Họ rất ngạc nhiên khi biết tôi già như ri mà vẫn nói tiếng Anh lưu loát”.
“Nhờ có cụ Diều mà cuộc sống nơi thôn quê này trở lên vui vẻ và nhộn nhịp hơn vì ngày càng có nhiều khách du lịch đổ về đây tham quan và mong được gặp cụ” - anh Nguyễn Quang Phước sống gần cầu ngói Thanh Toàn cho biết.
Và mỗi dịp Festival Huế, bà cụ ấy lại trở lên vô cùng bận rộn khi lượng khách du lịch đổ về cầu ngói Thanh Toàn rất đông. Tất bật với việc giới thiệu cho du khách về cây cầu cổ của quê hương, cụ như quên cả tuổi tác của mình. Cũng chính nhờ công việc này mà cụ Diều có rất nhiều người bạn phương xa, trong đó có nhiều người nước ngoài. Cụ Diều kể đầu tháng 4 vừa qua có một cô gái trẻ người Pháp cùng một nhóm bạn sang Việt Nam và trở lại Huế tham quan cầu ngói và cũng là để thăm lại cụ. Những tình cảm "5 châu" này là nguồn động viên khiến cụ thêm yêu công việc của mình hơn.
Du khách càng yêu quý cụ hơn khi cụ chưa một lần yêu cầu khách trả tiền “boa”. Khách cho bao nhiêu cụ lấy bấy nhiêu và cảm ơn chân thành. Khách không cho, cụ vẫn cười tươi và nói lần sau về lại ghé cụ chơi.
Cụ Diều bên những người bạn nước ngoài
Yêu nghề hướng dẫn viên du lịch tự do nhưng tuổi cao, sức khỏe có hạn, cụ Diều giờ lại tận tụy dạy lại những câu tiếng Anh giao tiếp thông thường cho những anh những chị bán quán nước, gánh hàng rong... gần cầu ngói Thanh Toàn để ai cũng có thể tự tin giới thiệu với khách nước ngoài về quê hương mình.
Kể về đời mình, cụ Diều tâm sự cũng nhiều trắc trở. Cụ lỡ phải lòng một ông đại tá của Chính quyền Sài Gòn rồi có cô con gái nhưng sau đó cụ đành chia tay để người đàn ông ấy trở về với gia đình. Lớn lên, cô con gái cũng lỡ bước, để lại cho cụ đứa cháu ngoại rồi đi lấy chồng, biền biệt không về. Giờtuy công việc cũng giúp cụ có đồng vào đồng ra nhưng phải lo toan cho đứa cháu ngoại đang học cấp 3 là chuyện không đơn giản.
Cầu Ngói Thanh Toàn ngày càng hấp dẫn hơn nhờ có cụ Diều chuyên coi bói, hướng dẫn du lịch bằng tiếng Anh.
Ngọc Thụ - Đại Dương


------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2011

Hình ảnh Tướng Giáp trên bìa sách quốc tế

Nguồn: baodatviet

Hình ảnh Tướng Giáp trên bìa sách quốc tế
Cập nhật lúc :10:47 AM, 26/08/2011
(ĐVO) Các cuốn sách viết về sự nghiệp, tư tưởng cùng hình ảnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được xuất bản dưới nhiều thứ tiếng và phát hành rộng rãi trên toàn cầu. 
>> Cận cảnh 'kỷ vật thời chiến' của Tướng Giáp
>> 'Tướng Giáp: Nhà chiến lược của tự do'
>> Cuộc đời xuyên hai thế kỷ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
>> Võ Nguyên Giáp - Hào khí trăm năm!

Không chỉ là một người anh hùng dân tộc của Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những nhà chỉ huy quân sự lỗi lạc nhất trong lịch sử thế giới. Các cuốn sách viết về sự nghiệp, tư tưởng cùng hình ảnh của Đại tướng đã được xuất bản dưới nhiều thứ tiếng và phát hành rộng rãi trên toàn cầu.
Cuốn sách tựa đề “Tướng Giáp: Người chiến thắng ở Việt Nam” (Giap: The Victor in Vietnam) của nhà văn người Mỹ Peter G. MacDonald được viết sau chuyến thăm và phóng vấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp của ông tại Hà Nội năm 1990. Bên cạnh việc phỏng vấn Đại tướng, nhà văn đã gặp gỡ nhiều cựu chiến binh và thường dân, qua đó làm sáng tỏ vì sao một đội quân nghèo nàn lại làm nên kỳ tích chiến thắng hai đế quốc sừng sỏ hàng đầu thế giới.
Cuốn sách “Tướng Giáp – Núi lửa dưới băng tuyết” (Giap: Volcano Under Snow) của John Colvin, nhà ngoại giao người Anh hoạt động tại Hà Nội những năm 1960 trình bày cách giải thích của ông về phương pháp tiếp cận quân sự và chính trị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước sự đổ quân của người Mỹ vào miền Nam Việt Nam.
Cuốn sách có tiêu để “Chiến thắng bằng mọi giá” (Victory at any Cost) của tác giả người Mỹ Cecil B. Currey đã tái hiện lại những chặng đường sự nghiệp từ một giáo viên đến một nhà chỉ huy quân sự thiên tài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp dựa trên các cuộc phỏng vấn và tài liệu do Đại tướng cung cấp vào năm 1997.
Một ấn bản tiếng Pháp của cuốn “Chiến thắng bằng mọi giá”.
Bản dịch tác phẩm "Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được ĐH Báo chí thái Bình Dương ( University Press of the Pacific), Mỹ xuất bản năm 2001.
Ấn bàn tiếng Italy của tác phẩm "Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân" do hai dịch giả Luciano Canfora và Thomas De Lorenzis chuyển ngữ.
Cuốn sách tiêu đề “Tướng Giáp – Nhà chính trị và chiến lược” (General Giap – Politician and Strategist) của học giả nổi tiếng người Mỹ Robert J.O’Neill tập trung phân tích quãng đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ những ngày đầu tham gia phong trào Cộng sản cho đến lúc lãnh đạo lực lượng vũ trang của Việt minh chống Pháp.
Cuốn sách “Nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân: Các bài viết chọn lọc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp” (The Military Art of People's War: Selected Writings of General Vo Nguyen Giap) được tác giả Russell Stetler biên dịch và xuất bản tại New York năm 1971.
Cuốn sách “Võ Nguyên Giáp - Một cuộc đời” (Une vie - Vo Nguyen Giap) của nhà sử học người Pháp Alain Ruscio ghi lại các cuộc phỏng vấn của ông với Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong khoảng thời gian từ năm 1979 – 2008 tại Hà Nội.
Cuốn sách “Tướng Giáp – Chiến tranh nhân dân – Quân đội nhân dân”, do Bộ Quốc phòng Israel xuất bản năm 1969 bằng tiếng Hebrew đã tập hợp các bài diễn văn và tiểu luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Các tư liệu này cung cấp học thuyết chiến thuật cho các hoạt động nổi dậy vũ trang cũng như hướng dẫn chính trị để tranh thủ sự ủng hộ của người dân trong các cuộc nổi dậy.

Dòng tin bài khác: >> 'Hậu số' của dâm phụ khuấy đảo triều Nguyễn
>> Bí ẩn 'gỗ quý' ướp xác người
>> 'Độc đáo' phố Tây giữa lòng Hà Nội 
>> Choáng với màn 'chặn ô tô... xin đểu' trên phố Hà Nội
>> 'Sao' gốc Việt mê hoặc thế giới
Quốc Lê

------------------
*****



»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này