++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

Hội đồng… “thập cẩm”.

Nguyễn Hữu Quý

Đọc ĐƠN KIẾN NGHỊ KHẨN CẤP của nhạc sĩ Văn Thành Nho, đăng trên Blog Phạm Viết Đào, người đọc không khỏi chột dạ cho sự bi hài của việc xét giải thưởng trong lĩnh vực âm nhạc và sáng tác âm nhạc.

ĐƠN KIẾN NGHỊ KHẨN CẤP của nhạc sĩ Văn Thành Nho làm tôi lại nhớ đến bài XÚC CẢM BI, HÀI CỦA NHÀ VĂN TRƯỢT GIẢI! của nhà văn Nguyễn Hiếu, mà trong bài viết của mình ông đưa ra khái niệm “chia quả thực” của Hội NVVN.

Có thể nói, chưa bao giờ người Việt lại thấy sự nhố nhăng (xin được phép gọi như thế!) của giới hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nước nhà, và tại sao nó lại thê thảm đến như vậy.

Trong đơn kiến nghị của mình, nhạc sĩ Văn Thành Nho viết:

… Phủ định hàng loạt tác phẩm là chứng nhân của lịch sử, đã ăn sâu vào đời sống và tâm tư tình cảm của nhân dân hàng chục thế kỷ (năm) qua như Đất nước trọn niềm vui, Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, Dòng sông quê anh dòng sông quê em, Gửi em chiếc nón bài thơ, Người lái đò trên sông Pa ko, Huế tình yêu của tôi, Cung đàn mùa xuân… là sự báng bổ lịch sử cần phê phán một cách nghiêm khắc. 

Suy cho cùng, khi đồng tiền có thể mua được mọi thứ trên đất nước Việt Nam hôm nay, thì “sự báng bổ lịch sử” như cách nói của nhạc sĩ Văn Thành Nho, âu cũng là chuyện tất yếu, khi mà đám văn nô, bồi bút, trí trá… đang lũng đoạn nền văn hóa và văn học nước nhà.

Như vậy là, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, cũng như Hội NVVN đã để lại cho người đọc nói riêng và nhân dân ta một cái nhìn rất… “thập cẩm”.

Một lần nữa, tôi lại xin mượn lời của nhà báo kỳ cựu Lê Phú Khải, trong bài viết “Lời ai điếu cho một nền báo chí nô bộc”, để nói không chỉ riêng đối với giới báo chí, Hội NVVN mà dành cho cả Hội nhạc sĩ Việt Nam, và có thể dành cho nhiều “Hội” khác nữa:

Tôi không ngờ các nhà báo lão thành mà xưa nay tôi từng ngưỡng mộ lại có thể vô cảm đến thế, dối trá đến thế, hèn hạ đến thế! 

Chỉ biết nói rằng, khi mà tầng lớp trí thức không còn biết trọng danh dự, thiếu đi cái “tầm” và cái “tầm”, trở thành những con cừu dễ bề bị sai khiến, nô lệ của thói háo danh, hoặc trở thành đám văn nô, bồi bút, trí trá, trí ngủ, và sẵn sàng báng bổ lịch sử v.v… thì báo hiệu một điều gì đó rất nghiêm trọng cho chế độ đã sinh ra và dung dưỡng đám người ấy.

18.8.2011



------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2011

Blog Trương Duy Nhất: Ấn tượng ỉa đái

Nguồn: Blog Trương Duy Nhất

pageNhiều người sang Mỹ đi Âu về ấn tượng bởi những tòa nhà chọc trời, về ô tô và mức sống như thiên đường... chủ nghĩa xã hội! Còn với tôi, ấn tượng nhất chính là chuyện... ỉa đái!

Một bản tin trên báo Dân Việt đọc cứ rùng mình: Từ nhiều năm nay, hơn 500 học sinh và 42 giáo viên trường mầm non Hữu Bằng (Thạch Thất, Hà Nội) phải thường xuyên đi đại tiện vào... túi nylon. Động tác thường xuyên đã trở thành thói quen thường nhật của cô giáo Nguyễn Thị Thu Hiền mỗi khi kết thúc giờ dạy là đi túm gom những túi nylon ấy ném ra thùng rác trước cổng trường.

Đó là câu chuyện giữa Hà Nội thủ đô nghìn năm văn vật. Chuyện ỉa đái ở những vùng xa vùng sâu nghèo khó hơn thủ đô còn kinh hãi vạn phần.

Đổ lỗi cho sự khốn khó cũng không đúng. Bởi không thấy đất nước nào dân tộc nào mà cái sự ỉa bậy lại được khái quát thành một văn hóa sướng: “nhất Quận Công nhì ỉa đồng”, hay “thứ nhất là đỗ thám hoa, thứ nhì cưới vợ, thứ ba ỉa đồng”...

Nhiều bạn phỏng vấn tôi: anh Nhất hay ra nước ngoài, thấy ấn tượng nhất điều gì? Tôi hay bảo: là... chủ nghĩa xã hội! Mô hình chủ nghĩa xã hội mà Mác và Lê-nin mơ tưởng nó đang hiện hữu ở các nước Tư bản phát triển, chứ không phải ở các quốc gia Cộng sản. Họ tiến đến chủ nghĩa xã hội lâu rồi nhưng người ta im không nói, còn Việt Nam mình nói mãi, hô hào tiến lên mãi mà hơn nửa thế kỷ vẫn quẩn quanh ở “thời kỳ quá độ”. Có anh vặn: nói thế chung chung và mơ hồ quá, anh cụ thể vắn tắt xem chuyện gì, cái gì ấn tượng nhất, nói ra hiểu liền cơ! Hóa ra nói chủ nghĩa xã hội là chung chung mơ hồ. Thế thì cụ thể nhé: Nhiều người sang Mỹ đi Âu về ấn tượng bởi những tòa nhà chọc trời, về ô tô và mức sống như thiên đường... chủ nghĩa xã hội! Còn với tôi, ấn tượng nhất chính là chuyện... ỉa đái!

Hôm rồi đi Canada, buổi gặp nào với người Việt xa xứ họ cũng hỏi tôi “anh Nhất ấn tượng điều gì”. Lần nào tôi cũng thật thà: là chuyện ỉa đái! Người Canada gọi cái chốn ỉa đái ấy là washroom. Nhìn washroom, chui vào washroom biết cái đất nước này nó sạch và văn minh cỡ nào. Không biết họ “thiết kế” cái đất nước Canada ra sao mà đi đâu, nhìn đâu cũng thấy washroom, bất kể giữa trung tâm phố thị hay heo hút giữa núi rừng. Như thể cứ lúc nào nghe cảm giác buồn... là thấy ngay washroom trước mặt. Họ giải thích thế này: Không vậy lỡ một người dân nào, bất chợt một lúc nào đó, ở đâu đó buồn ỉa mà tìm không kịp chỗ để cho họ đi, người ta sẽ kiện chính phủ ra tòa! Đi suốt từ Vancouver- Toronto- Ottawa- Montreal- Quebec... không thấy đâu họ thu tiền phí đái ỉa như Việt Nam mình.

Hoặc hãy nhìn vào chỗ ỉa đái của Google để học gã khổng lồ này. Với Google, muốn tư duy, sáng tạo và phát triển, hãy tư duy và sáng tạo từ... cái bàn ỉa! Mọi chốn ỉa đái trong đại bản doanh của tập đoàn Google đều được trang bị giàn xí hiện đại và tối tân bậc nhất của Nhật Bản, chúng có khả năng sưởi ấm trong những ngày giá lạnh. Xả nước vẫn là chưa đủ, một nút bấm không dây ngay trên cánh cửa sẽ kích hoạt tính năng dọn vệ sinh và sấy khô vòng 3 cho người dùng. Không chỉ được nuông chiều bằng những bồn xí hi-tech, nhân viên Google còn được khuyến khích tận dụng tối đa khoảng thời gian "rảnh rỗi" hiếm hoi trong không gian yên lặng một mình này cho tư duy sáng tạo. Bên trong mỗi khoang toilet của Google đều gắn một bảng điện tử với mã test sử dụng cơ sở dữ liệu. Nó sẽ hiển thị những câu đố được thay đổi hàng tuần, xoáy vào những chủ đề kỹ thuật và mã lập trình testing. Toilet của Google phản ánh rõ triết lý làm việc của họ. Với hệ thống trang thiết bị hiện đại, hào phóng, toilet không chỉ là chốn ỉa đái, nó giúp con người cảm thấy nhẹ nhõm, thư giãn, vui vẻ và tư duy theo cách thức... không bình thường! Đấy là triết lý của Google và chính nhờ vậy mà Google có thể sáng tạo ra hàng loạt những sản phẩm, dịch vụ mới với tốc độ tên lửa!

Năm qua Mỹ, tôi thấy thằng bạn cứ mỗi lần vào toilet là hắn lại ôm theo cái laptop. Hỏi mày tranh thủ chát chít với con nào à? Hắn bảo: tư duy nghiêm túc chứ chát chít chi, không hiểu sao cứ mỗi lần ngồi ỉa, tớ lại tư duy ra nhiều chuyện lớn!

Tôi tin hắn. Cũng như tôi tin, không ít phát kiến vĩ đại làm thay chuyển nhân loại đã có thể nảy sinh từ cái khoảng không gian một mình yên lặng ỉa đái này.

Nói đâu xa, nhìn ngay mấy anh châu Á mũi tẹt da vàng như ta nhưng chuyện ỉa đái của họ cũng khác xa vời vợi. Hồi chuyện ỉa đái vẫn còn bậy như Việt Nam mình, Phó Thủ tướng Malaysia N. Razak đã bức xúc đến mức phải kêu gọi một cuộc "cách mạng toilet" trên toàn quốc. Ông tuyên bố: sự sạch đẹp của "chốn riêng tư" này là thước đo cho sự văn minh của một quốc gia.

Người Hàn quốc thì đã biết nói không với tượng đài lãnh tụ để thay bằng tượng đài nhà xí. “Toà nhà toilet” Haewoojae, hay còn gọi là tượng đài nhà xí là một biểu tượng văn hóa kỳ thú và tự hào của Suwon. Kiến trúc trông như một bệ xí khổng lồ. Bên trong chứa 4 toilet, trong đó một toilet trung tâm có vách, trần, sàn đều làm bằng kính trong suốt và hệ thống âm thanh chất lượng cao phát các bản nhạc cổ điển du dương. Các bức vách của toilet sẽ tự động chuyển sang đục khi có người vào sử dụng. Tác giả tượng đài nhà xí này là kiến trúc sư Sim Jae Duck (người được mệnh danh là Mr. Toilet). Ông nói: “nên học cách xem toilet không chỉ là nơi để bài tiết mà còn là chỗ để thư giãn, suy tư và hạnh phúc”.

Còn với người Nhật, toilet từ lâu đã trở thành một nét văn hóa quan trọng đến mức họ tổ chức hẳn một ngày lễ ỉa đái, gọi là “ngày toilet Nhật Bản” ấn định vào 10/11 hàng năm.

Chuyện ỉa đái quan trọng và mang tính toàn cầu đến mức thế giới cũng đã có Tổ chức nhà cầu quốc tế (World Toilet Organization). Thành lập năm 2001, World Toilet Organization là một tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu dành riêng cho việc cải thiện các điều kiện vệ sinh môi trưởng trên toàn thế giới. Hội nghị thượng đỉnh toilet thế giới lần thứ 11 sẽ được tổ chức trong các ngày 22-25/11 năm nay tại Hải Nam, Trung Quốc.

Nhiều nước đã ban hành hẳn bộ qui chuẩn quốc gia về bồn cầu và không gian toilet. Cụ thể và chi li đến từng độ chuẩn ánh sáng, độ bóng sạch, chiều cao bề rộng cũng như hệ thống các “công cụ hỗ trợ”... Việt Nam rất nhiều thứ bộ qui chuẩn quốc gia, kể cả bộ chuẩn về gia đình văn hóa, tổ văn hóa, khu phố văn hóa, Hà Nội thậm chí còn đang xây dựng một bộ chuẩn gọi là “người Hà Nội thanh lịch, văn minh”. Những thứ đó quá nhiều, nhiều đến mức không nhớ hết. Nhưng lại thiếu một bộ chuẩn về bồn cầu và không gian ỉa đái.

Sẽ không quá khi nói rằng: muốn biết cung cách, nề nếp sinh hoạt, tính cách, thẩm mỹ, văn hóa của một chủ nhân, hay thậm chí là của một dân tộc, đừng nhìn vào phòng khách hay chỗ ngồi ăn, hãy nhìn vào chốn ỉa đái trong nhà họ.

Vào chỗ ỉa đái, người ta không chỉ đái ỉa. Bồn cầu ở nhiều quốc gia trên thế giới người ta thiết kế cả thiết bị điện từ phát sóng lan qua bồn cầu để đo tỷ lệ mỡ trong cơ thể, hoặc để sưởi ấm, để đo nhịp tim, huyết áp... Có loại bồn cầu phát sáng trong bóng tối, có nắp đậy phát ra tiếng vo vo như ong khi bộ cảm biến hồng ngoại nhận ra cơ thể người, rồi còn có thể chơi một lúc 6 bản nhạc với tiếng chim hót líu lo, tiếng hòa âm của gió đến tiếng bập bùng của đàn hạc. Có loại bồn cầu vừa ngồi vừa lướt web, xem phim, thậm chí gắn hẳn một giàn nhạc giao hưởng.

Nhìn chuyện ỉa đái, vào chốn ỉa đái của họ đủ biết mức sống, văn hóa của con người và dân tộc họ cách xa người Việt mức nào. Không có nền giáo dục nào mà cô giáo một tay cầm phấn dạy một tay cầm túi phân. Có quốc gia nào mà trung bình mỗi ngày, các đoàn tàu khách xuyên Việt thản nhiên tống đổ xuống đường ray trên 4 tấn phân người và 6 vạn lít nước tiểu.

Lâu rồi, tôi đã viết: Trên thế giới này, chắc mỗi người Việt có văn hoá... đái đường. Hễ thấy những ai thản nhiên móc tay kéo quần tè bên vệ đường thì không cần phải hỏi quốc tịch, bởi chắc chắn đó chỉ có thể là người Việt Nam (xem bài Đông Tây nghịch- thuận trong loạt phóng sự “Ngao du trên trục Đông Tây”).

Ngành văn hóa- du lịch hay thăm dò, thống kê ý kiến du khách. Thấy năm nào cũng đầy rẫy những ý kiến ấn tượng. Nhưng đã bao giờ lấy ý kiến du khách ngoại quốc quanh chuyện ỉa đái này? Nếu hỏi, tôi chắc đa phần họ “kinh sợ” Việt Nam nhất là chuyện... ỉa đái!

Trong vô vàn mục tiêu phát triển, thôi thì chưa phát được cái gì trước hết hãy thay chuyển cho được chuyện ỉa đái. Ưu tiên cho mục tiêu ỉa đái trước có lẽ cũng là một cách thay chuyển văn hóa. Để thay chuyển hình ảnh đất nước, để đất nước phát triển và văn minh, có lẽ phải tư duy đầu tiên cho mục tiêu đái ỉa này!

Lãnh đạo nhà mình, ai cũng “khiêm nhường” không muốn (hoặc không thể) tạo dấu ấn. Thôi thì đừng nói đến dấu ấn gì lớn lao, hãy cố gắng để lại dấu ấn làm thay chuyển chuyện ỉa đái này cũng đã là văn hóa và phước hạnh lắm rồi!

dai duong

UpRXSF1fYei64p58VdLHRoCDo1_500

daiduong1 DAI-TIEN-O-SO-152-LE-LOI-DA-NANG1

untitled cam-dai-bay

Những hình ảnh chỉ có ở Việt Nam

-(Nguồn ảnh cop trên internet và do bạn đọc Vac Tu Va gửi)

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

Tô Văn Trường: Im lặng là vàng

Nguồn: Bauxite Việt Nam





12/08/2011

Im lặng là vàng


Tô Văn Trường
Im lặng là vàng. Đó là câu châm ngôn phương Tây mang nhiều ý nghĩa, nhưng ngày nay lại được nhiều người trong giới trí thức chúng ta coi như một triết lý sống. Triết lý sống ấy, phần lớn do người ta ngao ngán với “nhân tình, thế thái”. Mặt khác, cũng có một số người nghĩ im lặng sẽ đảm bảo cho sự an toàn của bản thân trong mọi lúc, mọi nơi. Rồi từ chỗ ít nói, ngại nói, không dám nói những điều mình đang trăn trở, nghĩ suy, người ta trở nên dửng dưng trước mọi biến động của xã hội. Thậm chí coi im lặng là vàng mà vàng thì quý lắm, lại đang lên giá từng ngày nên ngay cả khi đất nước gặp nguy nan cả trong đối nội và đối ngoại, họ vẫn tôn thờ chủ nghĩa MAKENO, vẫn “mũ ni, che tai” như một kẻ ngoài cuộc.

Ngược lại, có luồng ý kiến lại cho rằng ngay những người trí thức Việt Nam, không ít người lại quá đà chỉ thích chỉ trích, chê bai, mà không bao giờ nghĩ xem nếu mình được đặt vào vị trí quản lý mình có làm được không, mình có bị quyền lực và tiền bạc làm cho tha hoá không? Đấy là chưa kể, những người khi ngồi ở ghế ấy thì khác, lúc về vườn lại quay ra chỉ trích chính những gì mà mình từng làm.

Một vị giáo sư thuộc loại con nhà nòi, mới gọi điện thoại cho tôi tâm sự về chuyện thời xưa người ta còn biết tuyệt thực trong nhà tù, thời nay, tốt nhất là “rửa tay, gác kiếm” không nghĩ, không nói, không viết nữa!

Một vị trí thức, lão thành cách mạng trăn trở bảo rằng mọi lời hay ý đẹp của lẽ phải thật ra không lạ gì đối với những người đang cầm quyền. Mới đây, có vị lãnh đạo cấp cao nói chuyện với báo chí rất hay, nhất là phần nói về dân chủ, về trách nhiệm và quyền của các đại biểu Quốc hội, nhưng vị ấy lại quên mất rằng các sự việc diễn ra gần đây trên mảnh đất hình chữ S này lại gây ra rất phản cảm trong xã hội. Vậy thì các bài viết của mình dù là vắt óc để suy nghĩ liệu có thay đổi được thời cuộc? Cảm thán, chia sẻ với suy nghĩ của các bậc đàn anh, tôi lại nhớ cụ Nguyễn Khuyến đã từng viết:

“Câu thơ viết, đắn đo chẳng viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa”

Suy cho cùng, mỗi người có một cách nghĩ, cách ứng xử trước thời cuộc. Ngẫm suy về trách nhiệm của người trí thức thời nay phải là người biết "đánh thức không cho xã hội ngủ", tôi lại nhớ đến lời căn dặn của ông Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) “Dù trong bất cứ trường hợp nào cũng không được nản chí”!

Người ta có thể “ba không” (không nghĩ, không nói, không viết) để an hưởng thú điền viên "lão giả an chi"! Cái kiểu ứng xử của các cụ trước đây “thiên hạ hữu đạo tắc hiện, thiên hạ vô đạo tắc ẩn” cũng là một cách để tỏ thái độ của người thức thời. Những người trí thức đều ở trong xã hội, là một phần của xã hội. Quan hệ của trí thức với những thành viên khác của xã hội là quan hệ hai chiều, học lẫn nhau và dạy lẫn nhau, dân tộc đoàn kết, mọi tầng lớp, mọi con người chung sức, chung lòng phát triển và bảo vệ đất nước, mỗi tầng lớp có chức năng riêng, mỗi con người có đóng góp riêng. Ở nước ta, chúng ta có ba tầng lớp đan xen, thâm nhập vào nhau, tạo thành động lực quan trọng nhất của công cuộc phát triển, đó là trí thức, doanh nhân, tuổi trẻ. Trong trí thức có nhiều doanh nhân và người trẻ, trong doanh nhân có nhiều người trẻ và trí thức, trong tuổi trẻ có nhiều trí thức và doanh nhân.

Tôi may mắn được nghe một vị trưởng thượng giảng giải: thời nay, là thời giới cầm quyền đã đông hơn trước nhiều, thì ở mọi nước, giới cầm quyền, từ cấp Trung ương (toàn quốc) đến cấp cơ sở, kể cả những người chính danh và những người không chính danh mà thực sự cầm quyền, cộng lại chỉ chiếm từ 3% đến 5% dân số. Ở nước ta, có khoảng 89 triệu dân cả trong nước và ngoài nước, giả định giới cầm quyền chiếm 4% dân số, thì tổng số người cầm quyền là 3 triệu 56 vạn người, tổng số người không cầm quyền là 85 triệu 44 vạn người.

Tùy từng nước, giới cầm quyền có bản chất, năng lực, phẩm chất như thế nào đó của mình và có quyền lực như thế nào đó của những người cầm quyền ở nước ấy, còn những người không cầm quyền có dân quyền, dân tâm, dân trí như thế nào đó của những người dân nước ấy.

Một bài viết đăng trên báo hoặc/và đưa lên mạng Internet, một bản kiến nghị mà địa chỉ gửi là những người cầm quyền đồng thời công bố trong nước và trên thế giới bằng cách này, cách khác, thì đều là vừa gửi đến giới cầm quyền, vừa gửi đến toàn dân, và trong nhiều trường hợp đến toàn thế giới.

Có những tác giả quyết định rằng địa chỉ gửi chủ yếu của mình là giới cầm quyền. Có những tác giả khác, có lẽ đông hơn, quyết định rằng địa chỉ gửi chủ yếu của mình là dân chúng, là đồng bào mình, là toàn xã hội.

Trong một thực trạng chính trị, xã hội được nhìn nhận như thế nào đó, thì viết và nói là vô ích, người thông minh, người thức thời chẳng nói, chẳng viết để khỏi phí hoài tâm sức. Nhìn nhận khác đi, thì không phải thế. Không nhiều thì ít, không bây giờ thì rồi đây, thậm chí sau này, tâm sức của từng người và của tất cả những người nói và viết đều không hoàn toàn uổng phí, có hiệu quả hiển hiện, dễ thấy hơn, và có hiệu quả ẩn khuất, khó thấy hơn, nếu chưa có hiệu quả trong giới cầm quyền thì có hiệu quả trong xã hội. Đương nhiên, điều quyết định là nói hoặc viết điều gì, như thế nào, với tấm lòng và tài năng ra sao.

Nhiều tác giả cho rằng chính hiệu quả trong xã hội, đến được dẫu chỉ một chút ít với nhân dân, mới là quan trọng nhất.

“Nồng nàn tâm huyết thưa thành quả
Gieo trăm gặt một thế cũng là
Được bao nhiêu cũng là được cả
Một thời khô héo một thời hoa”
T.V.T.

------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

Phát hiện mới: Trống đồng Đông Sơn có minh văn thứ hai ở Việt Nam

Nguồn: Tamnhinnet

Phát hiện trống đồng Đông Sơn có minh văn thứ hai ở Việt Nam



(Tamnhin.net) - Chiếc trống “Phú” mang một giá trị văn hóa lịch sử rất lớn. Nó chẳng những là trống Đông Sơn thứ hai có khắc minh văn mà còn cho ta khả năng hé mở một lối ghi âm địa danh Cửu Chân bằng chữ Hán cổ hơn kiểu chữ thời Đông Hán, Tam Quốc, Lục Triều sau này...
Trống "Phú" được phát hiện tại huyện Phú Xuyên (Hà Tây cũ)
Phát hiện bất ngờ chiếc trống đồng cổ có minh văn 

Cách đây chừng 5,6 năm, một nông dân ở vùng chiêm trũng thuộc huyện Phú Xuyên (Hà Tây cũ) bất ngờ phát hiện một chiếc trống đồng lớn còn gần như nguyên vẹn trong một hố đất đen đào sâu trong tầng đất đen sú vẹt. Có lẽ chính nhờ tầng đất chua sú vẹt yếm khí này mà chiếc trống đã được bảo tồn nguyên vẹn, gần như mới. Nhất là lớp vàng óng của thau đồng ẩn bên dưới màng patin mỏng được bảo vệ bởi một tầng nhựa cây che phủ khiến chủ nhân không thể tin ngỡ như một đồ đồng mới đúc. Đặc biệt là bên trong phần riềm chân trống hiện ra một dòng chữ Hán khắc nguệch ngọac nhưng rất sắc nét. 

Chiếc trống được thông báo đến các thành viên trong Hội sưu tầm cổ vật Thăng Long (Hà Nội) và hiện nay nó là một trong số món đồ giá trị, mang lại niền tự hào chính đáng cho anh em trong Hội. Gần đây, tôi có dịp được nghiên cứu kỹ chiếc trống này, nhất là dòng minh văn được khắc bên trong phần riềm chân trống. 

Chiếc trống đầu tiên có minh văn ở nước ta chính là chiếc trống đồng Đông Sơn do nhân dân khai quật được ở Gò Mả Tre, trong thành Cổ Loa, năm 1982 (1). Hàng minh văn này đã được một số nhà khoa học nghiên cứu và công bố . Đây là chiếc trống đồng Đông Sơn thứ hai có minh văn đã được phát hiện và nghiên cứu ở nước ta. Ngoài ra, như đã từng được công bố, còn có một số thạp đồng Đông Sơn và khá nhiều đồ đồng, đồ gốm Giao Chỉ thuộc truyền thống Đông Sơn dưới thời thuộc bắc cũng có khắc minh văn chữ Hán. Vài dòng giới thiệu về chiếc trống mang tên “Phú” Trước hết, để tiện trình bày, trong bài này tôi gọi chiếc trống sẽ được mô tả là trống “Phú”. Bởi trên dòng minh văn trên trống, chính chủ nhân xưa cũng đã cho khắc một câu :”Danh viết Phú” nghĩa là : trống có tên là “Phú” (tức chỉ sự giàu sang, phú quý).


Trống “Phú” thuộc loại trống cỡ lớn, có đường kính miệng 65cm, phần tang rộng nhất tới 71cm. Chiều cao toàn thân trống là 43cm, thuộc loại trống lùn mang đậm phong cách miền núi (Tây Âu).

Thân trống và một phần mặt trống

Ở giữa mặt trống là hình mặt trời có 12 tia cánh rộng. Ngoài các vành trang trí hình học có hai vành chính thể hiện một vành gồm bốn con thằn lằn (hay cá sấu) còn vành kia là hình tám con chim mỏ dài bay ngược chiều kim đồng hồ. Mặt trống không tràn gờ mà thu hẹp so với độ nở của tang mỗi bên 3cm.


Vành thằn lằn (cá sấu) và vành chim mỏ dài trên mặt trống

Tang trống trang trí băng chính gồm 4 chiếc thuyền độc mộc đầu và đuôi thuyền cong vút. Bên trên có 6 người ngồi chèo thuyền giống nhau, một người ngồi phía sau cầm lái và một người ngồi chèo nhưng có một ngọn giáo cắm chúc mũi xuống ở hốc đầu thuyền phía trước. Tất cả đều nhìn theo hướng từ trái sang phải (ngược chiều kim đồng hồ). Không thấy bất kỳ con vật nào ở trên trời cũng như dưới nước.


Chi tiết thuyền trên tang trống

Phần thân thuyền được chia thành tám ô hình chữ nhật, trong mỗi ô có hai hình người hóa trang đội mũ lông chim, mang khố dài, mắt quay nhìn theo hướng từ trái sang phải. Người đứng phía trước, tay cầm rìu (giáo), người đi sau cầm xênh, cả hai nhún theo tư thế nhảy múa. Phía trên đầu là hình một con chim lạc bay.


Hình người hóa trang trên thân trống

Vành chân trống để trơn, thuộc loại thấp nhưng xòe rộng ngang bằng với chỗ phình nhất của tang trống (khoảng trên dưới 70cm). Chính ở phần xòe chân trống này, phía bên trong có dãy chữ Hán khắc rất sắc nét.

Dòng minh văn gồm 16 chữ Hán và những thông tin về các đơn vị đo lường thời Đông Sơn
Các chữ Hán được khắc ở bên trong chân đế trống đồng thành một hàng ngang đọc chạy dọc từ trên xuống dưới, rất giống tình trạng của trống Cổ Loa cả về vị trí lẫn kiểu khắc. Hình ghép dưới đây là do tôi ghép lại từ những đoạn chụp liên hoàn dãy 16 chữ minh văn đó. Dòng minh văn này khắc theo lối Nam Việt tức không thật vuông vắn, lại khá nguệch ngoạc và mắc lỗi chính tả. Tuy nhiên khá dễ đọc, ngoại trừ hai chữ đầu tiên. Từ chữ thứ ba trở về sau có thể đọc như sau : “TRỌNG LỤC QUÂN, NGŨ CÂN, BÁT LẠNG, DANH VIẾT PHÚ, ĐỆ VỊ THẬP NHẤT”. Tạm dịch : “ trống nặng sáu quân, năm cân, tám lạng, tên gọi là Phú, thứ bậc số mười một”.


“Quân” là đơn vị đo lường cổ được dùng từ đời nhà Chu cho đến hết đời nhà Minh. Hai “bình” làm thành một quân. Một bình nặng 15 cân, như vậy một quân nặng 30 cân. Đời nhà Tần có đúc chuẩn những quả quân có quai để thống nhất đo lường toàn thiên hạ. Theo đó, mỗi quân nặng 7,75kg (một cân đời Tần – Hán là khoảng 258 gram) (2). Chiếc trống này có niên đại tương đương Tần – Hán, tức khoảng thế kỷ 3-2 trước Công nguyên, ngang với thời kỳ nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương ở Việt Nam. Theo đó, đương thời, theo chuẩn đời Tần – Hán thì trống sẽ có trọng lượng 47,759kg. Tuy nhiên, khi cân trực tiếp chiếc trống thì hiện nó chỉ đạt trọng lượng 45,8 kg. Trong những công trình nghiên cứu trước, khi phân tích đơn vị đo lường ở Lĩnh Nam, Giao Chỉ, chúng tôi cũng như một số nhà nghiên cứu Trung Hoa nhận thấy đơn vị đo lường ở Lĩnh Nam và Giao Chỉ đời Tần – Hán có sự khác biệt so với vùng Trung Nguyên. “Cân” dân gian có trọng lượng nhẹ hơn cân quan xưởng. Một “cân” ở Cửu Chân, Giao Chỉ khi so với trọng lượng hiện tại của trống chỉ đạt 252,5kg. Điều đó phản ánh tính chất cát cứ, bất phục của các thủ lĩnh Bách Việt phương Nam đối với chủ trương thống nhất đo lường của triều đình Tần - Hán. Chính vì thế, để phân định giá trị các đơn vị đo lường người khắc minh văn thường thêm vào tên địa danh để quy ước đơn vị đó tính theo vùng nào.


Chữ “Quân” - đơn vị trọng lượng cổ, minh văn trên trống đồng “Phú”
Thông thường đồ đồng Nam Việt thường ghi các vùng như “Phiên”, “Triết”, “Bố”…Thạp đồng Triệu Đà ghi “Long Xoang”, tức Long Xuyên, nơi ông làm huyện lệnh. Trống Cổ Loa và một số đồ đồng khác cùng thời có ghi Tây Vu (cách đọc chệch của Tây Âu), tên bộ tộc lớn thuộc khối Bách Việt và cũng là tên một bộ (huyện) thời Tây Hán. Theo tôi, hai chữ đầu tiên của dòng minh văn trên trống “Phú” này cũng là dùng để ghi địa danh. 

Tên đơn vị hành chính thời Đông Sơn chủ yếu được phiên âm ghép bắt nguồn từ cách gọi bằng hệ thống ngôn ngữ bản địa. Vì thế, khi dùng các bộ thủ hay chữ Hán để ghi nhận chúng thường không nhất thiết gắn với nghĩa gốc của âm bản địa đó. Đôi khi âm đó không có trong chữ Hán. Vì thế đọc được các địa danh thời này bằng chữ Hán là khá phức tạp. Hai chữ đầu tiên trong dòng minh văn trên trống “Phú” được khắc rất rõ nét.
Giả thiết phục dựng hai chữ Cửu Chân từ bản gốc minh văn

Tôi đã nghiên cứu và đề xuất phục dựng hai chữ trên dùng để ghi âm “Cửu Chân” dựa trên sự gần gũi và logic về tự dạng với tính vùng nơi khai quật được trống Phú. Khi trao đổi học thuật, một số nhà nghiên cứu của Viện Khảo cổ học Trung Quốc cũng tán thành kiến giải đó của tôi. Vì thế, nếu tạm chấp nhận giả thuyết nêu trên, toàn văn dòng chữ Hán 16 chữ khắc trong vành chân đế trống Phú có thể được đọc như sau :

"CỬU CHÂN, TRỌNG LỤC QUÂN, NGŨ CÂN, BÁT LẠNG, DANH VIẾT PHÚ, ĐỆ VỊ THẬP NHẤT"
玖 甄, 重 六 鈞, 五 斤, 八 両, 名 曰 富, 第 未 十 一

Tạm dịch : Trống của bộ Cửu Chân (?), đứng hàng thứ 11 (đệ vị thập nhất), nặng 185 cân rưỡi, tên đặt là "Phú" (giầu có).  

Như vậy, chiếc trống “Phú” mang một giá trị văn hóa lịch sử rất lớn. Nó chẳng những là trống Đông Sơn thứ hai có khắc minh văn mà còn cho ta khả năng hé mở một lối ghi âm địa danh Cửu Chân bằng chữ Hán cổ hơn kiểu chữ thời Đông Hán, Tam Quốc, Lục Triều sau này. Một số vấn đề khoa học cũng được làm rõ nhờ những minh văn này, như tính địa phương của đơn vị đo lường cổ, cách đặt tên và cách sử dụng chữ Hán để ghi âm nôm…

[1] Nguyễn Duy Hinh, 1995. Dòng chữ Hán khắc trong lòng trống Cổ Loa, trong Những phát hiện mới Khảo cổ học 1995. NXBKHXH, Hà Nội, tr. 157-158.Trịnh Sinh, 2006, Thử giải mã minh văn trên trống Cổ Loa (Hà Nội), trongKhảo cổ học, số 2-2006. Nguyễn Việt, 2007, Minh văn chữ Hán trên đồ đồng Đông Sơn, trong Khảo cổ học, số 5-2007.
[2]Ngô Thừa Lạc, 1957, Trung Quốc Độ -Lượng-Hoành sử, Thương Vụ ấn thư quán, Thượng Hải, tr. 129-130.
TS Nguyễn Việt

------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

Danh nhân của làng người sang trong nước





Nguồn: Blog Gocomay

Đăng ngày: 10:05 08-08-2011

P1060546.JPG
Đình Đụn-Lai Xá, nơi An Sinh Vương Trần Liễu (Thân Phụ Hưng Đạo Vương) tổ chức luyện binh - Ảnh: Phạm Thành
Làng quê tôi thật may mắn có 3 người được phong danh hiệu nghệ nhân trong số 47 nghệ nhân đợt đầu tiên của cả nước vừa công bố vào đầu tháng 7/2011 này! (*)
Chả biết tiền bạc kèm theo danh hiệu được bao nhiêu mà thấy chú em Nguyễn Văn Nhật (ông ngoại Nhật, cụ Lang Kiệu là chú ruột của Thầy tôi, mặc dù Nhật lớn hơn tôi gần chục tuổi mà vẫn phải gọi tôi là anh) đã sắm một cái lễ rõ thịnh soạn tới thắp hương tưởng nhớ tới Thầy tôi, người đã có công dạy nghề chấm sửa ảnh (Retouche), để Nhật trở thành “kẻ cả trong làng người sang trong nước như bây giờ. Anh trai tôi báo với tôi qua điện thoại viễn liên quốc tế tin đại hỷ này!
Ngoài Nhật ra hai người nữa đều là anh họ cùng bản chi, bản cánh với tôi là các anh Phạm Thành và Phạm Đăng Hưng. Ở quê tôi xưa có cái lệ rất hay là, nếu nhà có việc hiếu, chưa cần chủ nhà báo chỉ cần biết tin thôi, là anh em bản cánh với nhau, tự tìm đến cùng gia chủ bàn bạc lo hậu sự, tiếp khách. Kể cả lúc cháy cỗ, chịu đói chứ không hề kêu ca phàn nàn bao giờ. Đó chính là những người được mệnh danh là “anh em khó nhọc”! Anh Thành và anh Hưng là hai người anh gần gũi với gia đình chúng tôi như thế!
P1060541.JPG
Nghệ sĩ Phạm Thành bên chiếc máy ảnh thời cổ - Ảnh: Hoàng Kim Đáng
Thời còn học ở Trường Điện ảnh, các bài tập ảnh của tôi bao giờ cũng đứng hàng đầu trong lớp, cũng là nhờ anh Thành bày giúp cách pha thuốc cách che chắn thêm bớt ánh sáng khi phóng ảnh... để có một bức ảnh như ý. Anh Thành mấy chục năm liền làm buồng tối ở Hội Nghệ sỹ Nhiếp ảnh tại 51 Trần Hưng Đạo - Hà Nội. Những tấm ảnh đen trắng khó khăn nhất, các đồng nghiệp chịu bó tay thì anh mới ra tay sử lý! Anh được làng nghề phong cho danh hiệu “vua buồng tối” là lý do đó. Ngoài khả năng chuyên môn anh còn là một cây hài hước có tiếng. Mồm mép của anh có lẽ trong họ không ai có thể bì được. Cũng nhờ tài ngoại giao quan hệ của anh mà việc làm hồ sơ công nhận làng nghề cho Lai Xá cũng có nhiều mau mắn hanh thông.
Ngược lại với tính cách năng nổ của anh Thành, anh Hưng lại nổi tiếng nhu mì. Tính cách cũng phản ánh cái nghề chăng? Có thể lắm chứ. Cũng có thể gần ngang ngửa với thầy tôi về môn chấm sửa ảnh. Anh Hưng đã được Đài truyền hình Hà Nội làm cả một bộ phim tài liệu với cái tên “nghề khó”. Lúc đó thầy tôi đã khuất núi. Bộ phim được nhiều khán giả màn ảnh nhỏ cả nước đón nhận và thán phục một Phạm Đăng Hưng (PĐH) không chỉ là nghệ sỹ chơi đàn violon trong giàn nhạc giao hưởng có tiếng ở Hà Thành từ thời Pháp thuộc. Còn biết thêm một PĐH với bàn tay vàng Retouche - sửa ảnh!
P1060540.JPG
Nghệ nhân Phạm Đăng Hưng đang chấm sửa ảnh (2003) - Ảnh: Hoàng Kim Đáng
Cuối năm Ất Dậu (2005-đầu 2006) từ Đức bay về Lai Xá cùng anh chị em trong gia đình tu sửa hai ngôi mộ cho song thân tôi, thấy cái ảnh của Thầy tôi, người được mệnh danh “nhất Bắc Kỳ, nhì Đông Dương” về nghề chấm sửa ảnh (**) của làng nổi tiếng từ trước 1945 mà tấm ảnh sứ gắn trên bia đá lại bị các tay Retouche hiện đại thời Photoshop làm nhẵn thín chả còn chút nếp nhăn nào trên mặt khiến tôi không cầm được nước mắt! Tôi phải mang tấm hình cấp tốc tới gặp anh Hưng nhờ anh sửa lại. Chả là Thầy tôi, với thâm niên ngót 60 năm ngồi kỳ khu chấm ảnh, từ lúc trai trẻ 13 tuổi rời làng quê ra tỉnh... cho tới ngoài 70, lúc thay áo (bốc mộ) các đốt sống lưng của Thầy tôi, do ngồi cặm cụi nhiều... đã dính liền nhau như một cây gậy trúc đen nhánh, gây khó khăn vô cùng cho việc xếp cốt vào tiểu sành.
Tôi nhớ lúc cụ Uyển (tên Thầy tôi) đã nghỉ hưu rồi mà ông trưởng phòng nhiếp ảnh của Tổng cục Hậu cần (Số nhà 18 phố Cửa Đông Hà Nội) còn tới tận nhà cạy cục thỉnh bằng được ông cụ tới làm theo diện hợp đồng hơn chục năm nữa. Hơn nửa thế kỷ làm bạn với ngọn bút lông và một miếng kính, đã có biết bao tấm hình đủ loại của những “dáng Kiều thơm” (Quang Dũng) đất Kinh kỳ hay các bậc vua quan đầu triều từ thời Bảo Đại tới thời Hồ Chí Minh đã được nhuận sắc bởi bàn tay vàng của ông cụ. Nhưng nào đã mấy ai biết tới. Thầy tôi chỉ thực sự ngưng làm việc (chấm sửa ảnh) khi không có loại bất kỳ số kính lúp nào trợ giúp được cho công việc để cụ hành nghề nữa... mới thôi.
Tên của Thầy tôi cũng được tác giả Hoàng Kim Đáng nhắc tới trong cuốn sách bìa cứng: “Lai Xá Làng Nhiếp Ảnh” do nhà xuất bản  Chính trị Quốc gia (Sự Thật) ấn hành vào năm 2004. Thế cũng vui rồi, cứ gì phải bảng vàng bia đá chốn ba quân.
P1060549.JPG
Cách đây mấy tuần có chị trưởng Ban Văn hoá - Văn nghệ ở một tờ báo lớn thuộc tốp hàng đầu trong nước gửi cho Gocomay cái còm xin được đăng một bài của tôi viết về chuyện phong danh hiệu nghệ sỹ đang tốn biết bao giấy mực và sự quan tâm của dư luận. Mừng qúa đi chứ! Được các toà báo chính thống để mắt tới, blogger tay ngang nào mà chả xúc động. Mình đồng ý cả hai tay, chí ít cũng nhắn gửi tới các đồng nghiệp từng gắn bó một thời rằng, cái thằng tha hương lang bạt kỳ hồ này vẫn luôn dõi theo từng bước đi của các bạn. Không ngờ bài báo vừa ra mắt đã có thằng cháu họ cựu phóng viên (đã nghỉ hưu) ở chính tờ báo đó nhận ra ngay ông chú mấy chục năm xa cách của mình. Rồi lại được tin biết bao anh chị em trong ngành cũng để mắt tới bài viết! Thử hỏi có phần thưởng nào hơn? Thế mới biết trời chẳng bao giờ phụ lòng người. Nếu người thực sự có tâm với quê hương xứ sở thì chả đứa hóng hớt rách việc nào có thể bôi bác, xiên sẹo mãi được.
Trở lại chuyện các “danh nhân của làng”! Anh Thành có đứa con gái áp út sang Đức thăm con trai vừa tốt nghiệp Đại học khoa Công nghệ Thông tin. Hai mẹ cháu cuối tuần lên thăm ông trẻ. Ra ga đón cháu trễ mất mấy chục phút, để các cháu phải chờ, cứ thấy áy náy mãi. Chú cháu với nhau nhưng cháu Hương (con anh Thành) chỉ kém tôi đúng 3 tuổi. Gặp cháu lần cuối từ hồi cháu sơ tán về quê (thập niên 60), lúc cháu còn quàng khăn đỏ tới trường. Nay cháu đã sắp nghỉ hưu. Chú cháu ông cháu gặp nhau mừng khôn xiết. Ôn lại biết bao kỷ niệm về quê hương. Lúc đó mới hỏi cặn kẽ được chuyện “danh nhân của làng”. Cháu thực thà khai báo, năm nay bố cháu (anh Thành) đã ngoại bát tuần rồi. Nhận được danh hiệu nghệ nhân làng nghề do nhà nước phong cả nhà ai cũng vui. Nhưng chỉ có mỗi tấm bằng không hơn không kém. Người ta bảo bố cháu đã có lương hưu nên không có tiền kèm theo nữa. Hai chú Hưng và Nhật không có lương hưu trí nên mỗi người được nhận 500.000 VNĐ kèm theo danh hiệu. Hôm đi nhận bằng cháu phải bỏ ra 350.000 mua lẵng hoa tặng mừng bố cháu để bố cháu vui...
P1060531.JPG
Cháu Hương con gái anh Thành tới thăm nhà Gocomay hôm chủ nhật - 07.08.2011 - Ảnh: Nhất Dương
Câu chuyện cháu Hương kể làm tôi cứ day dứt mãi suốt từ lúc tiễn hai mẹ con cháu ra về tới giờ. Nay tĩnh tâm ghi lại những dòng này để mọi người cùng chia xẻ. Nghĩ gì là quyền của mỗi người. Nhưng tôi cứ băn khoăn mãi chuyện chú Nhật nhận được có nửa triệu bạc, phải khao biết bao người làng tới ăn mừng (chắc khá tốn kém). Lại vẫn sắm cái lễ dâng lên vong linh Thầy tôi, để tỏ lòng tri ân người thiên cổ... mà mấy ai đã thấu hết sự đãi ngộ của nhà nước lại qúa bèo như vậy.
Có lẽ như phương ngôn ví “một miếng giữa làng bằng một xàng xó bếp” nên chẳng ai lại dám kêu ca than phiền gì. Nhưng trong lòng tôi vẫn cứ bứt dứt khôn nguôi. Còn nơi suối vàng, Thầy tôi và các bạn bè anh em của cụ (không còn biết tiêu tiền) cũng ngậm cười và hãnh diện với những đứa cháu biết ăn ở vuông tròn của mình?!
Gocomay
___
(*Phong tặng danh hiệu cho 9 làng nghề tiêu biểu
Ngày 2.7,  Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã tổ chức lễ phong tặng danh hiệu Làng nghề tiêu biểu cho 9 làng nghề, gồm: Làng nghề mộc Thái Yên (Đức Thọ, Hà Tĩnh); làng nghề dệt Phùng Xá (Mỹ Đức, Hà Nội); làng nghề mây tre đan Phong Cảnh (Nghi Phong, Nghi Lộc, Nghệ An); làng nghề nhiếp ảnh Lai Xá (Hoài Đức, Hà Nội;) làng nghề mộc Vạn Điểm (Hà Nội); làng nghề gốm Vĩnh Long (tỉnh Vĩnh Long); làng mộc Kim Bồng (tỉnh Quảng Nam) và làng lồng đèn Hội An (tỉnh Quảng Nam).
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cũng đã phong tặng danh hiệu cho 47 nghệ nhân làng nghề, 22 đơn vị kinh tế làng nghề tiêu biểu, 26 sản phẩm tinh hoa làng nghề và trao kỷ niệm chương vì sự nghiệp bảo tồn, phát triển làng nghề Việt Nam cho 27 cá nhân nhằm khích lệ, ghi nhận sự đóng góp của các nghệ nhân, các doanh nghiệp làng nghề, các cá nhân trong sự phát triển của nghề thủ công truyền thống của Việt Nam trong thời gian qua.
                                                                                                                       V.C



------------------
*****





»» xem thêm

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

Nỗi đau văn hóa Việt: Khi tên các danh nhân bị... cắt xén

Nguồn: trannhuong.com


VỀ MỘT CÁCH ĐẶT TÊN THIẾU TÔN TRỌNG DANH NHÂN
Uông Triều


Ai cũng nghĩ rằng những danh nhân của đất nước cần được  ghi nhớ, tôn trọng, cho dù ở bất kì thời đại nào. Danh nhân là niềm tự hào cho cả dân tộc. Đã có nhiều đường phố, công viên, trường học, xã, huyện, thành phố được đặt theo tên các danh nhân, để ghi nhớ công ơn của các vị ấy với lịch sử dựng nước, giữ nước hoặc đóng góp vào sự phát triển văn hóa dân tộc, nhưng không phải khi nào cũng vậy.


Đã có những con đường, trường học, công viên được mang tên Trần Hưng Đạo, Chu Văn An, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Tri Phương… nhưng thật không ngờ nhiều trường hợp tên danh nhân bị cắt xén tùy tiện để đặt tên cho các đơn vị hành chính. Xin đơn cử ra vài ví dụ: xã Hưng Đạo (huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh); xã Quốc Tuấn (huyện An Dương, TP Hải Phòng); xã Văn An (huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương); xã Tri Phương (huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn); xã Chí Công (huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Định) thậm chí còn có xã Chí Minh (huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương)…


Tại sao lại tùy tiện cắt xén tên gọi các danh nhân đã mất để đặt tên cho các đơn vị hành chính. Để cho dễ gọi chăng, tôi không tin là như vậy, vì đã có xã Lý Thường Kiệt (huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), thành phố Hồ Chí Minh và rất nhiều ngôi trường, đường phố tự hào được mang tên đầy đủ, trang trọng của các danh nhân Trần Quốc Tuấn, Chu Văn An, Nguyễn Tri Phương… mà không thấy sự bất tiện nào. Và Trần Quốc Tuấn liệu có còn cảm thấy mình được tôn trọng khi bị con cháu gọi là “Quốc Tuấn”, Chu Văn An thấy mình bị gọi là “Văn An”, Nguyễn Tri Phương bị gọi là “Tri Phương” và Hồ Chí Minh thì gọi là “Chí Minh”


Tên (hiệu) là một thứ thiêng liêng, hoặc là cha mẹ đặt cho, hoặc được phong tước vị hay phải nghĩ nát óc mới đặt ra được, không thể tùy tiện cắt xén. Thêm nữa, liệu thế hệ mai sau có cho rằng chúng ta đang tôn trọng cha ông của mình bằng cách “tục hóa” và “thường hóa” tên gọi của họ. Đó chính là một cách đặt tên thiếu tôn trọng những người đã mất, những danh nhân của đất nước, ai nghĩ đó là cách ghi nhớ và noi gương thì đang làm ngược lại.


Thứ hai ngày  8/8/2011

------------------
*****



»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này