++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn cảnh giác. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cảnh giác. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2011

Suy ngẫm: Người Trung Quốc thuê đất Việt Nam trồng... khoai lang

Nguồn: SGTT.VN
 
Người Trung Quốc thuê đất Việt Nam trồng... khoai lang

SGTT.VN - Không chỉ mua khoai lang, hiện người Trung Quốc đã bắt đầu mở chiến dịch thuê đất trồng khoai tại Vĩnh Long và xuất khẩu sang nước thứ ba.

Người trồng khoai ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đang hăng hái nâng diện tích trồng khoai lên trên 6000 ha. Khi giá khoai lang tím Nhật Bản gần 16.950 đ/kg, quá nửa dân số trên tổng số 93.758 người ở Bình Tân đang sống dựa vào nghề trồng khoai, bao gồm hệ thống canh tác ngoài đồng và hệ thống dịch vụ thu mua, đóng gói chở sang Trung Quốc vốn lành ít dữ nhiều, nhưng họ không còn lựa chọn nào khác.

May rủi phận khoa
i
Đóng thùng khoai lang xuất khẩu ở Bình Tân. Ảnh: Vĩnh Kim
Hơn 70% sản lượng khoai sản xuất tại Bình Tân và Bình Minh được xuất khẩu (trung bình mỗi tháng xuất khẩu hơn 10.000 tấn khoai), chủ yếu xuất tiểu ngạch sang Trung Quốc. Người Trung Quốc thích khoai lang tím Nhật Bản tới mức không chỉ mua mà đã bắt đầu mở chiến dịch thuê đất trồng khoai tại Bình Minh. Hiện có ít nhất 10 cơ sở mua khoai, đóng gói tại Bình Tân, Bình Minh, đóng nhãn hàng Trung Quốc. 

Một chủ doanh nghiệp ở Thuận an, Bình Minh,nói: “Hầu hết khoai lang xuất sang Trung Quốc đều theo đường tiểu ngạch. Hàng giao qua cửa khẩu, họ nắm đằng chuôi, mình nắm đằng lưỡi”. 

Trong ba loại khoai lang thì khoai lang tím Nhật Bản cho thu nhập cao nhất. Khoai trắng, khoai sữa cho thu nhập từ 100-120 triệu đồng/ha, thấp hơn khoai lang tím Nhật Bản (từ 170- 200 triệu đồng/ha). Trưởng phòng Nông nghiệp &PTNT huyện Bình Tân, ông Võ Văn Theo cho biết, hiện khoai lang là nông sản xuất khẩu sau lúa gạo của Vĩnh Long. "Nhưng xuất khẩu qua đường tiểu ngạch dễ bị thua thiệt. Cái khó của nông dân và địa phương tụi tui là không biết nhiều về thị trường xuất khẩu. Nông dân làm ăn theo kiểu ăn may, rủi ro xảy đến là bó tay”.

Ông Huỳnh Ngọc Phó, trồng khoai lang tím Nhật Bản, từng bị ép giá, đã đứng ra lập công ty cổ phần kinh doanh khoai lang, nói: “Đóng hàng chở ra biên giới phía bắc, nhưng nếu không có người đứng bên đất của họ, không rành rẽ đường đi nước bước từ Lạng Sơn đi Quảng Châu, tự lần dò để đưa hàng đi là “mang đầu máu chạy về”. Có lúc giá khoai lang tím rộ lên 16.000-17.000 đ/kg, chở ì ạch ra biên giới thì giá rớt xuống 12.000-13.000 đ/kg và nay chỉ còn 11.000 đ/ kg". 

Là người từng bị giựt nợ khi đưa hàng qua đất khách, ông Phó ngao ngán nói: “Họ sẵn sàng đặt cọc để mình chở hàng ra, khi hàng tập trung càng đông, càng kẹt cứng, mòn mỏi tại cửa khẩu thì giá nào cũng bán. Lúc đó họ mở cửa kho lạnh mua vào trữ”.

Ông Nguyễn Văn Phước, một thương nhân “giải nghệ” buôn hàng sang Trung Quốc, nói: "Ở cửa khẩu, họ có kịch bản: thủ tục thông quan khó quá, đang kiểm định siết chất lượng… dưa chỉ 1 tuần là hư, khoai không có xe lạnh thì cũng không thể lâu hơn nữa. Ai còn sức thì quay về Hà Nội bán tháo bán đổ. Tình trạng này nhiều người bị, chỉ có “cò” là sống, biết bao nhiêu người chết”. 

Ông Phó cho rằng nhà nước phải giúp vùng khoai mở thêm thị trường mới để tránh tình trạng bắt chẹt , ép giá khi Trung Quốc là thị trường duy nhất, người nông dân không có nhiều chọn lựa.

Đại gia thuê đất trồng khoai
Người nông dân không có lựa chọn nào khác là bán khoai tiểu ngạch sang Trung Quốc. Ảnh: Vĩnh Kim

Trong khi nông dân Bình Minh và Bình Tân đưa ra các mô hình trồng luân canh khoai lang - lúa hoặc cây màu khác có thể cho thu nhập cao hơn thì những người từ Trung Quốc sang chỉ cần thuê đất, chuyển đất lúa sang trồng khoai.

Theo FAO, sản lượng khoai lang hàng năm trên thế giới lên tới 127 triệu tấn, trong đó Trung quốc sản xuất nhiều nhất, 105 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, Trung Quốc chỉ có khoai lang vào tháng 8-9-10, các tháng còn lại phải nhập khoai từ nhiều nơi, trong đó có Việt Nam. 

Người Trung Quốc thuê đất tại khu Giáo Mẹo, xã Thuận An, huyện Bình Minh, với giá 4-5 triệu đồng/công (1000 m2). Nhiều nông dân đang trồng lúa, lời không hơn 3 triệu đồng/ công nên dễ dàng chấp nhận giá thuê đất của người Trung Quốc. 

“Con số đất do người Trung Quốc thuê chưa được thống kê chính xác vì hầu hết đều núp bóng người bản xứ”, bà Phan Thị Bé, trưởng phòng kinh tế huyện Bình Minh, cho biết.

Người Trung Quốc không chỉ thuê đất trồng khoai, rủ người giỏi kỹ thuật làm cho họ mà còn ra đồng tranh mua. Bà Phan Thị Bé nhận xét: “Họ sang đây thuê đất chuyển đất lúa thành đất khoai, núp bóng các nhà vựa mua khoai nhưng không mang về nước mà xuất sang nước thứ ba”. 

Năm ngoái, theo một nguồn tin, những người thuê đất kiểu núp bóng khoảng 20 ha, năm nay không chỉ thuê khu Giáo Mẹo mà bắt đầu dòm ngó đến vùng ven lộ 54 về Trà Ôn. Những đại gia nông dân làm ăn sâu với Trung Quốc bắt đầu xuất hiện. Một trong số đại gia có tiếng giàu có nhờ làm ăn với Trung Quốc đã thuê 200 công đất. Đại gia khoai lang này đầu tư khoảng 3,8 tỷ đồng và đoan chắc mức lời là 2 tỷ đồng. 

Người Trung Quốc thuê người giỏi kỹ thuật làm việc, nếu không có ai chịu làm việc cho họ sẽ là cớ để họ đưa người sang với danh nghĩa lao động kỹ thuật. Dân trồng khoai lo ngại: liệu họ sẽ mua khoai nữa không khi tiếp tục mang tiền sang thuê đất trồng khoai?

Bình Tân và Bình Minh, mỗi nơi có tới 5000 - 6000 ha khoai, sản lượng 300.000 - 400.000 tấn khoai. Với năng suất 40 tạ/ 1 công đất (1.000m2, bằng 0,1 ha), trừ tất cả chi phí phân bón, dây khoai giống và công thu hoạch… người trồng khoai có thể lời trên 15 triệu đồng/ 1 công khoai.
Hoàng Lan - Vĩnh Kim
------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011

Cảnh giác! Xuất hiện phi cơ chiến đấu gần quần đảo Trường Sa

CẢNH GIÁC!

Philippines cảnh báo thấy máy bay chiến đấu gần quần đảo Trường Sa. Nên nhớ rằng trên nhiều trang mạng của TQ cũng xuất hiện nhiều bài viết đe dọa VN, coi VN là trở ngại lớn cho sự phát triển của TQ, thậm chí nói rằng đáng để dạy cho VN một bài học nữa sau 1979...


Về sự kiện máy bay chiến đấu ở Trường Sa mà trên đây nhắc đến là phát biểu của chính bộ trưởng quốc phòng Philippines. Dưới đây là bản tin tiếng Việt của đài Mỹ VOA mà lúc này người Việt Nam chúng ta rất cần cảnh giác cao độ đối với ông bạn láng giềng to xác mà xấu tính, rằng họ có thể dùng mọi thủ đoạn độc chiếm Biển Đông.


Vệ Nhi


---------

Xuất hiện phi cơ chiến đấu gần quần đảo Trường Sa



Bộ trưởng QP Philippines Voltaire Gazmin / Ảnh: AP



Tin AP ngày 4/7 trích lời Bộ trưởng Quốc phòng Philippines cho hay một phi cơ chiến đấu chưa xác định được lai lịch bay lượn trong khu vực hoạt động của nhiều tàu đánh cá Philippines trên lãnh hải Philippines gần quần đảo tranh chấp Trường Sa, khiến các ngư phủ hoảng sợ bỏ chạy khỏi khu vực đánh cá.

Bộ trưởng Quốc phòng Voltaire Gazmin của Philippines cho biết vụ việc xảy ra ngày 4/6 ngoài khơi tỉnh Palawan là hành động xảy ra gần đây nhất xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Philippines, nơi chính phủ Manila trước đó đã tố cáo các tàu quân sự và dân sự của Trung Quốc xâm nhập bất hợp pháp.

Các ngư phủ hoảng sợ nhưng không bị hề hấn gì đã rời khỏi khu vực đánh bắt mà họ gọi là Dalagang Bukid Shoal, cách đảo Balabac của tỉnh Palawan chừng 210 cây số.

Ngư dân Philippines không xác định được lai lịch chiếc phi cơ bay lượn cách cột ăng-ten trên tàu của họ chừng 6 mét.

Bộ trưởng Quốc phòng Philippines không suy đoán lai lịch của chiếc phi cơ, nhưng nhấn mạnh đa số các vụ xâm nhập hải phận Philippines gần quần đảo Trường Sa đều do các tàu Trung Quốc thực hiện.

Manila trong những tháng gần đây cáo buộc Bắc Kinh đã xâm phạm lãnh hải của họ ít nhất 9 lần.

Cùng ngày 4/7, chính phủ Philippines loan báo sẽ tìm mua thiết bị quân sự hiện đại của Hoa Kỳ để giúp bảo vệ các tuyên bố chủ quyền của Manila tại Biển Đông. Bộ Quốc phòng nước này cho biết Manila kỳ vọng sẽ nhận được các quân cụ đầu tiên trong vòng 1 năm.

Cũng liên quân tới tình hình Biển Đông, Ngoại trưởng Nhật, Takeaki Matsumoto, vừa lên tiếng bày tỏ các mối quan ngại của Tokyo về căng thẳng tranh chấp ở Biển Đông.

Ông Matsumoto nói Nhật hy vọng các bên liên quan trong vụ tranh chấp có thể hợp tác với nhau. Lời phát biểu này được đưa ra khi Ngoại trưởng Nhật Bản hội kiến giới lãnh đạo Trung Quốc nhân chuyến thăm Bắc Kinh trong tuần này.

Nguồn: AP, AFP, Asia Times, Bloomberg News
------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

Giới lãnh đạo Trung Quốc "định hướng công luận" như thế nào?


04/07/2011 

Chiến thuật định hướng công luận của giới lãnh đạo Trung Quốc

Vừa qua, Ban Tuyên huấn của Đảng Cộng sản Trung Quốc cho lưu hành một tài liệu mật, chỉ đạo tiêu trừ mọi tiếng nói phản biện, thông tin đa chiều, ở trong cũng như ngoài nước.

clip_image001  
Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. REUTERS
 
Trong chính sách đối ngoại, Trung Quốc luôn khẳng định là một quốc gia đang phát triển với chủ trương yêu chuộng hòa bình, quan hệ tốt với láng giềng và tôn trọng tự do. Trên thực tế, Ban Tuyên huấn của Đảng Cộng sản, trong một tài liệu mật, đã chỉ đạo tiêu trừ mọi tiếng nói phản biện và thông tin đa chiều, ở trong cũng như ở ngoài nước, gây bối rối cho chính phủ.

Tháng 3/2011 năm nay, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã đưa ra một lời tuyên bố mang tính cảnh báo tại Quốc hội: Nhân dân đang căm phẫn chế độ.

Có lẽ, để đối phó với mối đe dọa này, giới lãnh đạo Trung Quốc đề ra một loạt biện pháp trấn áp, không từ một hình thức nào và không sót một đối tượng nào trong xã hội.

Các biện pháp này gồm: tăng cường kiểm duyệt thông tin, bắt giam tức khắc mọi cá nhân loan tải thông tin bất lợi cho chính phủ, gia tăng theo dõi mọi thành phần dân chúng ngay từ tuổi còn thơ và tố giác những người than oán.

Trên đây là nội dung một tài liệu mật của Ban Tuyên huấn, thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vừa được báo chí Tây phương tiết lộ, nhân chuyến công du châu Âu của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo.

Theo các trích đoạn đăng trên Danish newpaper Information của Đan Mạch thì chính sách của Trung Quốc hoàn toàn trái ngược với dáng vóc bề ngoài trầm tĩnh, hiền hòa của ông Ôn Gia Bảo.

Tài liệu mật do cơ quan tuyên truyền của Đảng Cộng sản cho lưu hành nội bộ vào giữa tháng Giêng và tháng Ba năm nay hướng dẫn cách “duy trì quân bình trong bộ máy quyền lực”, gia tăng kiểm duyệt thông tin và nỗ lực “định hướng” công luận quốc tế sao cho thuận lợi cho Trung Quốc.

Mục tiêu của chiến thuật này là duy trì “độc quyền thông tin” và ngăn chận trước mọi nguồn “thông tin nhạy cảm”. Trong tương lai, phải cải tiến các biện pháp “theo dõi thông tin” và nhanh chóng “nhận diện các nguồn tin bất hợp pháp, vô hiệu hóa và tiêu trừ mọi nguồn tin và thông tin trên các mạng Trung Quốc cũng như trên mạng nước ngoài có nội dung làm bối rối chính phủ Trung Quốc”.

Bạo lực là phương tiện

Để đạt được mục tiêu này, Trung ương chỉ thị cho chính quyền các tỉnh, huyện, xã phải lập “tổ đặc nhiệm” định hướng dư luận với nhiệm vụ tham gia thảo luận trên các diễn đàn thông tin và blog. Bên cạnh đường dây “công an mạng”, chính quyền dự kiến thành lập chức vụ gọi là “thủ trưởng thông tin” ở mọi cấp, mọi nơi từ “đại học, trường học, sở làm cho đến tận các trại hè của học sinh” để gọi là “kịp thời phát hiện bất cứ ai” chỉ trích chế độ.

Cũng trong chiều hướng này, Ban Tuyên huấn nêu lên mối đe dọa mà họ gọi là “những thế lực thù địch bên trong và bên ngoài” thực hiện âm mưu buộc Trung Quốc cải cách chính trị theo mô hình Tây phương. Tài liệu mật cho rằng đây là một hình thức can thiệp vào nội tình, đánh phá ngầm ý thức hệ chính trị và văn hóa Trung Quốc, làm hại hình ảnh của chế độ.

Biện pháp mà giới lãnh đạo đề ra để ngăn chận “âm mưu” này là phải giới hạn không gian hoạt động của các phóng viên quốc tế, các công ty tư nhân nước ngoài và phòng ngừa “kẻ thù trong nước phát biểu với báo chí ngoại quốc”.

Cụ thể là phải “làm giảm ảnh hưởng của thành phần ly khai tại Tây Tạng và Tân Cương trong công luận quốc tế”.

Theo giới quan sát, chỉ thị mật của Đảng Cộng Sản Trung Quốc gián tiếp thừa nhận tình hình nội trị đang có vấn đề trong bối cảnh mỗi năm có hơn 200 ngàn vụ dân oan biểu tình.

Mặc khác, nó cho thấy Bắc Kinh ý thức được là họ không dập tắt được khát vọng độc lập của người dân Tây Tạng và Tân Cương bằng bạo lực và đang lo ngại ảnh hưởng của phong trào Mùa Xuân Ả Rập.

Trên báo mạng công giáo châu Á, Asia News, Giám đốc tổ chức Tây Tạng Tự do tại Anh Quốc bà Stephanie Bridgen nhận định, tài liệu mật này là bằng chứng cho thấy sự “giả trá” của lãnh đạo Trung Quốc.

Ngày 28 /6/2011 vừa qua, tại Luân Đôn, Thủ tướng Ôn Gia Bảo cam kết “Trung Quốc tương lai sẽ là một nước hoàn toàn dân chủ, pháp trị, bình đẳng và công lý trong đó người dân có quyền giám sát và chỉ trích chính phủ”.

Thực tế, theo chuyên gia Stephnie Bridgen, chà đạp nhân quyền là một sách lược của giới lãnh đạo Bắc Kinh để có thể tiếp tục thống trị nhân dân Tây Tạng và nhân dân Trung Quốc.
T.A.
Nguồn: Viet.rfi.fr

------------------
*****


»» xem thêm

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2011

Nỗi đau nước Việt: Trọng Thủy và thiếu minh bạch

Nguồn: Blog Bs Ngọc

TRỌNG THỦY VÀ THIẾU MINH BẠCH 

Chính phủ ta phát ra những tín hiệu khó hiểu. Mới cho người đi dự hội thảo về an ninh ở biển đông bên Mỹ thì ngay sau đó lại ra thông cáo chung với kẻ thù rằng hai bên phản đối can thiệp của nước ngoài. Cái “nước ngoài” đây là Mỹ. Trớ trêu thay Mỹ đang muốn giúp chúng ta. Tại sao có những tín hiệu khó hiểu như thế? Tất cả có lẽ chỉ là sự thiếu minh bạch trong hành xử của những người đương quyền.

Một học giả Mỹ khi nhận định về sự hung hãn của Trung Quốc nhận xét rằng rất khó biết tại sao Trung Quốc lại hành xử côn đồ với Việt Nam trong thời gian qua. Ông nói cái khó khăn chính là Trung Quốckhông bày tỏ ý định của mình một cách nhất quán. Rất thiếu thông tin. Ông kết luận rằng sự thiếu minh bạch đã làm cho tình hình thêm căng thẳng. Ông viết về sự thiếu minh bạch của phía Trung Quốc, nhưng chúng ta cũng có thể nói sự thiếu minh bạch của phía Việt Nam. Sự thiếu minh bạch của Việt Nam có thể rất nguy hiểm. Chúng ta có quá nhiều bài học của sự nguy hiểm, nhưng hình như chính phủ không muốn học bài học nào cả.

Theo dõi những diến biến chung quanh vấn đề tranh chấp giữa ta với kẻ thù Trung Quốc trong thời gian qua, một điểm toát lên rõ ràng là sự thiếu minh bạch. Thiếu minh bạch về thông tin. Đó là một điều khó hiểu. Chính quyền này rất thích phô trương. Một cái giải Fields báo chí làm rầm rộ. Nhưng nếu chẳng có giải gì thì chính quyền im re. Chúng ta từ đó có thể suy ra rằng tốt khoe xấu che, rất đúng với truyền thống Việt Nam. Suy luận xa hơn, một chính quyền không muốn chia xẻ thông tin với người dân là một chính quyền thiếu tự tin hoặc có gì bất chính. Nếu kết quả đàm phán là tích cực thì chắc chắn chúng ta đã biết vì bản chất của chính quyền là thích phô trương và khoe. Suy ngược lại, việc dấu nhẹm thông tin là một tín hiệu cho thấy kết quả đàm phán không tốt.

Đối với những người cầm quyền thông tin là vũ khí. Những thông tin an ninh quốc phòng cần giữ mật thì có thể hiểu được. Nhưng thông tin về lãnh hải, lãnh thổ và đàm phái với kẻ thù thì người dân cần phải biết. Đất nước này là của dân tộc Việt Nam chứ đâu phải của chính phủ mà chính phủ đàm phán với kẻ thù sau lưng mình. Từ thiếu minh bạch, chúng ta có quyền đặt câu hỏi những người đang cầm tay lái con thuyền đất nước đang nghĩ gì và làm gì. Họ sẽ lèo lái con thuyền Việt Nam đi đâu?

Sự thiếu minh bạch đầu tiên là những gì phát biểu ở Mỹ. Trong hội thảo về an ninh biển Đông do một trung tâm nghiên cứu Mỹ tổ chức, Việt Nam cử một phái đoàn đi dự. Trong hội nghị đó, có 3 bài nói chuyện từ phía phái đoàn Việt Nam. Nhưng chúng ta không biết họ nói gì trong đó. Chúng ta chỉ biết họ chỉ đọc báo cáo, chứ không tham gia tranh luận hay đặt câu hỏi cho kẻ thù. Tại sao không công bố những bài báo cáo của phái đoàn Việt Nam cho người Việt biết?

Nhưng sự thiếu minh bạch đáng sợ hơn là chuyến đi của ông Hồ Xuân Sơn sang Trung Quốc. Ngay sau khi phái đoàn Việt Nam từ Mỹ về nước thì ngày 28/6 Tân Hoa Xã đưa ra một bản tin, trong đó có đoạn viết về cuộc gặp gỡ ông thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn và ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc đặc trách đối ngoại. Chúng ta chỉ biết có cuộc gặp gỡ này qua Tân Hoa Xã. Phía Việt Nam chưa đưa tin. Đến khi đưa tin thì mọi chuyện đã rồi.

Tuy nhiên, điều chúng ta quan tâm là nội dung cuộc gặp mặt đó là gì. Mối quan tâm này chính đáng, bởi vì Tân Hoa Xã lớn tiếng thúc giục ông Hồ Xuân Sơn: “thực hiện nghiêm túc thỏa thuận của cấp cao hai nước, không có những việc làm gây phức tạp thêm tình hình, không để vấn đề Biển Đông ảnh hưởng đến quan hệ hai nước”. Một cách nói trịch thượng của bề trên. Chẳng những thế, Tân Hoa Xã còn nhắc đến công hàm của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng để nói rằng Việt Nam đã công nhận Trung Quốc có chủ quyền trên các hòn đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Ai cũng biết rằng Tân Hoa Xã muốn nói với thế giới rằng ông Hồ Xuân Sơn đã tán thành chủ quyền của Trung Quốc, đã tán thành cái công hàm tai hại của ông Phạm Văn Đồng.

Trước những lời của Tân Hoa Xã, chúng ta phải hoang mang. Chúng ta muốn biết ông Hồ Xuân Sơn đã thỏa thuận gì với kẻ thù Trung Quốc? Có phải ông Hồ Xuân Sơn đã tán thành công hàm của ông Phạm Văn Đồng? Có phải ông Hồ Xuân Sơn đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc? Hàng loạt câu hỏi phải nêu lên. Ấy thế mà phía Việt Nam không có đến một lời giải thích! Tại sao không công bố cho người dân biết ông Hồ Xuân Sơn đã thỏa thuận điều gì với kẻ thù? Tại sao dấu diếm?

Ông Hồ Xuân Sơn sang gặp đối tác ở Trung Quốc không phải là chuyến đi bình thường. Báo chí mô tả ông là “đặc phái viên” của lãnh đạo cao cấp Việt Nam. Với vai tro đặc phái viên, ông đóng vai trò rất quan trọng. Trong bối cảnh kẻ thù xâm lăng, vai trò của ông còn có ý nghĩa quan trọng hơn nữa. Vậy ông là nhân vật như thế nào và chúng ta có tin tưởng vào ông hay không? Chân dung của nhân vật Hồ Xuân Sơn có thể phác họa như sau:

Sinh năm: 1956Quê quán: Quảng Trị Học vấn: 1978, Đại học Bắc Kinh (khoa Trung Văn)
Sự nghiệp:  1978: vào ngành ngoại giao; 1978-1980: Chuyên viên Vụ Trung Quốc; 1980-1983: Phiên dịch viên của ĐSQ Việt Nam tại Trung Quốc; 1983-1989: Chuyên viên Vụ Trung Quốc; 1989-1993: Bí thư thứ hai, ĐSQ Việt Nam tại Trung Quốc; 1994-1996: Phó Vụ trưởng Vụ Trung Quốc, Bộ Ngoại giao; 1997-2000: Tham tán Công sứ, Đại sứ quán Việt Nam Trung Quốc; 2000-2002: Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách đối ngoại, Bộ Ngoại giao; 2002-2004: Vụ trưởng Vụ Châu Á 1 , Bộ Ngoại giao; 2004-2007: Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Hồng Kông (Trung Quốc); 2007-2008: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia, Bộ Ngoại giao ; 2008-nay: Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; 2011: Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chúng ta thấy sự nghiệp của ông HXS không có gì xuất sắc cho lắm. Đó là sự nghiệp của một người công chức trung bình. Điều thú vị là lý lịch của ông gắn liền với hai chữ “Trung Quốc”. Chuyên viên về Trung Quốc. Phiên dịch Trung Quốc. ĐSQ Việt Nam ở Trung Quốc. Đàm phán về biên giới với Trung Quốc. Hai chữ Trung Quốc là một nét đậm trong sự nghiệp và lý lịch công chức của ông. Chúng ta cũng không đọc được một bài viết nào của ông để biết ông có hệ lý luận nào đáng chú ý, có ý tưởng gì đáng biết, và trình độ văn hóa của ông đến đâu. Trình độ văn hóa của ông có bằng TS Vũ Cao Phan không? Trong một xã hội ruỗng mục, tham ô hối lộ từ trên xuống dưới, trong cái hệ thống mà chức quyền đều được mua bán, câu hỏi đó hoàn toàn cần thiết. Với một người tầm thường và bí ẩn như thế chúng ta có tin tưởng giao cho chức vụ “đặc phái viên”? Vậy mà ông đã là đặc phái viên của lãnh đạo cao cấp Việt Nam!

Chúng ta có quyền đặt vấn đề minh bạch. Năm 1958, ông Phạm Văn Đồng nhân danh chính phủ VNDCCH gởi một công hàm đến Chu Ân Lai trong đó có đoạn “Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc”.

Tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Quốc viết “Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc”.

Không ngạc nhiên khi có người nói rằng công hàm của ông Phạm Văn Đồng là một “công hàm bán nước”.

Không ai trong chúng ta biết ông Phạm Văn Đồng gởi cái “công hàm bán nước” cho đến khi kẻ thù nó tung ra! Đến khi chúng ta biết có cái công hàm đó thì mọi việc coi như đã quá trễ. Là “chuyện đã rồi”. Đó là cái tai hại của sự thiếu minh bạch. Chỉ vì tình đồng chí và ý chí giải phóng miền Nam mà ông Phạm Văn Đồng sẵn sàng đi đêm với kẻ thù. Không biết phải dùng từ gì để nói về động thái đó.

Bài học thiếu minh bạch còn liên quan đến vấn đề đàm phán biên giới phía Bắc. Chưa một lần chính quyền công bố những thỏa thuận mà họ đã đạt được với phía kẻ thù Trung Quốc. Đến khi thông tin rò rỉ thì đã muộn. Chúng ta đã mất phân nửa thác Bản Giốc. Chúng ta đã mất một phần đất bằng tỉnh Thái Bình cho kẻ thù. Theo tôi biết trong lịch sử hiện đại chưa bao giờ chúng ta mất nhiều đất như thế. Để mất một tất đất đã là một trọng tội với tiền nhân. Để mất cả một tỉnh như thế thì gọi là gì? Lê Chiêu Thống và Trần Ích Tắc sống lại chắc còn lắc đầu chào thua cái tài của những người đương quyền. Nên nhớ rằng lý lịch ông Hồ Xuân Sơn cho biết ông ta là một trong những người đương quyền có tham gia đàm phán về biên giới với phía kẻ thù Trung Quốc.

Không người dân Việt nào không biết đến nhân vật Trọng Thủy và Mỵ Châu. Chuyện xưa kể rằng Mỵ Châu là con của An Dương Vương của nước Âu Lạc. Lúc đó Triệu Đà muốn tiến chiếm Âu Lạc của An Dương Vương, nhưng không cách gì thắng được vì Âu Lạc có nỏ thần. Triệu Đà sai con trai là Trọng Thủy sang Âu Lạc và tìm cách kết hôn với Mỵ Châu để nắm lấy bí mật quân sự. Khi nắm được bí mật, Triệu Đà xua quân tiến chiếm Âu Lạc. An Dương Vương thất trận thê thảm, nhưng cũng nhận ra con gái mình chính là kẻ nội gián. An Dương Vương giết chết con gái và tự tử.  Câu chuyện mang màu sắc thần thoại, nhưng vì đọc bài báo “nỏ thần” trên Tuanvietnam nên tôi phải nhắc truyện cổ tích. Truyện cổ tích ấy có liên quan đến sự thiếu minh bạch mà ta chứng kiến ngày nay. Không khéo Việt Nam chúng ta đang là nhà của hàng trăm Trọng Thủy thời nay. Một Trọng Thủy mà An Dương Vương mất nước, một trăm Trọng Thủy thì chắc có ngày chúng ta không có mảnh đất để gọi Việt Nam.

Bài học về thiếu minh bạch trước đây coi chừng lặp lại hôm nay. 53 năm trước, ông thủ tướng đã để lại một di sản làm nhức đầu chúng ta. Nhức đầu để xóa bỏ những con chữ của ông trên giấy trắng mực đen. Nay đến một ông thứ trưởng ngoại giao. Chúng ta không biết ông thứ trưởng đã thỏa thuận gì với kẻ thù, nhưng bài học từ công hàm của ông Phạm Văn Đồng làm chúng ta không yên tâm. Chỉ hy vọng rằng không có một Lê Chiêu Thống hay Trần Ích Tắc tân thời. Nhưng hy vọng chỉ là hy vọng bởi sự thiếu minh bạch làm chúng ta phải cảnh giác với những con người do kẻ thù đào tạo và nuôi nấng.

BSN



------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này