++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn báo chí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn báo chí. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2011

Nỗi buồn Báo chí ở Việt Nam

Nguồn: Ba Sàm


Posted by basamnews on 24.08.2011

Báo chí ở Việt Nam

Nguyễn Thanh Sơn
Vui vui: Các "nhà báo" đang về thăm đảo Bạch Long Vĩ?!

Năm 1994, về nước, tôi được nhận vào làm thực tập tại tiểu ban Tin Tham Khảo, thuộc Ban Quốc tế của Thông tấn xã Việt Nam (một số bạn hẳn còn nhớ, ở thời điểm đó, hàng ngày Thông tấn xã Việt Nam phát hành hai bản tin tham khảo sáng-chiều có đóng dấu “mật- tài liệu không phổ biến”).


Tiểu ban của chúng tôi có mười mấy người, do anh Hà Minh Huệ mới từ phân xã New York trở về làm trưởng tiểu ban (anh Huệ hiện đang giữ chức Phó chủ tịch thường trực Hội nhà báo Việt Nam, Phó Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam).


Mặc dù mang tiếng làm việc ở Ban Quốc tế của Thông tấn xã, nhưng công việc của chúng tôi chỉ đơn giản là dịch lại tin tức từ các bản tin của các hãng thông tấn nước ngoài như AP, UPI, Reuter… được chuyển về bằng máy telex (hồi đó chưa có Internet và máy fax cũng rất hạn chế). Cứ đầu giờ sáng, anh Huệ qua phòng telex lấy tin, mang về xé cho chúng tôi mỗi người một mảnh cặm cụi ngồi dịch, sau đó chừng 10h sáng thì nộp cho anh Huệ để làm bản tin chiều, đầu giờ chiều lại nhận tin để dịch, tới 3h30 chiều nộp làm bản tin sáng.
Anh Huệ là người thày đầu tiên trong quãng đời nghề báo ngắn ngủ của tôi, người cặm cụi sửa cho tôi từng lỗi dịch sai, từng dấu chấm câu. Tôi còn nhớ, sau nhiều ngày hùng hục làm việc, một buổi chiều, anh Huệ rất hớn hở cầm một tập bản tin tới bàn làm việc của tôi khoe: “Tin em dịch được đăng rồi đây này!” Tôi run bắn lên vì hồi hộp, nhưng khi nhìn thấy bản in thì lại thất vọng tràn trề: toàn bộ bài báo tôi dịch đã bị cắt còn lại đúng năm dòng, thông báo về việc một nhóm cựu binh Mỹ tới bờ biển Đà Nẵng tổ chức lướt sóng.
Suốt thời gian làm việc tại Thông tấn xã Việt Nam, tôi học được hai bài học chính về nghề báo ở Việt Nam.
Bài học thứ nhất- đừng làm ngôi sao, hãy viết như mọi người! Tôi rất ngạc nhiên khi những bài báo tôi dành tâm huyết để nghiên cứu, tìm cách diễn đạt đặc sắc lại là những bài báo không bao giờ qua được cửa biên tập, trong khi những bài báo vô thưởng vô phạt, được viết ra một cách qua quít cẩu thả lại được khen ngợi. Chúng tôi thường đùa nhau, cơ quan của chúng tôi giỏi nhất việc vo tròn phong cách viết của mọi người, là cái lò tạo ra những sản phẩm dập khuôn.
Bài học thứ hai tôi học được sau ba tháng làm việc đầu tiên, khi tôi được anh Huệ biểu dương ở cuộc họp chung ở tiểu ban về thái độ và hiệu suất làm việc. Lý do là thông thường, chúng tôi chỉ phải dịch tin đến 10h sáng, sau đó có thể nghỉ ngơi, đọc báo, uống trà hay tán láo cho đến lúc ăn trưa. Nhưng tôi thường chỉ mất hơn một tiếng để dịch một tin, nên đến 9h30 đã xong phần việc của mình và tiện tay dịch thêm vài tin nữa, kết quả là nhiều khi tới giờ  ăn tôi vẫn cặm cụi ngồi làm. Sau buổi họp, mấy chị lớn tuổi hơn nửa đùa nửa thật nói với tôi “này, buổi trưa chị còn phải đi đón con, giặt quần áo, đi chợ, nên cậu đừng có phấn đấu làm chiến sĩ thi đua như thế sếp cứ lấy cậu là làm gương là chết bọn chị”. Hóa ra nếu bạn không muốn vừa phải làm thêm nhiều việc, vừa bị mọi người ghét, thì chỉ viết giống như mọi người chưa đủ, bạn còn phải làm việc giống mọi người nữa. Khi tôi biết cách mỗi buổi chỉ dịch một tin, thời gian còn lại đọc báo, uống trà và tán láo giống như mọi người, không khí trong tiểu ban đối với tôi thay đổi hẳn, thân thiện hơn trước rất nhiều, chỉ có anh Huệ là cười cười nói “mày học nhanh quá”.
Mười bảy năm sau ngày tôi rời khỏi Thông tấn xã Việt Nam, báo chí Việt Nam đã có những thay đổi lớn. Với gần 800 tờ báo và tạp chí, hàng chục đài truyền hình trung ương và địa phương, hơn một trăm kênh truyền hình đang được phát sóng, báo chí Việt Nam, cũng giống như xã hội Việt Nam, đang loay hoay trong một giai đoạn bản lề.
Nói đến báo chí Việt Nam, trước tiên phải nói đến sự khác biệt của nó đối với báo chí ở bên ngoài. Một trong những đặc điểm đầu tiên tôi đã có dịp đề cập ở trên, đó là vấn đề uy tín. Ở những quốc gia mà tôi có dịp tới học tập hay làm việc, báo chí- trừ những tờ báo in hay kênh truyền hình cực kỳ lớn- phần lớn bị coi là “rác rưởi”. Cạnh tranh gay gắt về thông tin, sự hùng hậu của báo lá cải khiến cho sự cạnh tranh trong giới truyền thông trở nên hết sức khốc liệt, và người ta không từ một thủ đoạn nào để có được thông tin. Uy tín và sự tin cậy dành cho phóng viên ở mức đặc biệt thấp, và mỗi một cuộc phỏng vấn đối với lãnh đạo của các thương hiệu hay công ty là một cuộc đấu trí thực sự. Trong khi đó, báo chí Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn trước, được công chúng coi trọng- dù dưới tư cách là kênh phát ngôn chính thức của các cơ quan thuộc Đảng và nhà nước, hay dưới tư cách phản biện của tiếng nói quần chúng lao động.
Trên phương diện phát ngôn chính thức (“là tiếng nói của…”, “là cơ quan ngôn luận của…” – được in rõ ràng trên manchette báo), báo chí Việt Nam thường được chia thành ba nhóm: báo chí nhóm một, báo chí nhóm hai và báo chí nhóm ba. Nhóm một là những cơ quan báo chí quan trọng nhất như báo Nhân Dân, đài truyền hình Việt Nam, đài phát thanh tiếng nói Việt Nam và Thông tấn xã Việt Nam. Báo chí nhóm hai là báo chí thuộc chính quyền và đảng bộ địa phương hay các tổ chức chính trị xã hội cấp Trung ương như Hà nội mới, Đài truyền hình Hà nội, Sài gòn Giải phóng, Thanh Niên hay Lao Động…báo chí nhóm ba là các báo, tạp chí hay bản tin còn lại. Tuy có vai trò quan trọng trong việc “định hướng dư luận”, nhưng trừ truyền hình, còn các báo in thuộc nhóm một và hai lại có lượng người đọc ít hơn so với báo chí nhóm ba (tất nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ, ví dụ như báo T.T, tờ nhật báo lớn nhất và có uy tín nhất cả nước, lại chỉ được coi là báo chí nhóm ba).
Chính vì chức năng “tuyên truyền cho các chính sách của Đảng và Nhà nước” cũng như vai trò “định hướng dư luận” được coi là chính yếu, nên không có gì đáng ngạc nhiên khi trình độ chuyên môn về thông tin của báo chí Việt Nam chưa thể so sánh với báo chí khu vực, chưa nói gì đến báo chí trên thế giới.
Trong một giờ lên lớp, khi tôi đề nghị các sinh viên của tôi (đang theo học năm thứ ba  của khoa báo chí trường Đại học Xã hội và Nhân văn) thử viết một tin ngắn chừng hai trăm chữ về thông tin một công nhân bị tai nạn ngã chết trên công trường xây dựng, khai thác thông tin này trên mười hướng khác nhau, tôi rất ngạc nhiên khi tuyệt đại đa số họ không hiểu được thế nào là “khai thác trên mười hướng”, thậm chí chỉ trên khía cạnh một tin vắn thông thường, họ cũng chưa viết được. Thực ra, nếu bạn nhìn vào giáo trình giảng dạy cho sinh viên báo chí, bạn sẽ không thể trách họ được, nhất là khi bạn biết, phần lớn giáo viên giảng dạy tại khoa báo chí lại chưa từng được làm báo theo đúng nghĩa của nó, mà chủ yếu hoặc nghiên cứu về lịch sử báo chí tại các trường đại học thuộc Liên xô cũ, Cu-ba hay Đông Đức, hoặc được chuyển từ khoa Ngữ văn sang. Các tờ báo buộc phải đào tạo lại các phóng viên theo kiểu truyền nghề, từ kinh nghiệm thực tế (như anh C.K của báo S.G.T.T phải tự soạn ra một cuốn sách lấy tên là “Những gì họ không dạy bạn ở trường báo chí” để huấn luyện lại cho phóng viên) nên thỉnh thoảng lại có một đợt sóng trồi sụt về chất lượng của báo chí khi những phóng viên lâu năm nghỉ việc hoặc chuyển sang làm việc ở tờ báo khác
Báo chí Việt Nam hình thành một số nét đặc biệt khác, mà tôi tạm gọi là “văn hóa” để so sánh nó với báo chí quốc tế. Đầu tiên là văn hóa “báo không thể sai”.
Ở các nước khác, trước khi đến được với người đọc, thông tin thường phải trải qua một quá trình kiểm tra chéo nghiêm ngặt để đảm bảo tính trung thực và khách quan của nó, và nguồn tin thường được phân cấp về mức độ tin cậy (nguồn tin cấp một- nhận trực tiếp từ nguồn, được tiếp cận văn bản; nguồn tin cấp hai –nhận trực tiếp từ nguồn, không được tiếp cận văn bản; nguồn tin cấp ba- thông tin nhận qua trung gian, không được tiếp cận văn bản v.v..).
Trong khi đó, ở Việt Nam, các tờ báo rất ít khi đưa việc kiểm tra chéo thông tin như một qui trình bắt buộc của tác nghiệp báo chí, nên lấy lý do báo sắp ra nhà in, thông tin cần đưa ngay, người ta khá thoải mái trong việc cung cấp các nguồn tin thiếu kiểm chứng. Ngay cả khi đưa tin không đúng sự thật, báo chí Việt Nam cũng rất hiếm khi xin lỗi hay đăng thông tin cải chính- mặc dù luật báo chí có qui định về việc này
Thiếu sự đòi hỏi nghiêm ngặt về tính chính xác của thông tin sẽ dẫn đến thiếu cạnh tranh gay gắt về thông tin, nên báo chí Việt Nam hình thành một văn hóa “chia sẻ”, trái ngược hoàn toàn với văn hóa “độc quyền” của báo chí nước ngoài. Ở Việt Nam, thông tin có thể được các phóng viên làm việc ở các tờ báo khác nhau chia sẻ với nhau, và các phóng viên ở các tờ báo khác nhau hoàn toàn thoải mái khi cùng ngồi trao đổi hoặc phỏng vấn đại diện của một công ty.
Các phóng viên viết cùng một lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, giáo dục hay y tế hình thành các nhóm chơi với nhau khá thân thiết, và có rất ít cạnh tranh về thông tin giữa họ với nhau. Điều này là trái ngược hoàn toàn với báo chí phương Tây, nơi phóng viên của các tờ báo luôn luôn dè chừng, cảnh giác với phóng viên của các tờ báo khác mà họ coi là đối thủ cạnh tranh trực tiếp, và hầu như không có chuyện họ lại chơi với nhau theo nhóm.
Văn hóa chia sẻ này khiến cho những khái niệm như “ dành riêng cho…” (exclusive…) hầu như ít tồn tại ở Việt Nam, và “đặc quyền tiếp cận” không còn là một công cụ hữu hiệu của quan hệ công chúng (“đặc quyền tiếp cận” là một công cụ của quan hệ công chúng, khi bạn cung cấp quyền tiếp cận thông tin hoặc nguồn tin chỉ dành riêng cho một phóng viên hay một tờ báo, do đó tạo giá trị cho riêng tờ báo hay phóng viên đó).
“Văn hóa chia sẻ”, cộng thêm với văn hóa “đừng làm ngôi sao” khiến cho các bài viết thường na ná như nhau, ít có bản sắc riêng của người viết, và đặc biệt khi đã có thông cáo báo chí được soạn sẵn, thì việc các bài báo với nội dung giống nhau xuất hiện trên vài ba chục tờ báo là điều thường xuyên xảy ra. “Văn hóa chia sẻ” cũng khiến cho các tin xấu lan đi rất nhanh, và hầu như rất khó làm cái điều mà nhiều khách hàng của chúng tôi đòi hỏi-“bịt” tin xấu lại không cho phát tán ra ngoài. Khi các phóng viên quyết định “đánh” một vấn đề gì đó, họ cũng thường phát động “chiến tranh tổng lực” hay “chiến tranh trường kỳ” dựa trên sự chia sẻ thông tin trong nhóm.
“Văn hóa chia sẻ” của báo chí  Việt Nam lại dẫn đến văn hóa “báo không ăn thịt báo”- báo chí Việt Nam rất e ngại trong việc đưa ra những thông tin ngược lại với thông tin đã được đăng tải trên “các báo bạn”, cho dù biết rằng những thông tin đó có thể không chính xác. Phần lớn trường hợp, họ chỉ dùng thái độ im lặng của mình để phản ứng thông tin sai lệch, mà hầu như không bao giờ trực tiếp đứng ra chỉ trích tính tin cậy hay công khai thách thức tính xác thực các bài báo của đồng nghiệp. Có một sự “ngầm định” khi có ai đó có ý định thách thức văn hóa “báo không thể sai” của báo chí Việt Nam
Một nét văn hóa nữa chúng ta có thể nhận rõ trong thời gian vừa qua, đó là văn hóa “lề trái” và “lề phải” của báo chí Việt Nam- rất nhạy cảm về mặt chính trị, có các qui tắc và “cấm kỵ” bất thành văn và chịu sự kiểm soát chặt chẽ về mặt nội dung của các cơ quan chính quyền và tổ chức Đảng. Chuyên gia quan hệ công chúng phải nắm được “văn hóa lề phải”: các định hướng tuyên truyền và các chính sách chính trị, xã hội kinh tế trọng tâm, từ đó khéo léo lồng ghép vấn đề của mình cho phù hợp với chính sách đó, đồng thời phải hiểu được “văn hóa lề trái” những mối quan tâm và bức xúc của quần chúng, phản ánh thông qua báo chí, hiểu được ranh giới mong manh giữa hai lề và sự tế nhị của các tổng biên tập khi phải giữ một khoảng cách vừa phải với cả hai lề.
Một đặc điểm nữa của báo chí Việt Nam là văn hóa đồng dạng. Phần lớn các báo hay chương trình truyền hình của Việt Nam có nội dung tương tự như nhau, và không có sự khác biệt quá nhiều về “thương hiệu” báo chí như các tờ T.T, T.N, L.D, N.L.D… Báo chí chuyên ngành ở Việt Nam còn chưa phát triển, nội dung nghèo nàn, chất lượng bài viết không cao và lượng người đọc thấp. Đây là thiệt thòi lớn đối với ngành quan hệ công chúng, vì quan hệ công chúng chủ yếu tác động đến những nhóm đối tượng nhỏ và chuyên biệt (ví dụ như các nhà khoa học, các chuyên gia một ngành khoa học cụ thể, các chính trị gia v.v..) mà báo chí chuyên ngành, ở các nước khác, lại là công cụ đắc lực để tác động đến nhóm đối tượng này. Lý do chủ yếu, có lẽ là, thói quen nghiên cứu vấn đề của mình một cách nghiêm túc và khoa học chưa được hình thành ở Việt Nam. Khi các chuyên gia không có thói quen tổng kết những vấn đề mà mình nghiên cứu hay theo dõi, trình bày cho công chúng hay đồng nghiệp của mình dưới dạng các bài viết hay công trình có giá trị thực tiễn, thì sẽ khó có đất cho sự phát triển của báo chí chuyên ngành.
Trong rất nhiều cuộc hội thảo về nghề báo và mối quan hệ giữa quan hệ công chúng và báo chí Việt Nam, có một câu hỏi thường xuyên được nhắc tới, đó là “văn hóa phong bì”. Tôi cố giải thích cho các khách hàng của chúng tôi, những khách hàng bị ràng buộc bởi Điều luật về chống hối lộ các cơ quan và tổ chức nhà nước (báo chí Việt Nam, do nhà nước sở hữu và quản lý, nằm trong phạm vi của điều luật này), nguồn gốc của văn hóa này.
Năm 1988, khi tôi rời khỏi Việt Nam, tôi đang nhận tiêu chuẩn tem phiếu hạng N (Nhân dân). Tiêu chuẩn này cung cấp cho tôi hàng tháng một khẩu phần là 13 kg gạo (được tăng lên 18 kg khi tôi vào học đại học), 100 gram thịt (có giá trị chuyển đổi sang 200 gram sườn hay 150 gram mỡ), 500 gram đường và 0.5 lít nước chấm. Với các tiêu chuẩn tem phiếu khác (A-B cho cấp Bộ/Thứ trưởng, C cho cấp Vụ trưởng, D-E cho cấp trưởng phòng, chuyên viên, cán sự), khẩu phần có khá hơn, nhưng tựu trung cũng vẫn là một khẩu phần chết đói. Để giúp cán bộ của mình có thể tồn tại mà không suy nhược đến chết, các cơ quan nhà nước phải có “kế hoạch 3”, bằng mọi cách tăng khẩu phần ăn cho cán bộ của mình. Tuy vậy, danh chính ngôn thuận các “quĩ đen” như vậy không được công nhận, và phân chia các quĩ như vậy cũng rất phức tạp. Cách chia đơn giản nhất là ở các cuộc họp, mỗi người dự họp được phát một cái phong bì, trong đó có một số tiền nhỏ. Cứ như vậy, hình thành một thói quen, thậm chí là một văn hóa, đó là khi tới dự các cuộc họp, các đại biểu đều được phát một phần quà nhỏ hoặc một phong bì có tiền.
Khi tôi làm việc ở Thông tấn xã, chúng tôi có một quĩ nhỏ, do đóng góp của cán bộ trong ban đang làm việc ở các phân xã nước ngoài, quà của địa phương khi chúng tôi đi công tác v.v.. tất cả được cho vào một “quĩ đen” được dùng vào các việc hiếu, hỉ, thăm nom người ốm và, chia đều cho các cán bộ của tiểu ban dưới dạng phong bì trong các cuộc họp. “Miếng bít-tết mà quí vị đang ăn trong bữa trưa nay”- tôi thường nửa đùa nửa thật nói với họ-“gấp đôi số thịt mà tôi được ăn trong cả tháng, cho nên đừng giận dữ khi chúng tôi bắt buộc phải tìm cách để tồn tại”. Phần lớn các bạn có lẽ còn nhớ câu nói quen thuộc của thời đó “nhà văn-nhà báo-nhà giáo= nhà nghèo”
Chính vì hiểu được lý do bắt nguồn của văn hóa đó, nên trong một thời gian dài, tôi không cảm thấy có vấn đề gì khi trong các cuộc họp báo, các phóng viên nhận một phong bì với một số tiền nhỏ. Chúng tôi coi số tiền nhỏ đó là số tiền bù cho chi phí xăng xe đi lại của phóng viên, những thứ chúng tôi biết tòa soạn sẽ không bao giờ hoàn trả ngược lại cho họ. Dù có nhận phong bì đó, phóng viên cũng không có bất cứ một trách nhiệm nào về nội dung bài viết, về thái độ trong cuộc họp báo v.v..
Điều đáng tiếc là, cùng với thời gian, văn hóa phong bì đã bị biến tướng bới một số công ty quan hệ công chúng hay một số khách hàng coi việc “mua bài” của phóng viên là công việc chính của chuyên gia quan hệ công chúng. Các phóng viên đã tức giận kể cho tôi nghe, trong buổi họp báo của một công ty kinh doanh bất động sản, người phát ngôn của công ty đã viết lên bảng số fax của công ty mình và bảng giá của các bài viết- hỡi các phóng viên, hãy fax bài viết của bạn tới cho chúng tôi và chúng tôi sẽ trả tiền cho các bạn dựa vào nội dung ca ngợi của bài viết! Chúng tôi sẽ đếm chữ để trả tiền, các bạn hãy cố gắng lên! Cho dù làm các nhà báo chân chính tức giận, không thể thừa nhận rằng có một số nhà báo đã bị ảnh hưởng, và “phong bì” trở thành nguồn thu nhập chính của họ, đặc biệt là khi tờ báo không đủ  sức nuôi sống họ. Cho nên, chúng tôi đã gặp cả hai trường hợp, khi thì có phóng viên kiên quyết không nhận phong bì có số tiền nhỏ kia, lúc lại có phóng viên thẳng thừng hỏi sao không trả tiền cho họ “kiếm chút cháo” khi mà chúng tôi đã lấy tiền từ khách hàng để “có cơm ăn”.

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

Tin lạ, hay là Trung cộng yêu cầu thực thi "định hướng dư luận"(?!)

Nguồn: VOA


Đôi lời với bạn đọc:


Chuyến đi của ông Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn vài tháng trước đây mà các trang mạng trong nước xôn xao một thời gian, trong đó có nội dung "hai bên cam kết định hướng dư luận...", phải chăng đây là thời điểm Trung cộng muốn phía Việt Nam thực hiện?


Tiêu đề bài báo dưới đây nói lên tất cả; có vẻ như đã đến lúc Trung cộng công khai ép Việt Nam buộc phải "phát ngôn" theo ý họ?


Sự phụ thuộc của Việt Nam đối với Trung cộng trên nhiều lĩnh vực thì đã rõ, nhưng nếu sự phụ thuộc về báo chí mà diễn ra như "yêu cầu" của Trung cộng như trong bài báo này, thì đây sẽ là điều khủng khiếp nhất mà người Việt Nam phải cảnh giác; nếu điều này thực sự diễn ra, thì đồng nghĩa với việc bị quy phục và chấp nhận làm nô lệ.

Nguy cơ thực sự đã đến với Đất nước và nhân dân Việt Nam?
---------------------------------------

Thứ Năm, 18 tháng 8 2011

Giới chức cấp cao TQ kêu gọi hợp tác giữa các tờ báo Việt-Trung

                              

Bản tin hôm thứ Tư của hãng tin Tân Hoa Xã của nhà nước Trung Quốc cho biết một giới chức cao cấp của Đảng Cộng Sản Trung Quốc kêu gọi tăng cường hợp tác giữa các tờ báo quan phương của hai nước. 

Bản tin nói rằng ông Lưu Vân Sơn, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, kêu gọi như vậy trong lúc tiếp kiến phái đoàn của báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam. 

Bản tin cho biết thêm rằng ông Thuận Hữu, Tổng Biên tập báo Nhân dân, tán đồng lời kêu gọi vừa kể và cam kết tăng cường các hoạt động giao lưu và hợp tác với tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

Tam Minh hũ nút

Nguồn: trannhuong.com


TAM MINH HŨ NÚT
Trương Tuần




 

------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

Thông tin về Nguyễn Xuân Diện và Lê Dũng xin được họp báo

Nguồn: Blog Nguyễn Xuân Diện



TÔI CŨNG ĐÃ NHẬN ĐƯỢC VĂN THƯ TRẢ LỜI CỦA CÔNG AN HÀ NỘI


Thưa chư vị.

Sáng nay, tôi đã đến số 66 Ngõ Thông Phong, đường Tôn Đức Thắng, HN để nhận thư hồi âm của Ông Giám đốc Công an Tp Hà Nội. Theo tôi được biết, văn thư này chỉ được gửi tới tôi và anh Lê Dũng. Dưới đây là văn thư của Công an Hà Nội trả lời công dân:


 


Chiều qua, chúng tôi là Nguyễn Xuân Diện và Lê Dũng cũng đã đến nộp Đơn xin phép tổ chức họp báo tại Sở Thông tin Truyền thông Hà Nội, số nhà 185 Giảng Võ, HN. Nhân viên của Sở đã đưa chúng tôi lên tầng 4. Chúng tôi được Ông Giám đốc Sở là Phạm Quốc Bản và ông Trưởng phòng báo chí của Sở tiếp. Sau khi giới thiệu về bản thân và lý do đến Sở, chúng tôi trình bày vấn đề.

Hai anh em trước giờ lên đường sang Sở Thông tin truyền thông HN
Sau khi chúng tôi nói xong, ông GĐ nói ngay: Tôi không đồng ý họp báo.Ông còn nói: Khẩu chiến với nhau chẳng giải quyết được gì! Tuy nhiên ông cũng nói rằng: Họp báo là quyền của công dân. Ông còn nói với chúng tôi về bối cảnh đất nước, về bản thân ông là bộ đội chống  Mỹ, còn ông Trưởng phòng Báo chí của ông (cùng ngồi tiếp) là cựu chiến binh chống Tàu năm 79...Chúng tôi nhắc ông đi vào việc chính của cuộc gặp.

Ông Phạm Quốc Bản nói với chúng tôi việc này nên giải quyết nội bộ, và khuyến nghị chúng tôi trực tiếp gặp bên công an để cung cấp dữ liệu. Ông nói: Các anh có thể  kiện vụ này ở Thanh tra Bộ Công an và lãnh đạo Bộ Công An. Các anh cũng nên gặp và phản ánh sự việc đến Ban Tuyên Giáo trung ương.

Tuy nhiên, tôi nói với ông Giám đốc Sở Thông tin Truyền thông rằng, vì Ông Giám đốc Sở Công an Hà Nội tổ chức họp báo hôm 2/8/2011, chúng tôi không được mời tham dự, và các báo chí đã đăng. Bạn đọc các báo có thể nghĩ các nhân sĩ trí thức vu oan cho một số chiến sĩ công an Hà Nội, vì vậy chúng tôi muốn tổ chức một cuộc họp báo nhằm cung cấp thêm thông tin đầy đủ, xác thực về sự kiện biểu tình yêu nước sáng 17.07.2011 đồng thời phản hồi một số thông tin chưa chính xác chưa đúng sự thật mà Công an Hà  Nội đã thông báo đến giới báo chí. Còn việc đề đạt với Thanh tra của Bộ và tới Ông Bộ trưởng Bộ Công An Trần Đại Quang thì là theo kênh khác.

Buổi họp báo này, chúng tôi muốn mời phóng viên các báo chí và hãng thông tấn, cơ quan truyền thông trong nước và nước ngoài có quan tâm đến dự; đồng thời cuộc họp báo cũng mời những người đã ký tên vào các Thư đề ngày 19/7 và 26/7 gửi Giám đốc Công an Hà Nội tham dự.


Được biết, trong ngày hôm nay, ông Giám đốc Sở Thông tin Truyền thông HN sẽ trả lời đơn xin phép tổ chức họp báo của chúng tôi bằng văn bản chính thức. Chúng tôi sẽ sớm thông báo tới chư vị sau.

Nguyễn Xuân Diện - Lê Dũng
------------------------------
Quý-Blog:
Sau đây là một comment trên Blog Nguyễn Xuân Diện nói về trình tự, thủ tục để tổ chức một cuộc họp báo:

Khách ẩn danh nói...

Thư gởi TS NX Diện

Thủ tục cấp giấy phép tổ chức họp báo trên địa bàn thành phố Hà Nội (Ngày cập nhật : 07/05/2010)
1. Thẩm quyền: Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội.
2. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh:
- Cơ quan, tổ chức, công dân của thành phố Hà Nội.
- Cơ quan, tổ chức, công dân của địa phương khác có nhu cầu tổ chức họp báo trên địa bàn.
- Cơ quan đại diện tổ chức phi chính phủ, tổ chức kinh tế, văn hóa, khoa học, tổ chức tư vấn nước ngoài, công ty, xí nghiệp của nước ngoài (gọi tắt là cơ quan nước ngoài).
3. Hồ sơ:
- Công văn đề nghị được tổ chức họp báo của cơ quan, tổ chức, pháp nhân có nhu cầu họp báo nêu rõ nội dung, mục đích, thời gian địa điểm, người chủ trì họp báo.
(Đơn vị xin phép phải có văn bản chứng minh tư cách pháp nhân (bản sao có giá trị pháp lý), danh sách cơ quan báo chí mời tham dự họp báo, thông cáo báo chí; Trong trường hợp họp báo công bố, giới thiệu triển lãm, biểu diễn nghệ thuật, thông tin về sản phẩm liên quan đến sức khoẻ con người như sản phẩm sữa, thuốc, sản phẩm chức năng.... thì cần bổ sung giấy đăng ký chất lượng sản phẩm hoặc văn bản của cơ quan chuyên ngành có ý kiến về chất lượng sản phẩm, nội dung triển lãm hoặc giấy phép công diễn).
4. Thời gian giải quyết:
- Tổ chức, công dân muốn họp báo phải báo trước bằng văn bản chậm nhất là hai mươi tư (24) tiếng đồng hồ trước khi họp báo.
- Sở Thông tin và Truyền thông có văn bản trả lời trong thời hạn chậm nhất là sáu (6) tiếng đồng hồ trước khi họp báo.
5. Các khoản phí theo quy định: không có.
6. Cơ sở pháp lý:
- Luật Báo chí ngày 28/12/1989.
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí ngày 12/6/1999.
- Nghị định số 67/CP ngày 31/10/1996 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động thông tin, báo chí của phóng viên nước ngoài, các cơ quan, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam.
- Nghị định 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí.
- Thông tư Liên bộ số 84/TTLB của Bộ Văn hóa – Thông tin và Bộ Ngoại giao ngày 31/12/1996 hướng dẫn thi hành Quy chế hoạt động thông tin, báo chí của phóng viên nước ngoài, các cơ quan, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam.

http://luattructuyen.net/vietnamese/articles/291/Thu_tuc_cap_giay_phep_to_chuc_hOp_bao_tren_Di%CC%A3a_ba%CC%80n_tha%CC%80nh_pho%CC%81_Ha%CC%80_No%CC%A3i.1147.html

p/s Để anh tham khảo; đăng hay không anh tùy nghi nhé. Họp báo không cần làm "đơn xin" mà chỉ cần công văn. Các nghệ sĩ vẫn họp báo với tư cách cá nhân.


------------------
*****



»» xem thêm

Vậy là, chưa đến nỗi nào!

Nguyễn Hữu Quý

Theo thông tin từ bạn đọc và Blog Phạm Viết Đào, trang Web của ông Nguyễn Sinh Hùng đã được thay banner, mà theo như bác Trần Nhương, chủ trang web trannhuong.com là: TUYỆT ĐẸP!

Đáp lại sự phấn khởi của bác Hồ Sỹ Thạo, trong nội dung comment ở bài Trang Web của ông Nguyễn Sinh Hùng coi thường dư luận hay cố tình quên 2 quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa trên bản đồ?, Quý-Blog xin trích lại ý kiến của bác như sau:


Hồ Sỹ Thạo nói...
Bác Quý và Bà con ơi, Tin 'mừng rú' đây: TNc báo cái banner Nguyễn Sinh Hùng sáng sớm nay đã được sửa rồi. Thiệt là ko uổng công của các bác Nguyễn Hữu Quý, Trần Nhương, Phạm Viết Đào và bình loạn của Pà con... 
PS: NguyenSinh các hắn đ*'* thèm cảm ơn báo "Lề trái", hề hề?!
TNc: Thế là mấy trang xã hội, blog, web cá nhân cũng có tác dụng đấy chứ. Vậy mà báo QĐND lại cho là “rác rưởi”!

Thưa bác Hồ Sỹ Thạo và bạn đọc, vậy là cũng chưa đến nỗi nào, đúng không nào?

Quý-Blog xin đăng lại 2 tấm ảnh chụp banner trước và sau khi trang web của ông Nguyễn Sinh Hùng đã sửa lại.

Mặc dù không nhận được vài lời cám ơn từ những người phụ trách trang web của ông Nguyễn Sinh Hùng, nhưng để lịch sự, ta cũng nên cám ơn họ vì đã biết nghe công luận.

Ta lại tự thấy mình, đâu phải là… “rác rưởi”, he he!

 banner mới
 banner cũ


09.8.2011



------------------
*****



»» xem thêm

Báo chí đâm-chém-giết-hiếp

Nguồn: Bauxite Việt Nam
09/08/2011

Báo chí đâm-chém-giết-hiếp


PDT
imageMở đầu, xin kể chuyện anh ninh làm việc với tôi, sau khi tôi ký kiến nghị trả tự do cho Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ ở phiên sơ thẩm. Nhưng tên tôi xin viết tắt để tránh bình luận trên mạng, chứ không phải sợ an ninh vì khi kể ra sự việc, an ninh biết tôi là ai.

Mấy anh an ninh mời tôi ăn sáng, bởi cũng chỗ quen biết trước. Sau buổi ăn sáng-trò chuyện-làm việc, tôi muốn trả tiền thì các anh an ninh không cho. Nói chung buổi ăn sáng-trò chuyện-làm việc diễn ra lịch sự. Các anh hỏi nhẹ nhàng nhưng thẳng thắn, tên tôi trong bản Kiến nghị là tôi ký hay ai đó mạo danh? Tôi cũng nói thẳng, tôi ký.

Tôi giải thích, ký Kiến nghị trả tự do cho Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ không có nghĩa, tôi hoàn toàn đồng ý với các quan điểm của Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ. Có một số quan điểm và phương pháp thể hiện tôi không tán thành. Nhưng tôi Kiến nghị trả tự do cho Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ bởi quyền bày tỏ quan điểm cá nhân được pháp luật bảo vệ. Và còn vài lý do cụ thể sau.

Phiên tòa làm xấu hình ảnh của đất nước, có hại cho đất nước. Ngay hình ảnh phiên tòa, Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ áo vét trang trọng và luôn ngẩng cao đầu, còn các chiến sỹ công an và quan tòa luôn cúi đầu hoặc nhìn lơ láo. Tôi phản đối phiên tòa còn muốn gián tiếp phản đối điều tra, từ việc bắt Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ với hai bao cao su trong khách sạn ở thành phố Hồ Chí Minh; cấp Bộ mà làm quá kém cỏi, xử lý những vụ tương tự thì ở Cần Thơ, công an cấp phường và quận làm khéo hơn. Nhưng tôi nghe dư luận có ý kiến cho rằng, tòa án và an ninh về nghiệp vụ không quá dở như thế, mà chắc không tán thành vụ án nên “làm như phá” vậy. Do đó, tôi thấy cần hủy bản án, đình chỉ điều tra, trả tự do cho Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ. Sau đó, muốn làm gì thì tính toán cho chu đáo hơn.

Các anh an ninh bảo, những suy nghĩ của tôi, nếu tôi cho các anh biết hoặc phản ánh bằng con đường hành chính thì hay hơn. Tôi trả lời, liệu có ai nghe không, các anh là chỗ quen biết thì nghe nhưng nhiều cấp trên của các anh, suốt ngày họp hành và ăn nhậu có còn thời gian để nghe ý kiến của người như tôi không? Các anh không trả lời, nhưng tôi cũng bảo, dù sao về sau nếu có chuyện tương tự tôi sẽ bày tỏ ý kiến với các anh. Các anh dặn tôi, đừng để kẻ xấu lợi dụng, thì tôi cũng đồng ý và nhờ luôn các anh, ý kiến của tôi có mục đích trong sáng, nếu ai lợi dụng cho mục đích xấu thì mong các anh hiểu cho và khẳng định giùm, trách nhiệm thuộc về người lợi dụng.

Khi ký vào bản Kiến nghị trả tự do cho Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ, tôi còn muốn bày tỏ quan điểm trên bình diện rộng hơn, để xây dựng xã hội tốt đẹp thì phải nhân ái với con người, tôn trọng con người, tôn trọng cá tính và quan điểm cá nhân. Tôi phản đối những hành vi hạ nhục con người. Trong lĩnh vực truyền thông, tôi phản đối thông tin miêu tả “đâm-chém-giết-hiếp”.

Nên sau phiên phúc thẩm xử Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ, tôi kinh ngạc khi phải xem phóng sự trên VTV1 tối 4/8/2011, theo tôi là thuộc loại “đâm-chém-giết-hiếp” vì muốn hạ nhục một con người, thậm chí nhiều hơn. Tôi bất bình vì VTV1 sử dụng tiền của dân đóng thuế, trong đó có thuế thu nhập cá nhân và thuế kinh doanh của gia đình tôi, mà lại làm một phóng sự kém văn hóa như thế. Dù phóng sự ấy bắt đầu từ phiên tòa, không từ lúc khởi nguồn vụ án là vụ bắt Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ với hai bao cao su đã sử dụng ở khách sạn, thì tôi cũng cho rằng đó là phóng sự “kéo dài hai bao cao su đã sử dụng” mà thôi. Tại sao phải kéo dài hai bao cao su đã sử dụng ra trên VTV1 như vậy, ai tổ chức, có vui sướng gì hay lợi ích gì cho gia đình ai đó (cha mẹ, vợ con hay chồng con) thì tôi không biết, cũng như không biết được những say mê miêu tả “đâm-chém-giết-hiếp” khác trên báo chí quốc doanh nói chung.

Hoặc bài của ông Đại úy Nguyễn Văn Minh trên báo Quân Đội Nhân Dân số ra ngày 31/7/2011 khi hồ đồ cho rằng, thông tin trên mạng xã hội là rác rưởi, theo tôi cũng thuộc loại đâm-chém-giết-hiếp. Bởi vì nhằm mục đích hạ nhục con người.

Lâu nay dư luận vẫn phê phán báo chí “đâm-chém-giết-hiếp”, thường tập trung vào nghĩa đen. Nhưng dân gian đã biết “lời nói là đọi máu” hoặc “giết người không gươm”, thì báo chí “đâm-chém-giết-hiếp” không chỉ khi miêu tả những hành vi trần trụi của bản năng hoang dã, mà còn có khi dưới nhiều hình thức bóng bẩy, vẻ cao đạo. Loại sau lại thường tùy tiện theo cảm tính, a dua vô căn cứ, trống không như “chó sủa bóng trăng”, kiểu chửi đổng “chủ nghĩa tư bản thối nát”, nhưng sự lăng nhục con người, hủy hoại đạo đức xã hội thì rất nghiêm trọng.

Cần Thơ ngày 7/8/2011
PDT
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

------------------
*****



»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này