++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tri thức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tri thức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2011

Vấn đề Biển Đông: VN còn mỏ vàng tri thức Việt kiều

Nguồn: Beenet.vn
06/07/2011 06:58:04
 
Xét về kỹ thuật đưa thông tin, Trung Quốc đạt được hai yếu tố: nhanh nhạy và nhiều. Nhưng họ không có sự thật. Việt Nam đang giữ nhiều bằng chứng khẳng định chủ quyền Biển Đông. Chúng ta có thể củng cố thêm tư liệu nhờ sự đóng góp của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Hai cuộc trao đổi của Bee.net.vn với TS Vũ Cao Phan, nhà nghiên cứu quan hệ Việt - Trung và Đại tá Quách Hải Lượng, nguyên tùy viên quân sự Việt Nam tại Trung Quốc được thực hiện độc lập. Nhưng khi nói về vấn đề quảng bá thông tin chủ quyền của Việt Nam, hai nhà nghiên cứu có những suy nghĩ tương tự nhau.

Trung Quốc bài bản nhưng không có sự thật


TS Vũ Cao Phan nhắc tới lệnh cấm đánh cá vào mùa cá đẻ của Trung Quốc trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam vào năm 1999, mở đầu cuộc trao đổi với Bee.net.vn. Ông nói, khi Trung Quốc đưa ra yêu cầu vô lý đó, Việt Nam đã phản đối. Phía Trung Quốc không phản ứng lại.


7 năm liên tiếp, Trung Quốc vẫn tuyên bố, ngư dân Việt Nam vẫn đánh bắt cá bình thường trên những vùng biển nói trên. Hầu như không có chuyện gì xảy ra.


Đến năm thứ 8, bắt đầu có một vài vụ tàu của ngư dân Việt Nam bị bắt giữ, thu ngư cụ. Năm thứ 9, thứ 10, thứ 11, số lượng những vụ bắt giữ tăng lên và trầm trọng hơn. Đồng thời vào những năm này, Trung Quốc công bố đường lưỡi bò, không dựa trên bất cứ cơ sở pháp lý hay khoa học nào.

Đảo Sinh Tồn, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Đảo Sinh Tồn, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Về sự xuất hiện của bản đồ lưỡi bò, theo TS Vũ Cao Phan, nó lần đầu xuất hiện trên bản đồ của Quốc dân Đảng năm 1947. Nhiều năm sau giải phóng, Trung Quốc hầu như không đề cập tới cái lưỡi bò này. Rồi dần dần, nó xuất hiện trên  những cuốn sách hướng dẫn, sách du lịch, sách giáo khoa…. Cách đây 4 năm, họ vẽ đường lưỡi bò trên bản đồ và năm vừa rồi thì đưa ra Liên hợp Quốc.

“Đó là cách Trung Quốc tạo ấn tượng dần dần. Mỗi tuyên bố đều năm trong chiến lược và họ thường hành động một cách bài bản. Họ nói mà không làm ngay không có nghĩa là họ từ bỏ ý định” – TS Vũ Cao Phan nhấn mạnh.
 
Đại tá Quách Hải Lượng bổ sung, năm 1982, ông đã mua được bộ sách 6 cuốn  thể hiện những dự định sai sự thật của Trung Quốc về Biển Đông. Đáng chú ý, hai cuốn "Biển Đông là của Trung Quốc" là của một học giả Trung Quốc có tiếng, ông Quách Mạt Nhược. Bộ sách được dịch ra tiếng Anh và tiếng Pháp.

Ông Quách Hải Lượng nhận xét: “Các nhà khoa học Trung Quốc viết rất nhiều bài báo, cuốn sách về Biển Đông như vậy. Từ những năm 1980, họ đã tự viết tới 600-700 tài liệu về Biển Đông. Lúc đầu đó là những tài liệu “lưu hành nội bộ”, dần dần Trung Quốc cho tuyên truyền rộng rãi. Xét về kỹ thuật đưa thông tin, họ làm được hai điều: nhanh nhạy và nhiều. Nhưng họ không có yếu tố cơ bản nhất là sự thật”.


Việt Nam chưa dùng tới “mỏ vàng” tri thức từ nước ngoài


Việt Nam có cơ sở pháp lý và lịch sử để khẳng định chủ quyền trên Biển Đông nhưng chưa thông tin tuyên truyền tốt. TS Vũ Cao Phan kể: “Nhiều người bạn từ Anh, Úc đã nổi cáu với tôi và nói rằng: Trung Quốc rất tích cực tuyên truyền về vấn đề Biển Đông theo hướng có lợi cho mình, trong khi Việt Nam hầu như không nói gì cả khiến dư luận thế giới dễ hiểu là lẽ phải thuộc về Trung Quốc”.


Phải khẳng định rằng, việc tuyên truyền của Việt Nam chưa có hệ thống, liên tục và chưa khai thác hết được nguồn tri thức.


Ông dẫn chứng: “Tại Hội thảo về an ninh Biển Đông do Trung tâm nghiên cứu các vấn đề quốc tế và chiến lược của Hoa Kỳ tổ chức cuối tháng 6/2011, nhiều Việt kiều đã tham dự, nhiều hơn cả số đại biểu đến từ trong nước. Tôi tin, những người Việt Nam ở Úc, Pháp, Mỹ, chỉ cần được kêu gọi, họ sẽ hết lòng nghiên cứu, tìm hiểu, đóng góp tư liệu… và điều quan trọng là góp phần giúp cho thế giới hiểu rõ sự thật.
 
Câu chuyện của Đại tá Quách Hải Lượng củng cố thêm cho nhận định trên. Ông kể, khi Pháp rút khỏi Đông Dương, hai thứ họ quan tâm hàng đầu là bản đồ địa chất toàn Đông Dương và bản đồ khí tượng toàn Đông Dương.  Đó là nơi lưu giữ nhiều tư liệu về chủ quyền Biển Đông.

“Người Việt Nam ở nước ngoài, rất nhiều người yêu nước, có trí tuệ, có nhiều tư liệu hay. Người nước ngoài cũng có những hiểu biết, tư liệu về Hoàng Sa, Trường Sa. Dường như chúng ta vẫn chưa tận dụng được nguồn chứng cứ này” - ông Quách Hải Lượng nói.


“Thời cơ của chúng ta”


Người Việt Nam bao giờ cũng đặt Tổ quốc lên trên
, TS Vũ Cao Phan và Đại tá Quách Hải Lượng đều dựa trên cơ sở đó mà tin rằng: Những sự kiện xảy ra thời gian gần đây có thể trở thành cơ hội để người dân trong nước, người Việt Nam trong nước và nước ngoài tìm được sự đồng thuận. Đồng thời, đây là cơ hội để soi lại chính mình, trong mối quan hệ với người Việt Nam ở nước ngoài, trong mối quan hệ với Trung Quốc.

TS Vũ Cao Phan cho rằng, người Việt Nam, dù ở trong nước hay ngoài nước, dù theo quan điểm nào cũng sẽ đồng tâm hiệp lực vì lợi ích của dân tộc. Vấn đề là, phải có chủ trương đúng, hành động tích cực từ những người có trách nhiệm...


Đại tá Quách Hải Lượng đặt vấn đề, đã đến lúc Việt Nam nghĩ tới một chiến lược rõ ràng ứng xử với Trung Quốc. Nước Trung Quốc lớn, dân Trung Quốc đông nhưng lãnh đạo Trung Quốc và lãnh đạo Việt Nam ngang hàng bình đẳng.


“Nhìn cách làm của người Trung Quốc, tôi hi vọng lãnh đạo Việt Nam cũng sẽ có những phương cách tạo được tiếng nói chung, có trọng lượng của quốc gia. Tuyên truyền về chủ quyền là quyền của mỗi quốc gia. Phải để người dân Việt Nam hiểu đất nước mình, để nhân dân thế giới hiểu sự thật, lẽ phải thuộc về Việt Nam mới huy động nội lực của dân tộc Việt Nam cũng như sự ủng hộ của thế giới”.


Hoàng Hạnh
TIN LIÊN QUAN

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2011

Niềm tin và lựa chọn

Nguồn:tiasang.com.vn
08:34-22/06/2011
Giáp Văn Dương

Phong trào Khai sáng TK18 nổi bật bởi tinh thần
"Hãy dám biết và hãy dám hoài nghi!"
Ảnh: Bức tranh "Một triết gia giảng bài bên mô hình
vũ trụ" của họa sĩ Joseph Wright (1734 – 1797)
Khi niềm tin được xác lập trên cơ sở chân lý và được thẩm định bởi sự hoài nghi lành mạnh, con người sẽ làm chủ được lựa chọn của mình, do đó làm chủ được bản thân mình. Khi đó, xã hội sẽ tự động chuyển từ xã hội vị thành niên – xã hội cam chịu áp đặt, sang xã hội trưởng thành – xã hội dân chủ, văn minh, bình đẳng.
 
Niềm tin

Niềm tin là kết quả tác động của chân lý, hoặc những giá trị phổ quát có ý nghĩa tương tự chân lý, lên nhận thức của con người. Người ta có niềm tin khi cho rằng đó là điều đúng, điều tốt, điều đẹp đẽ - những biểu hiện của chân lý.

Niềm tin thông minh cũng phải luôn được xem xét lại bởi hoài nghi và bổ sung thêm bởi chân lý trong một tiến trình biện chứng. Nếu không, niềm tin sẽ thoái hóa trở thành niềm tin mù quáng.
Niềm tin khác với Đức tin. Đức tin có thể là kết quả của một màu nhiệm, một bản năng, một quán tính, một giáo điều, hoặc tệ hơn là một sự lười biếng. Đức tin có được thông qua sự tin tưởng tuyệt đối không cần nghi vấn. Nhưng niềm tin thì khác, niềm tin bao giờ cũng đặt trên cơ sở chân lý, và mang trong mình những vết sẹo của hoài nghi, xác lập được thông qua một quá trình hoài nghi lành mạnh và đầy đủ. Niềm tin như thế là niềm tin thông minh.

Niềm tin thông minh, vì thế, cũng mang trong mình tính tương đối về bản chất. Niềm tin thông minh cũng phải luôn được xem xét lại bởi hoài nghi và bổ sung thêm bởi chân lý trong một tiến trình biện chứng. Nếu không, niềm tin sẽ thoái hóa trở thành niềm tin mù quáng.

Cần nhấn mạnh rằng, dù xuất phát từ nguồn gốc nào đi chăng nữa, thì đức tin cũng mang tính thiêng liêng nhất định. Còn niềm tin mù quáng, dù được biện hộ bởi mỹ từ nào đi chăng nữa, cũng chỉ là biểu hiện cụ thể của sự dốt nát u mê.

Vì thế, để thoát khỏi niềm tin mù quáng, không còn cách nào khác là phải nhờ cậy đến ngọn đuốc soi đường của lý trí, như đã từng thấy trong phong trào Khai sáng trước đây, nhưng với một tinh thần mới: Hãy dám biết và hãy dám hoài nghi!

Lựa chọn

Hoài nghi, chân lý và niềm tin là những bước tiến của quá trình nhận thức. Nhưng quá trình này chỉ diễn ra trong đầu óc của mỗi cá nhân. Nếu chúng không được biểu hiện ra ngoài dưới dạng khả kiến và khả dụng là lựa chọn thì sẽ trở nên nửa vời, không có tác dụng gì nhiều đối với sự tiến bộ của xã hội như một tập thể liên đới.

Đi từ hoài nghi sang chân lý, niềm tin và lựa chọn, vì thế là một sự phát triển tự nhiên và lành mạnh của nhận thức, là một sự tất yếu cần-phải-thế.

Trên thực tế, lựa chọn là một trong những năng lực quan trọng nhất của mỗi cá nhân và cộng đồng. Cơ sở của lựa chọn là niềm tin. Nhưng niềm tin lại có niềm tin thông minh và niềm tin mù quáng, nên lựa chọn cũng tất yếu có lựa chọn thông minh và lựa chọn mù quáng, hay có thể định danh bằng tên gọi khác là lựa chọn tích cực và lựa chọn tiêu cực với việc xem xét sự phát triển như một quá trình liên tục và lâu dài.

Nếu lựa chọn là tích cực - tức lựa chọn trên cơ sở niềm tin thông minh, được xác lập trong quá trình tìm kiếm chân lý và hoài nghi lành mạnh - thì hoạt động của cá nhân và tổ chức xã hội sẽ mạch lạc, phản ứng sẽ hiệu quả. Nếu lựa chọn là tiêu cực - tức lựa chọn trên cơ sở niềm tin mù quáng, thì hoạt động sẽ rối rắm, phản ứng sẽ tình thế. Điều này biểu hiện rõ nhất trong hoạt động của một chính phủ, hoặc một tổ chức lớn trong xã hội.
Lựa chọn tiêu cực - có cơ sở là niềm tin mù quáng, thiết lập bởi sự kết hợp giữa lười biếng và những giá trị đã lạc hậu, nhưng được tôn vinh như chân lý bất biến bởi một nhóm người hoặc một truyền thống - thường hay xảy ra vì nó dễ và an toàn. Người lựa chọn hoàn toàn thụ động như một cỗ máy, không tự ý thức được việc ý nghĩa của mình làm. Kết quả của sự lựa chọn này là thói a-dua theo đám đông hoặc sự cam chịu áp đặt một cách vô thức.

Lựa chọn tích cực - có cơ sở là niềm tin thông minh, xác lập được thông qua quá trình kiếm tìm chân lý và hoài nghi lành mạnh – thường ít xảy ra hơn vì nó khó, và đôi khi nguy hiểm cho chủ thể của lựa chọn do đi ngược với nhận thức của đám đông lười biếng. Nhưng bù lại, người lựa chọn thông minh được sống như một con người được khai sáng: chủ động phán đoán và đón nhận những hậu quả có thể xảy đến với lựa chọn của mình một cách có ý thức. Lúc đó, chủ thể của lựa chọn đã chuyển cách hoạt động từ “máy” sang “người”.

Nếu xét đến cùng bản chất của các hoạt động trong đời sống, dù là của một hệ thống vô sinh, một cá nhân hay một tổ chức xã hội, thì đó sẽ là một chuỗi các lựa chọn liên tiếp, ý thức hoặc vô thức. Lựa chọn trước là tiền đề cho những lựa chọn tiếp theo.

Bản chất hoạt động của một hệ thống vô sinh, như một cỗ máy tính chẳng hạn, nếu quy giản đến mức tối đa, sẽ là một chuỗi những lựa chọn liên tiếp trên cơ sở của một bộ qui tắc đã được thiết lập trước, bởi tự nhiên – gọi là quy luật – hoặc bởi con người.

Bản chất hoạt động của một cá nhân, nếu quy giản đến mức tối đa, sẽ là chuỗi các lựa chọn - cả thông minh lần mù quáng, được tiến hành một cách vô thức hoặc có ý thức - và chuỗi phản ứng với những hệ quả của những lựa chọn đó, tác động lên chính bản thân cá nhân đó hoặc cộng đồng liên đới.

Bản chất hoạt động của một tổ chức xã hội, ví dụ chính phủ của một nước chẳng hạn, nếu quy giản đến mức tối đa, cũng là chuỗi các lựa chọn – cả thông minh lần mù quáng, một cách vô thức tập thể hoặc có ý thức bởi một cơ chế phản ánh ý chí tập thể – những cách thức và giải pháp vận hành tổ chức đó nhằm đạt được một mục đích định trước, và ứng xử với những hệ quả cả tốt và xấu do những cách thức và giải pháp đó gây nên cho chính bản thân tổ chức đó và cũng như cho xã hội.

Vì thế, nếu lựa chọn là tích cực - tức lựa chọn trên cơ sở niềm tin thông minh, được xác lập trong quá trình tìm kiếm chân lý và hoài nghi lành mạnh - thì hoạt động của cá nhân và tổ chức xã hội sẽ mạch lạc, phản ứng sẽ hiệu quả. Nếu lựa chọn là tiêu cực - tức lựa chọn trên cơ sở niềm tin mù quáng, thì hoạt động sẽ rối rắm, phản ứng sẽ tình thế. Điều này biểu hiện rõ nhất trong hoạt động của một chính phủ, hoặc một tổ chức lớn trong xã hội.

Một cá nhân không có khả năng lựa chọn tích cực là một cá nhân chưa trưởng thành. Một xã hội không có khả năng lựa chọn tích cực cũng là một xã hội chưa trưởng thành. Tước đoạt khả năng lựa chọn tích cực của cá nhân và xã hội là một tội ác cần lên án.

Vì thế, muốn có một xã hội lành mạnh, tiến bộ, không còn cách nào khác là phải giải phóng khả năng hoài nghi, kiếm tìm chân lý, xác lập niềm tin và lựa chọn tích cực của mỗi người.

Khi những khả năng này được giải phóng, và đặc biệt, được đảm bảo bằng pháp luật, thì những phương án tốt nhất, những con đường nhanh nhất để đạt được sự tiến bộ, sẽ hình thành một cách tự nhiên, không chỉ với sự phát triển của mỗi cá nhân, mà còn cho toàn xã hội.

Con người khi đó là con người được giải phóng, được làm chủ bản thân mình. Xã hội – tập hợp của những cá nhân và tương tác giữa họ - khi đó sẽ tự động chuyển sang một mức phát triển mới, từ xã hội vị thành niên – xã hội cam chịu áp đặt, sang xã hội trưởng thành – xã hội dân chủ, văn minh, bình đẳng.

------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này