++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2011

Sáu người bị cáo buộc trong vụ Securency 01-07-2011 17:18

Nguồn: Vietinfo.eu
01-07-2011 17:18
Sáu người bị cáo buộc trong vụ Securency
Một cựu viên chức rời tòa ở Melbourne hôm 1/07/2011 sau khi bị buộc tội
Australia buộc tội sáu quan chức và hai công ty hối lộ quan chức Việt Nam, Indonesia và Malaysia để đổi lấy các hợp đồng in tiền cho các ngân hàng tại các nước này.
 
 
 
>Thanh tra chính phủ chưa được giao theo dõi vụ liên quan đến Securency
>Công ty Securency trả học phí cho con Thống đốc Ngân hàng VN?
>Điều tra toàn cầu vụ Securency

Cảnh sát Australia nói họ sẽ truy tới các công ty địa phương ở Việt Nam, Indonesia và Malaysia sau khi đưa ra cáo buộc với hai công ty Securency International và Note Printing Australia. Đây là hai chi nhánh của Ngân hàng Trung ương Australia nhưng cảnh sát Úc nói không có bằng chứng gì về chuyện các quan chức của ngân hàng này có liên quan.

Sáu quan chức của hai công ty Securency International và Note Printing Australia bị tố cáo đưa hối lộ ở ba nước Châu Á trong đó có Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1999 tới năm 2005. Cuộc điều tra của cảnh sát Australia liên quan tới nghi án đưa hối lộ này kéo dài suốt hai năm và cảnh sát nói họ có thể đưa ra thêm các cáo buộc nữa.

Nếu bị kết tội, các công ty sẽ bị phạt tối đa khoảng 350.000 đôla Mỹ cho mỗi tội trong khi mỗi cá nhân có thể bị phạt tù tối đa 10 năm và bị nộp phạt hơn một triệu đôla Mỹ. Chính quyền Malaysia trong khi đó đã buộc tội hai nhân vật có liên quan tới vụ việc và mỗi người có thể sẽ phải chịu án tù tới 20 năm nếu bị kết tội.
Cảnh sát ở Kuala Lumpur đã bắt cựu phó thống đốc ngân hàng nhà nước Mohamad Daud Dol Moin vì cáo buộc nhận hơn 30.000 đôla tiền hối lộ từ doanh gia Malaysia Abdul Kayum Syed Ahmad để giúp Note Printing Australia lấy được hợp đồng trị giá 30 triệu đôla Mỹ.

Thông điệp rõ ràng

Người đứng đầu lực lượng cảnh sát Australia, Chris McDevitt, được trích lời nói: "Vụ này đưa ra một thông điệp rất rõ ràng cho các công ty ở Australia."

Ông McDevitt cũng nói chính phủ Australia hồi tháng Hai năm 2010 đã tăng tiền phạt cho các công ty liên quan tới đưa hối lộ ở nước ngoài lên tới tối đa là 12 triệu đôla Mỹ hoặc 33% tổng doanh số của công ty hoặc gấp ba lần số tiền đưa hối lộ. Vụ này đưa ra một thông điệp rất rõ ràng cho các công ty ở Australia.

Chris McDevitt, người đứng đầu lực lượng cảnh sát Australia Theo ông McDevitt, sáu người bị buộc tội tại tòa ở bang Victoriay hôm 1 tháng Bảy là cựu quan chức của Securency và Note Printing Australia và họ từng giữ các chức giám đốc, giám đốc tài chính hay nhân viên marketing.
 
Đó là các ông Myles Curtis, 55 tuổi, John Leckenby, 66 tuổi, Mitchell John Anderson, 50 tuổi, Peter Sinclair Hutchinson, 61 tuổi, Barry Thosmas Brady, 62 tuổi và Rognvald Leslie Marchant, 64 tuổi. Họ sẽ phải quay lại tòa vào tháng Chín trong khi hai công ty sẽ ra tòa vào ngày 27/7.

Tuy nhiên một số luật sư nói cảnh sát Australia sẽ rất vất vả mới có thể chứng minh được rõ ràng các cáo buộc của họ. Theo giới luật sư, khác với luật của Anh và Hoa Kỳ, Australia đòi hỏi sức nặng bằng chứng lớn hơn nhiều để kết án các vụ đưa hối lộ ở nước ngoài.

Học phí

Tại Việt Nam, các quan chức Securency bị tố cáo đã dùng quỹ đen trả học phí cho con cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy.

Việc dàn xếp này là một trong nhiều ưu đãi tài chính béo bở mà công ty con của Ngân hàng Trung Ương Australia bị cáo buộc chuyển cho quan chức Việt Nam để đổi lấy một hợp đồng theo đó Việt Nam in tiền đồng trên chất liệu giấy polymer của Securency.

Ông Lương Ngọc Anh trong bài trên trang web của Đảng Cộng Sản
Người bị cáo buộc có liên quan ở Việt Nam, ông Lương Ngọc Anh được khen ngợi là doanh nhân thành đạt
Vụ nghi hối lộ đã giúp Securency thắng các hợp đồng in tiền lớn tại Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2009. Các nguồn pháp lý từng xác nhận với báo chí Australia rằng Securency dùng nguồn tiền của họ trả tiền học ở Đại học Durham tại Anh cho một người con của ông Thúy, người giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 1999 đến năm 2007.
Một nhân vật khác của Việt Nam từng bị báo chí Australia tố cáo đích danh có dính dáng tới quỹ đen nhiều triệu đô la của Securency là ông Lương Ngọc Anh, Tổng Giám đốc công ty TNHH Phát triển Công nghệ CFTD.

Ông này được cho là có quan hệ thân cận với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từ hồi ông Dũng còn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và quan hệ làm ăn với Securency bắt đầu.

Hãng tin Bloomberg nói cảnh sát Australia sẽ đưa ra cáo buộc về chuyện một quan chức Việt Nam nhận hối lộ dưới dạng học bổng đại học nhưng không nói ai đứng ra đưa hối lộ.

Bloomberg cũng trích lời ông Phạm Anh Tuấn, Phó Chánh văn phòng của Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống tham nhũng nói qua điện thoại rằng Việt Nam sẽ xem xét vụ việc "nghiêm túc và khách quan".
Nguồn: BBC
------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Điều gì đang làm Trung cộng né tránh & run sợ?


Nguyễn Hữu Quý





 Những cuộc biểu tình của người Việt Nam phản đối Trung cộng gây hấn đang làm cho tập đoàn phản động Trung cộng né tránh, run sợ
 
Không quân Việt Nam là mối hiểm họa dành cho Trung cộng, Tàu chiến và kể cả là HKMH Thi Lang... của Trung cộng, sẽ biến thành những cỗ quan tài nằm sâu dưới đáy biển


Theo dõi các sự kiện và tin tức trong hơn một tháng qua kể từ ngày 26/5, ngày mà Trung cộng gây hấn với tàu Bình Minh 02 và sau đó ngày 09/6 với tàu Viking II của Tập đoàn quốc gia dầu khí Việt Nam; tình hình trở nên rất bất lợi dành cho Trung cộng. 

Những bất lợi dành cho Trung cộng 

Theo đó, được nhìn nhận qua các sự kiện chính như sau: 

1. Ba cuộc biểu tình phản đối Trung cộng gây hấn của người Việt trong nước và của người Việt Nam ở một số nước trên thế giới, là một tiếng vang cảnh báo hình ảnh của Trung cộng đến nhân dân toàn thế giới. 

Phải nhìn nhận rằng, mặc dù các cuộc biểu tình trên đây chưa tới mức tập trung hàng chục vạn người trên khắp cả nước Việt Nam, nhưng thực sự đây là sự kiện khiến Trung cộng đang rất lo ngại; sự lo ngại không chỉ tinh thần dân tộc của người Việt, một khi đã được kích hoạt sẽ trở thành sức mạnh vô địch, cả thế giới đã biết về điều này; mà hình ảnh Trung cộng trên thế giới đang bị lu mờ, sau những năm lừa phỉnh thế giới với những khẩu hiệu “phát triển hòa bình”, “thế giới hài hòa”, “tắt cả cùng thắng” v.v.. 

2. Hội thảo về an ninh hàng hải trên Biển Đông, được tổ chức tại Hoa Kỳ vào các ngày 20 và 21/6; theo đó, tại Hội nghị này, tất cả các học giả có uy tín hàng đầu của thế giới đều phản đối “đường lưỡi bò” của Trung cộng. 

Đặc biệt, bài phát biểu của ông John McCain, lần đầu tiên người Mỹ nói đến “đường lưỡi bò” và dùng cụm từ “hành vi hung hăng của Trung Quốc”…; và, theo lời ông John McCain  “Điều đó có thể thiết lập một tiền lệ nguy hiểm để làm suy yếu luật pháp quốc tế, theo cách mà những người có ý định bệnh hoạn, không còn nghi ngờ gì nữa, sẽ áp dụng ở nơi khác” v.v.. 

3. Ngày 27/6, Thượng viện Mỹ đã ra nghị quyết về vấn đề Biển Đông; theo nghị quyết này, Thượng viện Mỹ đã phàn nàn về việc Trung Quốc “sử dụng vũ lực” ở Biển Đông, và thúc giục một giải pháp hòa bình cho tranh chấp lãnh thổ ở khu vực này. 

Một khi Quốc hội của Hoa Kỳ đã lên tiếng, nghĩa là nước Mỹ đã xác định lợi ích thực sự tại Biển Đông; trong tương lai, nếu tình hình Biển Đông leo thang, thì Quốc hội Hoa Kỳ sẵn sàng “bật đèn xanh” để Tổng thống và các chiến lược gia Hoa Kỳ có thể can thiệp trực tiếp vào Biển Đông, điều mà Trung cộng sợ nhất trong các mối quan tâm của họ. 

4. Trung cộng đang rất sợ quan hệ Việt – Mỹ sẽ được nâng lên một ở tầm cao mới, có thể là “Đối tác chiến lược” hoặc rất có thể ở mức cao hơn là “Đồng minh chiến lược”. 

Đặc biệt, cũng trong bài phát biểu của mình, câu nói của ông John McCain rất đáng để mọi người suy ngẫm: 

Tuy nhiên, trong các cuộc họp của tôi với Phó Chủ tịch Thứ nhất, hai người đứng đầu Quốc hội, và những người khác, rõ ràng rằng chính phủ này (VN) muốn có quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ. Tôi nhấn mạnh rằng chính phủ của tôi và tôi chia sẻ khát vọng này, và như vậy là điều đó không phải là không thể. Sau cùng, nếu Hoa Kỳ và Việt Nam có thể cải thiện quan hệ, mà tôi biết một hoặc hai điều về vấn đề này, bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra. 

Hy vọng, ông dùng hai từ “khát vọng” là phản ánh đúng tình hình của phía đối tác, tức là phía Việt Nam, đã thực sự cầu thị. 

Chỉ có sự chân thành trong giao lưu bè bạn thì ta mới nhận được sự chân thành từ tình bạn; ngược lại, nếu vẫn còn giữ kiểu “nói một đàng làm một nẻo” là coi thường phẩm giá và danh dự của chính mình. Không đại diện cho văn hóa và truyền thống Việt Nam, hơn ai hết, người Mỹ hiểu về điều này 

5. Mỹ cam kết sát cánh cùng với Philippines; theo như lời Đại sứ Mỹ tại Philippines Harry Thomas: Tiếp tục khẳng định mối quan hệ đồng minh lâu dài với Manila trong bối cảnh căng thẳng tiếp diễn ở Biển Đông 

Như vậy, Mỹ đã trực tiếp xác nhận quyền được có mặt tại Biển Đông; và Trung cộng đang bằng mọi cách đẩy Mỹ ra khỏi khu vực này; vì rằng, chỉ có như vậy, Trung cộng mới có cơ hội rảnh tay để “xử lý” Việt Nam trong suy nghĩ của họ 

Những toan tính của Trung cộng. 

Hàng loạt các cuộc ngoại giao con thoi của lãnh đạo Bắc Kinh đến Trung Á, Tây Âu, Nga và Nam Mỹ… mà đi theo đó là hứa hẹn đầu tư nhằm thăm dò và lôi kéo sự ủng hộ của các nước, đồng thời nhằm cô lập Việt Nam, để chuẩn bị cho bước tính toán tiếp theo; Việc ông Thiếu tướng Bành Quang Khiêm ngạo mạn tuyên bố “Trung Quốc từng dạy Việt Nam một bài học và có thể cho Việt Nam bài học lớn hơn”, là lời cảnh báo cho những cái đầu u mê, cơ hội… đang còn hy vọng vào “phương châm 16 chữ” và “quan hệ 4 tốt” tại Việt Nam. 

Những lợi thế của Việt Nam. 

Như một tất yếu; Tất cả những bất lợi dành cho Trung cộng như đã nói trên, chính là những lợi thế hiện tại của Việt Nam. Nếu như lãnh đạo Việt Nam tận dụng được tất cả các cơ hội này, thì chính Trung cộng mới thực sự đang run sợ trước chính nghĩa, được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, và đang run sợ trước tinh thần dân tộc của người Việt Nam. 

Những động thái đe dọa của lãnh đạo Bắc Kinh dành cho Việt Nam gần đây chính là sự thể hiện mối lo sợ này của Trung cộng; Họ đang cố tình ngăn chặn, và chỉ còn duy nhất là dựa vào chiếc đũa thần “phương châm 16 chữ” và “quan hệ 4 tốt” để cùng với lũ Việt gian cố gắng đảo ngược tình hình trong điều kiện nhân dân Việt Nam đã và đang thức tỉnh. 

Trung cộng đang run sợ điều gì? 

Cần chú ý rằng, trong so sánh tương quan lực lượng quân sự hiện tại giữa Việt Nam và Trung cộng; mặc dù Việt Nam chỉ bằng khoảng 1/20 so với Trung cộng; nhưng trên tổng thể các lợi thế để so sánh, thì Trung cộng sẽ thảm bại nếu như có một cuộc đụng độ trên Biển Đông, thậm chí là cuộc chiến Trung – Việt xẩy ra. 

Chính vì vậy, Trung cộng đang run sợ trước thực trạng này; và để ngăn chặn nguy cơ, vừa rồi, ngày 25/6 Trung cộng bằng mọi cách để lãnh đạo Việt Nam cử “đặc phái viên” – ông Hồ Xuân Sơn sang Trung cộng, và với những thỏa thuận gây bất an trong dư luận Việt Nam. 

Tóm lại: Việc người Việt Nam đã tiến hành các cuộc biểu tỉnh phản đối Trung cộng là vấn đề hết sức lo ngại đối với Trung cộng; Ngoài ra, Trung cộng đang run sợ một cuộc chiến Trung - Việt; mà nếu nó xẩy ra thì Trung cộng sẽ thất bại toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, quân sự, ngoại giao… vì rất có thể, kéo theo nó là sự khủng hoảng chính trị đối với Trung cộng. 

Nắm bắt được tình hình này, Đảng và lãnh đạo Việt Nam kết hợp cải tổ chính trị để từng bước thoát khỏi “láng giềng hữu nghị” giả hiệu; thì sẽ được nhân dân tha thứ cho những sai lầm trong quản lý kinh tế… có cơ hội để đồng hành cùng dân tộc, trong thời đại mà tiếng nói dân chủ đang đến như một tất yếu lịch sử và đã rất gần kề. 

Những nhận định mới. 

1. Quan hệ giữa “hai đảng anh em” hiện đang là cứu tinh duy nhất để không chỉ “Đảng anh” mà kể cả “Đảng em” phải dựa vào để cùng tồn tại. 

Trong hoàn cảnh này, tình thế nguy nan đang dành cho “Đảng em”; trong khi “Đảng anh” có thể dựa vào quân đội, cảnh sát để tàn sát nhân dân, như đối với vụ Thiên An Môn năm 1989…; thì ngược lại, “Đảng em” không thể dựa vào hai lực lượng này, vì rằng, tình cảm của người Việt Nam rất khác. 

Sẽ là sai lầm cho những ai tin rằng, quân đội và công an Việt Nam sẵn sàng bắn vào đoàn biểu tình. Nguy cơ mất Biển Đông trước sự xâm lược của Trung cộng đã đặt người Việt Nam tất cả cùng đứng về một phía… như lịch sử giữ nước hàng ngàn năm đã chứng minh. 

2. Trong cuộc gặp ngày 29/6 giữa Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc và Trung tướng Võ Tiến Trung UVBCHTW đảng CSVN; việc ông tướng Trung cộng Mã Hiểu Thiên nói “Hy vọng phía Việt Nam sẽ xử lý các vấn đề tế nhị một cách thích đáng và hướng dẫn dư luận cũng như cảm tính xã hội một cách đúng đắn”. Một lần nữa cho thấy, Trung cộng đang ở thế run sợ trước sự bừng tỉnh của nhân dân Việt Nam. 

Vì vậy, đang bằng mọi cách “Đảng anh” chỉ đạo, răn đe “Đảng em” phải mạnh tay “… một cách đích đáng” với các phong trào biểu tình, các bài báo, các Blogger… trong thời gian tới. 

Tình thế hôm nay đã khác đi rất nhiều, nhân dân Việt Nam đã thức tỉnh. Bao nhiêu năm nào là “học tập”, “làm theo”, “tin tưởng”… đã quá đủ để nhân dân Việt Nam xác định đã đến thời điểm cần phải làm gì để thay đổi vận mệnh đất nước. 

3. Đừng tưởng rằng, sau chuyến công du và có cuộc “bái kiến” Hồ Xuân Sơn – Đới Bỉnh Quốc, và sau cuộc gặp Mã Hiểu Thiên - Võ Tiến Trung là tình hình đã được dàn xếp; mà tùy thuộc vào kết quả các cuộc công du Trung Đông, Tây Âu, Nga, Nam Mỹ… của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh nói  trên, rất có thể Trung cộng sẽ mạnh tay trên Biển Đông để áp đặt giàn khoan khủng bố CNOOC 981 ở một vị trí có tính chiến lược, nhằm áp đặt thực thi chủ quyền trên Biển Đông. 

Thời gian cho sự kiện lắp đặt CN 981 là trong tháng Bảy này; vì vậy, tháng Bảy/2011 sẽ là một tháng vô cùng căng thẳng, không chỉ trong quan hệ Việt – Trung và với cả khu vực và toàn thế giới. 

4. Nếu lãnh đạo Việt Nam còn quyết tâm để ngăn chặn Trung cộng thì việc sớm ký kết “Đối tác chiến lược” với Hoa Kỳ trong những ngày, tháng tới là việc hết sức nên làm và càng sớm càng tốt. Ngược lại, nếu vẫn coi Hoa Kỳ là “thế lực thù địch”, “âm mưu diễn biến hòa bình”… thì chưa biết điều gì sẽ xẩy ra. 

01.7.2011

------------------
*****


»» xem thêm

Đi biểu tình thì làm được gì và câu chuyện nước Vệ

Nguồn: Blog Người Buôn gió
Người Buôn Gió

Chúng ta quá quen với câu hỏi vô cảm, có phần móc máy này khi chúng ta đang vươn ngực đứng trước hàng rào cảnh sát và an ninh dày dặc. Khi mà muốn thể hiện được lòng yêu nước cái giá mà chúng ta phải đánh đổi là bị bắt bất cứ lúc nào.

Đi thế này đòi hay không chưa biết, nhưng chắc chắn một điều là kẻ thù xâm lược đã phải tạm ngừng hành động gây hấn để nghe ngóng thái độ và phản ứng của chúng ta. Dã tâm thôn tính lãnh thổ của chúng ta của quân xâm lược không bao giờ chấm dứt, khi chúng ta lơ là, thiếu cảnh giác, ngây thơ tin vào lòng hảo tâm của chúng. Thì đấy chính là cơ hội để dã tâm chúng biến thành hành động. Điều này thì sự thực diễn ra đã chứng minh rõ ràng. Không cần thiết nói nhiều.

Nếu chúng ta biểu tình thế này, Trung Quốc huy động người của nó đông gấp 5 lần ta cũng biểu tình thì sao.?

-  Cho biểu tình đông gấp 50 lần đi, đố chúng nó dám. Trung Quốc có Thiên An Môn, có Nobel Văn Chương Cao Hành Kiện, Nobel Hòa Bình Lưu Hiểu Ba, có Ngải Vị Vị, có một giáo hội đang bị chính quyền o ép tách khỏi ảnh hưởng của Vatican, có Tân Cương, Tây Tạng…có hàng hà đa số mối nguy cơ bất ổn . TRung Quốc leo thang gì chứ leo thang biểu tình với Việt Nam thì chỉ có  chính quyền chuyên chế Trung Quốc phải ôm hận trước.

Trung Quốc mạnh thế, sợ gì nhúm người Việt Nam biểu tình, Trung Quốc có vũ khí hiện đại, có tiềm năng quân sự hùng hậu. Trung Quốc sợ gì , biểu tình thế khiến họ ức, họ lại làm mạnh thêm chứ được gì ?

- Trung Quốc không những sợ nhúm người Việt Nam biểu tình, mà còn quá sợ nữa là đàng khác. Đừng nói chuyện tiềm lực quân sự ở đây. So với  Mỹ có B52, bom nguyên tử vũ khí tối tân đứng đầu thế giới của những năm 60 thế kỷ trước  thì Việt Nam còn chưa ngại, ba cái hàng Tàu ghẻ đã phải lo gì.

Muốn biết rõ thì nghe chuyện nhà Sản trong Đại Vệ Chí Dị

Nhà Sản từ khi nắm triều chính nước Vệ. chiến tranh liên miên với các cường quốc quân sự trên thế giới. Đánh nhau nhiều đến nỗi thành quen. Cứ mỗi lần đánh nước này, thì nước khác lại tiếp vũ khí, của cải cho người Vệ chiến đấu với nước kia. Mấy chục năm ròng người Vệ không cần lo làm ăn , buôn bán chỉ có mỗi việc nhận lương thực và vũ khí của bên ngoài mà đi chinh chiến. Do đó vào thời kỳ tạm gọi là thanh bình của nước Vệ, quan quân nhà Sản vốn quen chiến trường, giờ gặp thương trường thành ngớ ngẩn, không biết xoay sở. Rút cục là chỉ đi vay nợ và bán tài nguyên, ngân sách thâm thủng, tài nguyên cạn kiệt.

Nước Tề bấy lâu nay vẫn có bụng dòm ngó nước Vệ, thấy Vệ suy, bèn đóng hàng loạt chiến thuyền dong ra biển Vệ tung hoành thu thuế ngư dân, khai thác tài nguyên, khoáng sản ở vùng lãnh hải của Vệ. Một mặt Tề Bá Vương vẫn thắt chặt quan hệ với các quan lại nhà Sản, tạo cho họ những nguồn lợi và bảo đảm chức tước.

Tưởng thế là thâu tóm được nước Vệ, quân Tề ngày càng bạo ngược.

Mùa Hạ năm Tân Mão, triều nhà Sản thứ 66. Dân Vệ nổi lên biểu tình phản đối gay gắt hành vi bá đạo của Tề.

Nhà Tề mới họp lại bàn. Có quan nói

- Một dúm người Vệ con con đó được cái chi,người của ta bên đó giữ chức vụ cao trong triều còn đầy. Nước Vệ không dám kháng cự đâu.

Quan khác tâu

- Thưa đại vương, nước Vệ cạn kiện, vũ khí hoen rỉ, quân lính chểnh mạng, quan lại hoang đàng, dân tình bạc nhược. Dẫu đám phản đối đó có đông gấp mấy đi nữa cũng chả khiến Vệ khác đi được. Chúng ta cứ vậy mà tiến thôi.

Triều nhà Tề bàn đang bàn đến đó, bỗng có một vị quan già phụng sự mấy đời triều nhà Tề  từ thời Tề Đặng Vương đến nay e hèm một cái. Mọi người ngoảnh lại, vị quan đó lên tiếng.

- Một nhúm người đó là mầm đại họa cho nhà Tề, không những có thể ngăn Tề ta chiếm được đất của Vệ, mà còn làm nước Tề suy sụp.

Vua quan nhà Tề ngạc nhiên nhìn lão tướng già, Tề Bá Vương hỏi.

- Khanh nói rõ xem nào.

Vị quan già bước ra giữa sân chầu, vái lạy Vương và các quần thần. Sau đó nói một hơi dài.

- Thưa đại vương, dưới triều nhà Sản, nước Vệ chỉ biết có nghề chinh chiến. Mỗi lần họ đánh trận như chúng ta biết thì họ được nước khác viện trợ đầy đủ từ cái kim sợi chỉ đến chiến xa, hạm thuyền. Ngay nước Tề ta cũng cung cấp cho họ để họ đánh Cờ Hoa. Phú Lãng Sa. Sau này họ lại được Bạch Mao tiếp viện để đánh nước Cam. Nói tóm lại một điều nước Vệ chính chiến với tất cả những cường quốc trên thiên hạ. Khi họ đánh trận thì yếu tố vũ khí, lương thực….họ không hoàn toàn phải lo, bởi cường quốc khác đứng đằng sau lo cho họ. Chuyện Tề và Vệ có chinh chiến  so đo về tiềm lực không biết được ai hơn ai. Cho nên điều quan trọng nhất là phải ngăn người Vệ vốn là nước phên dậu che chắc cho ta đừng trở thành tiền đồn của kẻ khác.

Bấy lâu chúng ta vẫn dùng tiền bạc can thiệp để gây dựng những nhân tố của chúng ta trong triều Vệ. Những người này giúp chúng ta đưa Vệ đi đúng bổn phận  là chư hầu, phên dậu cho nước Tề. Ngoài ra còn chăn dắt,định hướng cho dân Vệ thuần phục, mến yêu nước Tề qua những loại hình văn hóa Tề tràn ngập đời sống Vệ hàng ngày. Bộ phận chiến tranh tâm lý của Tề ta trong mấy chục năm qua cũng đạt nhiều thành công lớn, khiến cho bọn Vệ giờ trở nên ích kỷ, độc ác, trành giành, xâu xé nhau chỉ nghĩ đến sao cho hưởng thụ được cá nhân mình. Trong cuộc tấn công toàn diện núp dưới 16 chữ vàng, về kinh tế ta đã khống chế hoàn toàn nước Vệ, về nhân sự cũng có nhiều khả quan, về tinh thần văn hóa hầu như đã làm tê liệt ý chí người Vệ, thế nhưng dù quân sự ta mạnh hơn Vệ nhiều lần, chúng ta cũng cần phải đắn đo.

Như thần đã nói trên, người Vệ dưới sự chuyên chính của nhà Sản, nếu quyết chiến thì bất lợi cho Tề vô vùng. Nay nước Tề ta hùng mạnh, các nước trong thiên hạ ganh ghét. Nếu Tề, Vệ có giao tranh. Chắc hẳn các nước sẽ xúm vào viện trợ vũ khí tối tân cho Vệ, tiếp tế nguồn lương thảo. Nước Tề quen nghề xông pha tuyến đầu từ trước đến nay, giờ lúc tiền của ngân khố hết, nguy cơ mất lãnh thổ, như dồn đến đường cùng, lẽ nào họ không quay lại nghề cũ nhận của cải từ nước khác mà giao tranh với ta. Về địa lý Vệ gần với ta, đã giao tranh là phải kéo dài liên miên. Nước Tề tập trung đối phó với Vệ cũng thực ra là đối phó với nhiều nước thù ghét Tề hậu thuẫn đằng sau cho Vệ. Vô hình chung ta chiến đấu với Vệ, còn các nước khác rảnh rang phát triền. Sau chiến tranh thắng thua thế nào thì nước Tề cũng bị ảnh hưởng, không theo kịp các nước khác, chưa nói đến là sa lầy.

Nay nước Vệ đang bạc nhược về tinh thần, vua tôi mỗi người một ý, đó là công lớn của bộ tuyên huấn chúng ta trong suốt mấy chục năm hợp tác toàn diện với Vệ. Tiền của tiêu hao không biết bao nhiêu mới khiến người Vệ khiếp nhược chinh chiến như vậy. Bỗng dưng có đám Vệ nổi lên, dẫu chỉ vài trăm mống, nhưng cũng là cái họa, bởi nó là ngọn lửa khêu gợi tinh thần dân tộc, quyết chiến đến cùng. Nếu ảnh hưởng ngày càng to sẽ gây khó khăn cho những nhân sự mà chúng ta cấy trong triều Vệ khi can thiệp vào đường lối nước Vệ vào những quyết sách có lợi cho nước Tề ta. Nếu dẫn đến dân vua tôi nhà Vệ đồng lòng sát cánh chiến đấu với ta, thì bao nhiêu kế hoạch diễn biến trong lòng địch của chúng ta từ trước đến nay thành phá sản.

Mà nếu như xảy ra giao tranh Vệ và Tề, thì thần cũng đã nói rõ lúc trước. Mong đại vương và triều thần nghe cho vài lời.

Triều đình Tề xôn xao, ai cũng nhận thấy lời lão tướng già nói có lý. Thống nhất bàn bạc xong, Tề Bá Vương quyết sách rằng.

- Phải khai thác tối đa những thuận lợi mà chúng ta đang có.Triệt để những tư tưởng , mầm mống gay gắt với Tề đang diễn ra tại nước Vệ.Nay chỉ dụ gấp cho tay chân ta trong triều Vệ ngăn chặn các cuộc biểu tình , điều tra cô lập và làm vô hiệu hóa những đối tượng chủ chốt có ảnh hưởng trong đám tuần hành, hạn chế đưa tin hoạt động của Tề ngoài khơi nước Vệ. Mặt khác đưa đoàn phái bộ sang để ve vãn triều thần Tề, khi đoàn phái bộ sang, các tay trong phải phối hợp chặt chẽ với phái bộ, tuyên truyền rằng Tề ta không có bụng dạ nào ngoài ý tốt muốn giao hảo với Vệ chư hầu. Mặt khác phải tập chung tập luyện hải quân,,nhân lúc Vệ chủ quan đánh một trận tiêu diệt nhanh gọn như hồi Mậu Thìn, chiếm gữ và xây dựng các căn cứ lâu dài kiên cố. Đưa chúng vào thế đã rồi, lúc đó ta phủ dụ vỗ về triều Tề rằng đằng nào cũng đã xong rồi, giờ chỉ còn hợp tác hữu hảo để cùng nhau phát triển. Vừa mua chuộc bọn quan lại, vừa ký kết vài hiệp định thương mại đầu tư tạo công ăn việc làm cho dân chúng. Đến lúc đó thì Vệ còn bụng đâu mà làm được điều gì nữa.

Tề Bá Vương bãi triều

Mùa Hạ năm đó, phái bộ nhà Tề sang Vệ bàn chuyện hữu nghị, hòa bình, không gây căng thẳng

Nước Vệ bớt đưa tin về biển khơi

Các tỉnh thành công sai ra sức gắt gao trấn áp những người Vệ biểu tình phản đối Tề.

Duy ở kinh đô còn le lói mấy mống kiên trì khơi dậy tinh thần cảnh giác âm mưu của Tề.

Dân Vệ vẫn hỏi móc máy nhau rằng, việc lớn có triều đình lo, mắc mớ gì đi biểu tình như thế, thừa cơm để nhiễu sự à ?

Than ôi, phải có nhiều kẻ hỏi dã tâm như vậy, mới sáng tỏ bản chất của người Vệ dưới triều nhà Sản là vậy.

Mỗ là phường lêu lổng, vô học, mạt hạng  trong thiên hạ, sống bám vào gia đình, sinh ra nhàn rỗi chép lại những chuyện này cho đời Vệ sau nếu có, biết được đôi phần.

------------------
*****


»» xem thêm

Học giả Hoa Kỳ: Làm sao Đối Phó với Bắc Kinh ở Biển Đông? (1)

Nguồn: Blog Phi Vũ

Nguồn Diễn đàn thế kỷ
Countering Beijing in the South China Sea
Dana Dillon
Policy Review No. 167, June 2011
Hoover Institute - Standford University
Người dịch: Nguyễn Quốc Khải

 
Tại sao Hoa Kỳ không thể để cho tham vọng về lãnh thổ của Trung Quốc tự do hoành hành?

Bà Dana R. Dillon là tác giả của cuốn sách “The China Challenge” (2007) và là một nhà bình luận thường xuyên về các vấn đề Á châu và an ninh quốc gia.

Nguồn bất ổn nguy hiểm nhất tại Á châu là một Trung Quốc đang vươn lên và đòi hỏi quyền lợi. Biển Đông sẽ là nơi mà Trung Quốc dám mạo hiểm nhiều nhất vào một cuộc xung đột võ lực. Lãnh hải ít yên lặng này đang nổi sóng vì những cuộc thao diễn hải quân và những lời tuyên bố hùng hồn. Nhiều học giả, chính trị gia, và những vị tướng lãnh hải quân nghĩ rằng Biễn Đông sẽ là một nơi cạnh tranh giữa những cường quốc.

Người ta bắt đầu suy đoán về những sự va chạm sắp xẩy ra khi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố tại Diễn Đàn ASEAN vào tháng 7, 2010 rằng Hoa Kỳ có quyền lợi quốc gia tại Biển Đông. Bà xác định rằng Hoa Kỳ có quyền tự do lưu thông ở Biển Đông, ủng hộ một tiến trình hợp tác để giải quyết những cuộc tranh chấp về lãnh thổ ở khu vực này và bản tuyên ngôn của ASEAN và Trung Quốc vào năm 2002 về cách ứng xử của các quốc gia tại Biển Đông.

Mặc dầu lời tuyên bố của Bà Clinton ủng hộ thỏa hiệp của chính Trung Quốc với những nước Đông Nam Á, ngoại trưởng của Trung Quốc đã phản ứng một cách tiêu cực rằng lời tuyên bố của Bà Clinton “thật sự là một cuộc tấn công vào Trung Quốc”. Giới chức quân sự Trung Quốc tuyên bố chống lại việc quốc tế hóa cuộc tranh chấp giữa sáu quốc gia và tổ chức một cuộc thao diễn hải quân lớn lao khác thường tại Biển Đông vào ngay tuần sau.

Sự đòi hỏi về chủ quyền trên toàn thể khu vực ở Biển Đông và ý định ép buộc thi hành chủ quyền này của Trung Quốc là nguyên nhân của cuộc đối đầu ở biển cả. Nhưng sự xấc xược này của Trung Quốc bắt nguồn từ quan điểm rằng lịch sử ủy nhiệm Trung Quốc cai trị tất cả trên thế gian này. Bành trướng biên giới hàng ngàn dặm xuống Biển Đông chỉ là một cách biểu lộ tầm nhìn này về một trật tự mới của thế giới theo lối Trung Quốc. Phù hợp với tư tưởng “dĩ hoa vi trung” [lấy Trung Hoa làm rốn vũ trụ] (Sinocentric ideology), Bắc Kinh tin rằng quyền lực của Trung Quốc trên các nước nhỏ phải [là yếu tố] quyết định chính sách ngoại giao của những nước này. Sau khi Bà Clinton thử thách Trung Quốc về chủ quyền ở Biển Đông, ngoại trưởng Trung Quốc nhìn chăm chú vào một nhà ngoại giao Tân Gia Ba và tuyên bố rằng “Trung Quốc là một nước lớn và những quốc gia khác là những nước nhỏ, và đó là sự thật.” Vào ngày thứ Hai tiếp theo, ngoại trưởng Trung Quốc công bố rằng “Quan điểm của Trung Quốc đại diện cho quyền lợi của những người bạn Á châu.”

Việc tranh chấp về lãnh thổ ở Biển Đông đã xẩy ra từ vài thập niên trước, nhưng ngày nay chính quyền Trung Quốc cảm thấy đã đạt được nhiều thành quả và Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân có một ngân sách quân sự gia tăng nhanh nhất thế giới. Lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Clinton có thể là một phản ứng đối với những lời tuyên bố trước đây của ngoại trưởng Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc (Dai Bingguo) với chính Bà Clinton và được lập lại với một vài phụ tá Hoa Kỳ rằng việc tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông là một quyền lợi cốt lõi ngang với Đài Loan và Tây Tạng. Mặc dù ông Đới Bỉnh Quốc ngưng không dùng từ “cốt lõi” để mô tả chủ quyền lãnh hải, những nhân vật quân sự vẫn sử dụng từ này. Vào tháng 1, 2011 mạng lưới của nhật báo Nhân Dân, một cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã thăm dò dư luận của độc giả về “Biển Đông có phải là quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc hay không?” 97% của 4,300 người trả lời nói có.

Bảo vệ tự do lưu thông tại một trong những đường hàng hải bận bịu nhất thế giới không dựa vào súng đạn, đòi hỏi một giải pháp thân thiện của những phe tranh chấp. Để bắt đầu một tiến trình giải quyết hoặc trung lập hóa vấn đề đòi hỏi một sự lãnh đạo và sự quyết tâm của Hoa Kỳ. Một chiến lược ngoại giao cứng rắn được hỗ trợ bởi một lực lượng hải quân đáng kể và một sự lãnh đạo kiên nhẫn có thể duy trì được sự cân bằng trong vùng, bảo vệ được tự do lưu thông, sự toàn vẹn của luật quốc tế, và nền độc lập và chủ quyền của những nước Đông Nam Á.

Đối với quan điểm của Hoa Kỳ, giải pháp tồi tệ nhất đối với việc tranh chấp ở Biển Đông là những nước trong khối ASEAN lân cận với Trung Quốc mặc nhiên chấp nhận quan điểm của Bắc Kinh và toàn thể Biển Đông trở thành lãnh thổ của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Quan điểm của Bắc Kinh cũng là giải pháp tồi tệ nhất đối với các nước ASEAN và mọi quốc gia liên hệ đến thương mại trên trái đất. Nhưng cũng sẽ là một giải pháp tệ hại nếu Hoa Kỳ đối đầu song phương với Trung Quốc mà không có hậu thuẫn vững chắc và cam kết đối với những hành động của Hoa Kỳ bởi những quốc gia ven biển đòi chủ quyền ở Biển Đông và bởi những đồng minh Á châu và Thái Bình Dương của Hoa Kỳ. Không có sự liên minh ở trong vùng, Hoa Kỳ sẽ mắc kẹt vào một chiến dịch ở cuối đường tiếp vận nhưng lại ở sâu trong tầm với của một cường quốc lớn đang vươn lên.

Một giải pháp lý tưởng đối với những nước ASEAN là chống lại lập trường của Trung Quốc và khẳng định về một giải pháp đa phương dựa trên Quy Ước về Biển của Liên Hiệp Quốc (U.N. Convention on the Law of the Sea – UNCLOS) và luật lệ ứng xử ghi rõ trong Hiệp Định Thân Hữu và Thương Mại mà Trung Quốc đã ký kết vào năm 2002. Giải pháp này không thể thực hiện được trừ khi các quốc gia ASEAN phát triển tài nguyên về chính trị, kinh tế và quân sự để thử thách ảnh hưởng của Trung Quốc. Trong ngắn hạn, các quốc gia ASEAN có thể dựa vào Hoa Kỳ, và những sức mạnh khác trong vùng như Nhật Bản, Ấn Độ, và Úc Châu, trong khi những quốc gia ASEAN phát triển khả năng ngăn chặn của mình. Trong dài hạn, những nước này phải tự đối phó.

ASEAN sẽ lưỡng lự chấp nhận sự trợ giúp của Hoa Kỳ nếu đó chỉ là một phần của chính sách địa chính chống Trung Quốc của Hoa Kỳ. Trung Quốc không những chỉ là một nước láng giềng đối với Đông Nam Á, nhưng cũng là một đối tác thương mại, đầu tư, và một đồng minh chính trị trong một số trường hợp. Xác nhận sự đe dọa của Trung Quốc và yêu cầu những nước ASEAN tham gia vào trong một liên minh chống Trung Quốc là một công thức sẽ đưa đến thất bại. Thay vào đó, Hoa Kỳ phải phát triển cho những nước Á châu một tầm nhìn rõ ràng trái ngược với sự áp đặt quyền bá chủ theo lối cổ xưa của Trung Quốc. Tầm nhìn cần phải bao gồm những nguyên tắc truyền thống của Tây Phương: tự do thương mại, độc lập chính trị, và chủ quyền về lãnh thổ.

Vấn đề Biển Đông

Sáu nước đòi chủ nguyền về các đảo ở Biển Đông là Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, Cộng Hòa Trung Hoa (Đài Loan), Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân, và Brunei. Trung Quốc và Đài Loan đòi chủ quyền ở Biển Đông bằng cách dựa trên di vật văn hóa, những ám chỉ văn học mơ hồ, hoặc xâm chiếm công khai. Việt Nam cũng đòi chủ quyền trên tất cả các đảo ở Biển Đông bằng cách dựa vào những tài liệu lịch sử, sự từ bỏ quyền sở hữu của Nhật Bản trên những hòn đảo ở Biển Đông, và những văn bản pháp lý về một vài hòn đảo từ thời Pháp đô hộ. Phi Luật Tân, Mã Lai, và Brunei đòi chủ quyền trên tất cả hoặc một phần của quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) bằng cách phần lớn dựa trên đặc khu vực kinh tế (exclusive economic zone – EEZ) và thềm lục địa. Theo Quy Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, một EEZ nới rộng 200 hải lý từ đường nước thấp ở bờ biển. Bản đồ Biển Đông của Trung Quốc cho thấy những đường chấm kéo dài xuống đặc khu kinh tế ở đảo Natuna của Nam Dương, và có tiềm năng lôi cuốn Nam Dương trở thành nước thứ bẩy trong vụ tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Đây không phải là một vấn đề pháp lý khó hiểu mà là một sự đe dọa cận kề và nguy hiểm đến kinh tế toàn cầu và môi sinh của vùng. Những đường hàng hải qua Biển Đông nối liền Á châu với Âu châu làm cho Biển Đông là một khu vực bận rộn nhất thế giới. Gần một nửa dịch vụ chuyên chở bằng đường thủy của thế giới đi qua Biển Đông và từ Trung Đông một phần đáng kể dầu được chở đến miền Đông Bắc Á châu. Biển Đông cũng có rất nhiều khoáng chất hydrocarbons dưới nhiều dạng khác nhau. Vụ biên giới không giải quyết và sự đe dọa quân sự trắng trợn làm cản trở việc khai thác những tài nguyên này một cách hoàn toàn. Sau cùng vì việc đánh cá quá độ, mức cá thu hoạch giảm một cách đáng kể, khiến ngư dân phải dùng những kỹ thuật xông xáo hơn. Nếu không có một thỏa hiệp đa phương để quy định việc đánh cá ở Biển Đông, kỹ nghệ đánh cá và tình trạng sinh thái sẽ nhanh chóng trở thành một thảm họa.

Yêu sách của Trung Quốc

Tất cả những nước đòi chủ quyền ở Biển Đông đều chứng minh quyền sở hữu của mình bằng cách sử dụng định nghĩa của Quy Uớc LHQ. Chỉ có Trung Quốc sử dụng những phương tiện như sức mạnh về kinh tế, chính trị và quân sự, một lập trường ngoại giao không dung hòa; và đã biểu lộ thái độ hung hăng nhằm đạt được những mục tiêu của họ. Sự việc này làm cho Bắc kinh trở nên một nước quan trọng nhất trong việc giải quyết tranh chấp đất đai và cũng là một chướng ngại to lớn nhất cho việc tìm kiếm giải pháp.

Khi có những bàn cãi ngoại giao và thương thuyết để tìm giải pháp cho sự tranh chấp, Bắc Kinh luôn luôn nhắc nhở những quốc gia khác rằng Biển Đông là của Trung Quốc và từ chối không thương lượng ngoại trừ các nước chấp nhận chủ quyến không thể tranh cãi của Trung Quốc. Cho tới hôm nay, chiến thuật của Trung Quốc là chỉ chấp nhận thương thuyết song phương và tránh sử dụng Quy Ước LHQ hoặc bất cứ phe nào ở ngoài. Ngoài ra, Trung Quốc đã ra những bản tuyên ngôn và định nghĩa làm tiến trình tìm kiếm giải pháp trở nên vô cùng phức tạp và đặt Trung Quốc vào vị đụng độ với tất cả mọi quốc gia trong thế giới hàng hải.

Đối với những nước có bờ biển phức tạp và cong queo, như Na Uy hoặc những quốc gia có nhiều đảo như Phi Luật Tân và Nam Dương, việc vẽ ranh giới duyên hải rất khó khăn. Thềm lục địa và những khó khăn này được thừa nhận bởi Quy Ước LHQ như Điều 7 (đường thẳng), Điều 47 (đường đảo cong queo), và Điều 76 và Điều 77 (thềm lục địa). Những điều khoản này cho phép những quốc gia vẽ ranh giới cho những vùng duyên hải phức tạp và chật hẹp và những hòn đảo miễn là những ranh giới này không cản trở tự do lưu thông thường lệ. Tuy nhiên, Bắc Kinh nới rộng định nghĩa của những điều khoản này và áp dụng cho những hòn đảo Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền và phần đất dọc theo đường biển.

Ủy Ban Thường Trực của Quốc Hội Trung Quốc thông qua “Đạo Luật về Lãnh Hải và Những Khu Vực Lân Cận” (Luật Lãnh Hải) vào ngày 25 tháng 02, 1992. Luật này không nói rõ những phần đất nào Trung Quốc đòi hỏi, nhưng xác định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands) và Trường Sa (Spratly Islands). Ngoài ra, Trung Quốc phổ biến một bản đồ bao gồm toàn thể Biển Đông từ đảo Hải Nam đến đảo Natuna của Nam Dương trong một vòng lãnh hải kín. Vào năm 1993, bộ trưởng ngoại giao của Trung Quốc cam kết miệng với bộ trưởng ngoại giao của Nam Dương rằng Trung Quốc không đòi hỏi đảo Natuna đông dân cư và quan trọng về mặt kinh tế. Tuy nhiên từ đó đến nay, Bắc Kinh chưa chính thức xác nhận lời tuyên bố này.

Theo Quy Ước LHQ và thông lệ quốc tế, “lãnh hải” (“territorial waters”) trải rộng 12 hải lý từ đường bờ biển ở mực nước thấp nhất. Tuy nhiên khi ký Quy Ước LHQ Bắc Kinh đã đính kèm bản tuyên ngôn bao gồm định nghĩa về lãnh hải và quyền của những quốc gia giáp ranh với biển khác với những điều viết trong Quy Ước LHQ. Ngoài ra, Trung Quốc còn tuyên bố rằng:

1. Theo những điều khoản của Quy Ước LHQ về Luật Biển, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc sẽ hưởng chủ quyền và quyền hạn pháp lý trên đặc khu kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa.

2. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc qua những cuộc tham khảo, sẽ ấn định ranh giới lãnh hải với những nước có bờ biển đối diện hoặc kế cận Trung Quốc lần lượt trên căn bản luật quốc tế và theo nguyên tắc công bằng.

3. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc tái xác nhận chủ quyền trên những quần đảo và đảo như đã liệt kê tại Điều 2 của Đạo Luật về Lãnh Hải và Những Khu Vực Lân Cận, đã được ban hành vào 25 tháng 2, 1992.

4. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc tái xác nhận rằng những điều khoản của Quy Ước LHQ về Luật Biển liên quan đến lưu thông qua lãnh hải không làm thiệt hại đến quyền của nước ven biển đòi hỏi, theo đúng luật lệ của nước này, một quốc gia khác phải xin sự chấp thuận trước từ hoặc báo trước cho nước ven biển để những chiến hạm của quốc gia này đi qua lãnh hải của nước ven biển.

Những tuyên bố này thay đổi đáng kể ý nghĩa của những điều khoản trong Quy Ước LHQ và trái ngược rõ ràng với luật biển thông thường. Trung Quốc đòi hỏi rằng đặc khu kinh tế không phải chỉ là ranh giới kinh tế (economic boundary) mà là ranh giới có chủ quyền (sovereign territory). Khi nới rộng ranh giới lãnh hải 200 hải lý, Trung Quốc cũng đòi hỏi rằng những hòn đảo không có người ở và những giải đá ngầm ở Biển Đông là lãnh thổ của Trung Quốc và như vậy sẽ có đặc khu kinh tế 200 hải lý từ mỗi đảo và thềm lục địa sẽ được nới rộng ra xa theo như Bắc kinh muốn. Sau cùng những tuyên ngôn trên nới rộng đáng kể những đặc quyền của Trung quốc, một nước ven biển, bằng cách đòi hỏi các chiến hạm đi qua trước hết phải xin giấy phép của Trung Quốc. Đây là một vi phạm Quy Ước LHQ về Luật Biển và luật lệ thông thường.

Quan điểm của chính quyền Trung Quốc có ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế vùng, vấn đề tự do lưu thông của phi cơ và thuyền bè, kể cả lực lượng hải và không quân Hoa Kỳ. Nếu Trung Quốc có quyền thi hành chủ quyền ở Biển Đông, tất cả những thương thuyền đi qua vùng biển này, bất kể mang cờ nào, cũng sẽ phải tuân theo luật lệ của Trung Quốc và bất cứ lệ phí nào, thuế và những giới hạn khác mà Trung Quốc chọn lựa để áp đặt. Ngoài ra, Trung Quốc sẽ có quyền đánh cá và khai thác khoáng sản ở Biển Đông mà những quốc gia ven biển khác dựa vào đó một phần lớn để sinh sống. Sau cùng việc Trung Quốc đòi hỏi các chiến hạm đi qua Biển Đông phải xin phép đương nhiên triệt tiêu quyền tự do lưu thông vô hại của các chiến hạm này. Hơn nữa, các chiến hạm đi qua vùng biển này sẽ chịu những giới hạn về hoạt động.

Nếu áp dụng vào Biển Đông những giới hạn này sẽ thu hẹp nghiêm trọng hoạt động của Hải Quân Hoa Kỳ và cản trở khả năng bảo vệ vận chuyển hàng hải của Hoa Kỳ và quốc tế. Hơn nữa, căn cứ vào quan điểm của Trung Quốc, những việc xẩy ra sau đây không phải là tình cờ và biệt lập: (1) tranh chấp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc về hoạt động của phi cơ do thám EP-3 gần đảo Hải Nam vào tháng Tư, 2001; (2) những hành động quấy rối hai chiến hạm của Hoa Kỳ USNS Impeccable và Victorious vào mùa xuân 2009; (3) Sự đụng độ giữa một tầu ngầm của Trung Quốc và chiến hạm USNS John McCain vào tháng Sáu, 2009; và (4) tập dượt hải quân để phô trương lực lượng mới đây ở vùng Hoàng Hải (Yellow Sea). Những sự kiện trên đây nằm trong chiến dịch của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông và rất có thể là vòng đầu trong trận đấu đang leo thang giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
1   2   3


i. John Pomfret, “U.S. takes a tougher tone with China,” Washington Post (July 30, 2010).



ii. Edward Wong, “China Hedges Over Whether South China Sea is a ‘Core Interest’ Worth War,” New York Times (March 30, 2011).


iii. Max Herriman, “China’s Territorial Sea Law and International Law of the Sea,” Maritime Studies 15 (1997). See also the discussion of China’s claim by Xavier Furtado in “International Law and the Dispute over the Spratly Islands: Whither unclos?” Contemporary Southeast Asia 21:3 (December 1, 1999).

------------------
*****


»» xem thêm

Tin từ TTX Vỉa Hè: Tàu Viking II lại bị cắt cáp

Nguồn: Ba Sàm

Nhận xét của Ba Sàm: 

17h30′ - Tin từ TTX Vỉa Hè: xác nhận chuyện tụi “lạ” gây sự với tàu Viking của ta, khoản 10 giờ sáng qua, tính lại cắt cáp lần nữa. May có tàu Hải quân ND anh hùng ra đuổi, nó cuốn gói liền. Nhưng chiều qua đã có chỉ đạo báo chí không đưa tin (vì ta “lấy chí nhân thay cường bạo” mà, lại thêm đã có “thỏa thuận” rồi, trúng dịp kỷ niệm thành lập cái băng … í quên … đảng bên đó). Tạm vài dòng vậy để bà con yên tâm.
-----------------------------
Vui vui:

Nguyên mẫu: Láng giềng hữu nghi, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai
--------------------------
Theo Hoangsa. org: Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, Lấn biển lâu dài, thôn tính tương lai
------------------------------
Theo Nguyễn Hữu Quý:
Láng giềng cướp giật, đểu cáng toàn diện, thôn tính lâu dài, lừa phỉnh tương lai.



Các bác thấy thế nào? góp vào cho vui nhé!
------------------
*****


»» xem thêm

Về đâu nước Việt?: Đập phá trụ sở công an, bệnh viện do thiếu nữ chết uẩn khúc

Thứ sáu, 01 Tháng 7 2011 08:38 
 
(GDVN) - Cô Dương Thị Thu Hiền, 17 tuổi, chết tại Bệnh viện Năm Căn và cả đêm 29 sáng 30/6, hàng trăm người đã mang quan tài cô gái này đi trên phố sau đó đập phá bệnh viện, nhà riêng bác sĩ, trụ sở công an, UBND huyện Năm Căn. Sáng 30/6, cơ quan công an đã tạm giữ 24 người, giải tán khoảng 1.500 người.

Cái chết uẩn khúc

Đêm 27/6, anh Lê Quốc Lơ cùng một số bạn bè tụ tập nhậu trên bãi đất trống ở khóm Sa Phô, thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Nửa chừng, Lơ thấy cô Dương Thị Thu Hiền (tên khai sinh là Dương Thị Thu Huyền) liền rủ vào. Nhậu đến nửa đêm, Lơ rủ tất cả đi hát karaoke tại và được một lát, Hiền đòi về nên Lơ mượn xe của một người để đưa về. Nhưng Lơ không chở về nhà mà chở Hiền ra đoạn đường vắng. Dọc đường, Hiền phản đối và nhảy xuống khi xe đang chạy nên bị trầy sát nhiều nơi trên người. Lơ đỡ Hiền đưa vào bụi cỏ bên đường.
Bệnh viện Năm Căn bị đập phá
Bệnh viện Năm Căn bị đập phá
 


Khởi tố 2 vụ án

Chiều 30/6, đại tá Lê Thanh Sơn, Trưởng công an huyện Năm Căn, thông tin: “Chúng tôi đã có đủ chứng cứ và đã ra quyết định khởi tố vụ án hiếp dâm, đồng thời tạm giữ hình sự Lê Quốc Lơ.


Liên quan đến việc xúi giục người nhà đưa xác nạn nhân đi đến một số cơ quan và nhà riêng BS để đập phá và lấy tài sản, chúng tôi cũng ra quyết định khởi tố vụ án “gây rối trật tự công cộng” và ra lệnh bắt khẩn cấp 16 đối tượng để điều tra”.
Khi nhóm bạn trở ra thì gặp Lơ và Hiền nằm ở đám cỏ bên đường. Lơ tỉnh táo, còn Hiền lờ đờ mệt mỏi nên cả nhóm đưa Hiền về nhà ngoại của Hiền gần đó. Chưa tới nhà ngoại của Hiền thì Hiền kêu mệt, bảo ngồi nghỉ một chút. Đám bạn bỏ về hết, Hiền nằm vật xuống đường.

Hơn 3 giờ ngày 28/6, người dân ở khóm Sa Phô phát hiện Hiền nằm bất tỉnh trên đường liền đưa vào nhà ngoại của Hiền và sau đó, Hiền được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Năm Căn lúc gần 9 giờ.

Đến khoảng 3 giờ 50 ngày 29/6, Hiền tử vong.
 
Người nhà Hiền nghi ngờ cô bị hãm hiếp nhưng các bác sỹ thăm khám nói, không rõ dấu vết hãm hiếp và cũng không rõ nguyên nhân chết. Nhưng người thân của Hiền và một số người nuôi bệnh nhân có mặt lại phản đối là bác sỹ không thăm khám và điều trị tận tình nên Hiền bị chết.

Đêm náo động

Khoảng 18 giờ ngày 29/6, một số người chở quan tài Hiền đến Bệnh viện Năm Căn, xô ngã cổng và tràn vào đập phá cửa kính, bàn ghế, đuổi đánh bác sĩ. PGĐ Bệnh viện Tô Văn Mứng kể: “Anh em y bác sĩ phải bỏ trốn hết cả, một số kẹt trong phòng bệnh thì phải hóa trang để lẩn trốn”.
Cửa sắt nhà bác sĩ Trần Thiện Thanh bị phá bung.
Cửa sắt nhà bác sĩ Trần Thiện Thanh bị phá bung.
 

Suốt đêm 29 rạng sáng 30, Bệnh viện Năm Căn không cấp cứu được bệnh nhân mới và không chăm sóc được hơn 200 bệnh nhân đang điều trị. Sở Y tế Cà Mau phải khẩn trương điều động xe cứu thương và bác sĩ của Bệnh viện đa khoa khu vực Cái Nước ở gần đó đến đưa 13 bệnh nhân rất nặng, đang thở ô- xy về chăm sóc.

Nhiều bệnh nhân khác tìm cách tự thuê xe đến các bệnh viện khác điều trị tiếp.

Những người quá kích kéo đến trụ sở Công an Năm Căn xô cổng rào, đập bể cửa kính của vọng gác. Tiếp đó, họ đến nhà bác sĩ đã có điều trị cho cô Hiền là Nguyễn Huy Tú và nhà của GĐ Bệnh viện Năm Căn Trần Thiện Thanh để đập phá.

Nhà của bác sĩ Nguyễn Duy Tú có mở phòng mạch kiêm bán dược phẩm bị đập phá tan tành. Gia đình bác sĩ Tú nhờ người ngoài che chở mới chạy thoát ra khỏi nhà, lánh nạn ở hàng xóm. Nhà bác sĩ Thanh bị xô bung cửa sắt, và 5 chiếc xe gắn máy, toàn bộ bàn ghế bị đập phá, chiếc tủ sắt cũng bị mở toang.

Trao đổi với phóng viên Báo Giáo dục Việt Nam, bác sỹ Thanh cho biết ông phải nhờ bà con xung quanh che chở mới chạy được Huyện ủy Năm Căn lánh nạn. Người nhà bác sỹ Thanh có 10 người gồm mẹ, vợ con và anh em bị dồn vào một phòng ở tầng 3, phải quỳ lạy mới được buông tha. 

Cuối cùng, quan tài cô Hiền được đưa đến đặt tại trụ sở UBND huyện Năm Căn.

Kinh hoàng

Bác sĩ Phan Văn Hiền, Phó GĐ Bệnh viện Năm Căn bàng hoàng: “Chưa bao giờ chúng tôi hoảng sợ như thế, suốt đêm không biết bấu víu vào đâu”. Sáng ngày 30/6, Bệnh viện Năm Căn vắng lặng, tan hoang, cửa kính bể rải đầy lối đi, bàn ghế bị xô ngã chỏng chơ. Chiếc cổng sắt bị xô đổ nằm chỏng chơ trên đất và còn bị giẫm lên vẹo vọ. Nhiều y bác sĩ chưa dám đến Bệnh viện.
Nhà bác sỹ Nguyễn Huy Tú bị đập tan hoang.
Nhà bác sỹ Nguyễn Huy Tú bị đập tan hoang.
 
Bác sĩ Huỳnh Trung Kiên, GĐ Sở Y tế Cà Mau tổ chức họp khẩn cấp để động viên đội ngũ y bác sỹ của Bệnh viện Năm Căn và hơn 100 bệnh nhân còn lại. Y bác sỹ bên Bệnh viện Đa khoa khu vực Cái Nước cũng đến chia sẻ với đồng nghiệp.

Đại tá Lê Thanh Sơn, Trưởng công an Năm Căn cho biết, qua điều tra ban đầu xác định Dương Thị Thu Hiền tử vong do chấn thương sọ não kín. Công an huyện Năm Căn đã tạm giữ Lê Quốc Lơ để điều tra hành vi nghi ngờ hiếp dâm Hiền. 

Thanh Hải

------------------
*****


»» xem thêm

Tin và ảnh: Robert Gates chia tay Lầu Năm Góc

Nguồn: Vitinfo
Thứ sáu, 01/07/2011, 16:40(GMT+7)
Robert Gates chia tay Lầu Năm Góc
VIT - Hôm 30/6, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates đã kết thúc 4 năm rưỡi cầm quyền tại Lầu Năm Góc, với một món quà bất ngờ từ Tổng thống Barack Obama.
 
Trong lễ chia tay được tổ chức trang trọng tại Lầu Năm Góc, ông Obama đã ca ngợi ông Gates vì những đóng góp của ông cho nước Mỹ, và tặng ông chủ Lầu Năm Góc Huy chương Tự do Tổng thống – phần thưởng cao quý nhất mà một vị tổng thống có thể trao tặng cho một dân thường.

Tổng thống Obama trao tặng Huy chương Tự do Tổng thống cho ông Robert Gates tại Lầu Năm Góc hôm 30/6/2011

“Tôi nghĩ không có cách nào tốt hơn bằng việc bày tỏ sự cảm kích của tôi đối với ai đó mà tôi khâm phục và người mà tôi coi là bạn. Tôi nghĩ không có cách nào tốt hơn trong việc bày tỏ lòng biết ơn của quốc gia đối với ông Gates với sự thừa nhận đặc biệt”.



Robert Gates duyệt đội danh dự tại lễ chia tay

Gọi phần thưởng trên là bất ngờ lớn, ông Gates cho biết ông thực sự vinh dự và xúc động trước món quà của Tổng thống. Ông cảm ơn cựu Tổng thống George W. Bush vì đã bổ nhiệm ông giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng trong năm 2006, và Tổng thống Obama vì đã tái bổ nhiệm ông trong khi thay đổi chính quyền vào năm 2009.

Ông Robert Gates, TT Barack Obama và Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, đô đốc Mike Mullen

Tháng 8 năm ngoái, ông Gates thông báo rằng ông sẽ từ chức bộ trưởng quốc phòng vào giữa năm nay. Người kế nhiệm ông – Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) Leon Panetta – sẽ đảm nhận chức vụ nào bắt đầu vào tháng Bảy.

Trang Lê (Theo THX)
Tin dịch
Nguồn tin: Xinhuanet

------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này