++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn di sản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn di sản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

"Đôi mắt rồng" trên cao nguyên đá Hà Giang

Nguồn: Beenet.vn
 
04/08/2011 11:32:07
Giữa miền khô khát bậc nhất cực Bắc của Tổ quốc, từ bao đời nay người dân hai thôn Lô Lô Chải và Thèn Tả (Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang) đã chứng kiến hai hồ nước trong xanh, quanh năm không bao giờ cạn.
Hai hồ nước này từ lâu đã được coi như một biểu tượng của Cao nguyên đá, cũng từ đó đã có rất nhiều câu chuyện truyền thuyết kỳ lạ được truyền trong dân gian.

"Nơi rồng ở"


Nhắc đến Cao nguyên đá Đồng Văn ai cũng nghĩ ngay đến một vùng toàn đá. Nơi đây được nhiều người biết đến là địa danh khan hiếm nước nhất nước ta. Để có nước sinh hoạt cho bà con, hàng tỷ đồng đã được đầu tư xây dựng khoảng 300 hồ treo trữ nước.
 
a
Ngay dưới chân đỉnh núi Rồng đã xuất hiện hai hồ nước lớn được ví như đôi mắt rồng với diện tích mặt hồ lên đến hàng nghìn mét vuông.

Tuy nhiên, những hồ nước nhân tạo đó cũng không cải thiện nguồn nước sinh hoạt cho bà con là bao, vì hằng năm vào mùa khô nhiều hồ vẫn trong tình trạng trơ đáy. Đó vẫn đang là bài toán chưa có lời giải của tỉnh Hà Giang và nhiều nhà khoa học tâm đắc.

Ấy vậy mà, từ bao đời nay, ngay dưới chân đỉnh núi Rồng đã xuất hiện hai hồ nước lớn được ví như đôi mắt rồng với diện tích mặt hồ lên đến hàng nghìn mét vuông, nước trong hồ quanh năm không bao giờ cạn. Đây cũng là nguồn nước chính cung cấp cho 86 hộ, 411 nhân khẩu đồng bào Lô Lô ở Làng văn hóa Lô Lô Chải, và gần 100 hộ dân thôn Thèn Tả. Điều đặc biệt hai hồ nước này cách nhau khoảng 200m ngay dưới chân đỉnh núi Rồng. Trên đỉnh núi Rồng là cột cờ Lũng Cú.
 
a
Cột cờ Lũng Cú nhìn từ trung tâm xã Lũng Cú.

Đứng trên cột cờ Lũng Cú du khách có thể "gói gọn" trong tầm mắt cả Làng văn hóa Lô Lô Chải và trung tâm xã Lũng Cú. Theo chị Đặng Thị Thanh, người dân làng văn hóa Lô Lô Chải, là hướng dẫn viên du lịch thì: "Lũng Cú là tên gọi theo tiếng Lô Lô còn gọi là "Long Cư", nghĩa là nơi rồng ở.
 
Chuyện kể rằng, xưa kia một con Rồng từ trên trời bay xuống và đậu trên ngọn núi cao nhất của khu vực hình chóp nón trên bản đồ Việt Nam. Rồng say sưa ngắm cảnh núi non hùng vĩ và rất hài lòng về điểm ngụ cư này. Song có điều làm Rồng động lòng trắc ẩn, đó là nơi đây rất thiếu nước sinh hoạt, bà con nhân dân vô cùng cực khổ.
 
 
Vì vậy, trước khi về trời, Rồng đã để lại đôi mắt cho dân làng như một nguồn nước cho cuộc sống sinh sôi nảy nở. Cũng từ đó hai hồ nước này được dân gian gọi là hồ mắt rồng, ngọn núi cao nhất này được gọi là núi Rồng".

Hồ nước không bao giờ cạn


Điều khó tin nhất là tại sao ở độ cao khoảng 1.400m so với mực nước biển mà hai hồ nước không bao giờ cạn, trong khi đó nhiều hồ nước nhân tạo mới được xây dựng đến mùa khô lại cạn. Ngay cả con sông Nho Quế nước cuồn cuộn chảy cũng gần như cạn kiệt vào mùa khô.
 
a
Đây cũng là nguồn nước chính cung cấp cho 86 hộ, 411 nhân khẩu đồng bào Lô Lô ở Làng văn hóa Lô Lô Chải, và gần 100 hộ dân thôn Thèn Tả.

Theo các cụ cao niên trong Làng văn hóa Lô Lô Chải và thôn Thèn Tả thì sở dĩ hai hồ nước không bao giờ cạn vì đây là đôi mắt của rồng tiên để lại, khi hồ nước vơi đi ít nhiều thì lại có những trận mưa cấp nước cho hồ.

Ở giữa hai hồ nước lớn là một quả núi nhỏ. Vì nó nằm ở giữa hai hồ nước nên nhiều người cho rằng đó chính là mũi của rồng. Trên núi là những ngôi nhà của người Lô Lô nhưng ít ai biết được trong lòng núi đó là hang nước. Đó là con suối nhỏ trong vắt, là nguồn nước uống chính của 411 người dân tộc Lô Lô và hàng trăm bà con dân tộc khác xung quanh. Nơi đây được bà con rất coi trọng, họ rất kiêng kỵ và gìn giữ, chính vậy mà bao đời nay hang nước này vẫn không hề có gì thay đổi.
 
a
Nơi đây vẫn là nơi được người dân coi trọng nhất, đó là nguồn sống, là biểu tượng của cả vùng Cao nguyên đá.

Ông Trình Dỉ Gai, trưởng bản Lô Lô Chải khi được hỏi về hai hồ nước được dân gian truyền rằng là hai mắt của rồng cũng không thể lý giải. Nhưng dù sao chăng nữa, nơi đây vẫn là nơi được người dân coi trọng nhất, đó là nguồn sống, là biểu tượng của cả vùng Cao nguyên đá bao gồm 4 huyện Yên Minh, Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc khô khát.
Hồ mắt rồng được hình thành trên dải núi cao cấu tạo từ đá vôi cứng xen với các dải đá vôi mềm có lẫn đất sét. Loại đất đá này rất cổ, khác với loại đá vôi ở phía nam Đồng Văn và Mèo Vạc - đá vôi tương đối thuần, là ở các dải đá mềm ở Lũng Cú chứa nhiều lớp đá sét (trên Lũng Cú, nơi nào núi cao là đá vôi cứng. Nơi nào thấp thường là đá vôi lẫn sét mềm).


Mặt khác, khi phong hóa, đá này để lại lớp đất sét dày, rất thuận lợi cho cây cối phát triển và con người sinh sống. Lớp đất đá sét này chính là tác nhân chắn nước để hình thành nên hồ nước. Các trũng thấp thường là nơi giao nhau của các dải đá mềm, nơi mà đá vôi, do quá trình phong hóa đã hòa tan theo nước mưa thấm chảy qua hang hốc vào lòng đất, đất sét không hòa tan, còn lưu lại.
Ở một số trũng, mức độ hòa tan của đá vôi mạnh hơn, hạ thấp nhanh, tạo nên phễu thu nước từ các khu lân cận. Trong các đợt mưa lớn, nước chảy mạnh, có thể cuốn theo đất đá và cây cối, chẹn lấp một phần đường thoát, giữ nước lại trong phễu, hình thành dần nên hồ nước. Vì phễu nằm thấp, nên nước ngầm trong các đồi núi xung quanh thấm dần vào hồ, giữ cho hồ có nước gần như quanh năm.
Ngoài ra, có thể phễu hình thành do sập hang động, hoặc con người xưa kia đã lấy đất đá lấp hang động để giữ nước - song có lẽ ít khả năng hơn. Cái chính là khu vực này có đá vôi xen đá sét nên mới có điều kiện chắn nước và giữ nước lại.

TSKH Vũ Cao Minh
(Viện Địa chất, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)

Hoàng Long
------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

Hang động bảy tầng giữa rừng Phong Nha - Kẻ Bàng

Nguồn: Beenet.vn

02/08/2011 17:31:58
Một hang động lồng lộng giữa rừng già Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình) đang gây sự chú ý lớn của nhiều người. Đó là hang bảy tầng, một "kỳ quan" do bàn tay con người xây dựng từ những năm tháng của chiến tranh.
Đi giữa đường kín

Người đi rừng vẫn kể cho nhau nghe hang động bảy tầng có nhiều dấu tích của bộ đội trong đó. Nhưng sự đặc biệt của nó là có sự can thiệt của bàn tay con người để biến một hang động cao cả trăm mét thành bảy tầng hang khác nhau là một kỳ công dưới bom đạn cách đây ngót hơn 60 năm.


Chúng tôi theo những người dân bản địa vào hang. Đi giữa miên man đường mòn nguyên bản của đường Trường Sơn năm xưa.


Hang bảy tầng thuộc xã Sơn Trạch, Bố Trạch, nằm trong phân khu hành chính của di sản Phong Nha-Kẻ Bàng. Dưới dốc táu cao chất ngất, có một lối rẽ nhỏ trên đường 20 - Quyết Thắng, lối ở khu vực rừng táu và sung cổ thụ ở gần ngầm Trạ Ang. Đó là con đường mòn năm xưa còn nguyên bản. Một đoạn đường kín chừng hơn ba cây số ngoằn nghoèo dưới tán rừng rậm.


Cựu chiến binh Nguyễn Văn Lam sống gần đó nói: “Đây là một phần đường kín của hệ thống đường Trường Sơn năm xưa còn nguyên. Từ sau 1975 đến nay, đường không được sử dụng nên cây cối đã mọc cao chừng một mét”. Đi giữa đường kín, nhìn rõ lằn xe chạy ngày xưa vẫn còn hằn lên lớp đá xanh kiên cố, không gian như níu về một thời chưa xa.


Hai bên đường kín còn đó những hố bom, nhiều đạn cối còn vương vãi khắp hai bên. Có một lối mòn dẫn vào một hốc đá cổ, ở đó như một kho đạn bị bỏ quên, trong đó chất đống nhiều quả đạn to, đầu nổ vẫn còn nhưng rỉ sét.


Đi hết ba cây số giữa rừng, một lối giao liên nhỏ dẫn vào một hang động mà thời chiến tranh, nó được coi là khu vực cực kỳ bí mật. Theo hồ sơ Di tích danh thắng Quảng Bình, đây một hang động bí mật nhất bởi ở đó Tư lệnh Trường Sơn, tướng Đồng Sỹ Nguyên đã ở cùng bộ chỉ huy trong một thời gian dài để ra những quyết sách chiến lược ở chiến trường Trường Sơn.


"Kỳ quan" bảy tầng


Con đường nhỏ dẫn vào một khu rừng thoáng đãng với hàng trăm cây thân gỗ cao vút hàng chục mét. Giữa không gian đó bổng hiện lên một dốc đường cong cong, vắt vẻo lên sườn núi đá vôi. Đó là bậc thang được xây từ cách đây hơn 60 năm giữa rừng già, núi cao. Vôi vữa của hàng chục năm trước vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Giữa rừng sâu lạnh giá, còn hằn nguyên bàn tay xây dựng của con người qua hàng chục năm là điều kỳ lạ hiếm gặp. 62 bậc thang lên xuống men theo sười núi đá vôi, lẫn khuất giữa trùng điệp tán rừng, hết sức héo lánh. Càng lên cao, càng thấy màu xanh của dây leo rừng vươn ra cố phủ hết lối đi. Đã hàng chục năm rồi chưa có bước chân người.


Lên hết các bậc tam cấp là hang bảy tầng. Trong hang, không gian thoáng mát, rộng hàng trăm mét, cao hơn một trăm mét. Hang có hai cửa, cùng một bục xi măng có nhiều dấu ấn của khói đạn ngày xưa với nhiều dòng chữ viết bằng than đè lên nhau. Trong đó ấn tượng nhất là những hình ảnh chim bồ câu tung cánh...


Lòng hang như một khán phòng vĩ đại đã được xây dựng thành bảy tầng ngoạn mục. Cựu chiến binh Nguyễn Văn Lam nói rằng lúc ông phục vụ trong hang, ông được cử đi gùi đá phía ngoài hang về xây. Cát đưa từ dưới Phong Nha lên, xi măng phải viện trợ từ miền Bắc vào. Tất cả đều gùi giữa rừng, từng gùi một như đàn kiến thợ chăm chỉ xây tổ. Cần mẫn trong ba tháng, bảy tầng hang hình thành. Và trong đó một thời rất nhộn nhịp với máy móc.


Cả bảy tầng được xây dựng một cách kỳ công nhưng không đập vỡ mảnh thạch nhũ nào. Ông Lam nói: “Thủ trưởng chúng tôi yêu cầu giữ nguyên cảnh quan thạch nhũ trong hang vì sau này hoà bình còn phục vụ mục đích khác”. Chính vì thế mà sự mê hoặc, vẻ lộng lẫy ở đây vần còn diễn tả bằng hình ảnh thực tế hôm nay. Chính vì thế mà không gian của hàng trăm triệu năm vẫn được tồn tại cho đến bây giờ.


Lâu lắm rồi không có ai trở lại, người lính năm xưa nay đã già không nhận ra các địa hình địa vật chốn cũ từng nhộn nhịp những lời nói í ới từ sáng tinh mơ đến nhiều trận chạy vào hang trú bom của tháng năm khói lửa. Nén nhang kính lên giữa núi rừng niềm mong mỏi nơi này không bị lãng quên.


Giá như có tuyến hành hương về hang động này, chắc chắn nhiều cựu binh muốn trở lại đây. Trở lại một chốn xưa lịch sử.

 Con đường kín ngày xưa xe cơ giới chạy nay cây cối phủ tràn mặt
            đường.
Con đường kín ngày xưa xe cơ giới chạy nay cây cối phủ tràn mặt đường.
d
Đạn cối dọc đường đi.
3
Lối dẫn lên tầng hai.
3
Lối dân lên tầng ba.
5
Chúng tôi đặc biệt chú ý về một câu khẩu hiệu trong hang ở tầng một, tại vị trí cầu thang dẫn lên tầng hai một khuôn đá hình vuông sơn dòng chữ: “Đảng Lao Đông Việt Nam muôn năm”.
r
Lối lên tầng năm.
e
Một góc hang bảy tầng.
 (Theo SGTT)

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011

Thành nhà Hồ không chỉ bằng đá

Nguồn: danviet.vn

Thành nhà Hồ không chỉ bằng đá

(Dân Việt) - Thành nhà Hồ vì thế không chỉ lưu dấu vật chất của đất đá, cỏ cây, nó còn là một chứng tích tinh thần của lịch sử, của truyền thống, của bài học “Chở thuyền, lật thuyền mới biết sức dân mạnh như nước”...

Cố nhiên, đặc sắc chính của Thành nhà Hồ là đá. Những khối đá to nặng được xếp liền nhau tạo nên bức tường thành đồ sộ bao quanh cả một khu kinh đô. Cho đến bây giờ người ta vẫn chưa biết được cách thức vận chuyển và xây dựng khu thành này. Một cách thức xây thành đột biến ở Việt Nam, trước chưa từng thấy, sau không có lại.

Trải hưng phế bao đời, trải mưa nắng đất trời, một kinh đô xưa giờ chỉ còn lại mấy đoạn tường thành với đá trơ gan cùng tuế nguyệt. Thành nhà Hồ đã là Di tích lịch sử quốc gia lâu nay. Bây giờ nó được UNESCO xét công nhận là Di sản Văn hóa thế giới. Đó là sự ghi nhận một giá trị kiến trúc xây dựng của Việt Nam vào kho tàng di sản chung của nhân loại.

Đến Thành nhà Hồ, đi qua các cổng thành còn lại, ngắm nhìn khối tường thành đá còn sót lại chạy dài trên một bình địa xưa là cung điện lâu đài nay là ruộng đồng, du khách vừa kinh ngạc trước sức mạnh của người xưa, vừa cảm thấu cái lẽ hưng vong lịch sử.

Hồ Quý Ly rắp tâm lấy ngôi nhà Trần nhưng thâm tâm ông hiểu sự không chính danh của mình nên đang ở Thăng Long (Đông Đô) mà ông đã cho xây dựng ở vùng quê Thanh Hóa một kinh thành mới Tây Đô.

Xét về lịch sử phát triển của các triều đại thì đó là một sự đi lùi. Khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Đại La là từ rừng núi về đồng bằng, là từ quân sự chuyển sang phát triển hòa bình. Thành Tây Đô của Hồ Quý Ly ban đầu là một căn cứ quân sự, một chỗ phòng thủ, làm căn cứ địa cho nhà Hồ lui về từ Thăng Long.

Hồ Quý Ly đã cho xây dựng nơi đây bằng những khối đá lớn chính nhằm mục đích tạo lập một tòa thành kiên cố, vững chắc, chống chọi được với những sự công kích từ bên ngoài. Đến khi nhà Hồ lên ngôi, Tây Đô thành kinh đô của triều đại mới.

Thời gian tồn tại của triều nhà Hồ chỉ có 7 năm, kinh đô chưa thành hình đầy đủ đã đổ sụp. Phút chốc bãi bể hóa nương dâu, bao dinh thự lâu đài tiêu biến, trơ lại đất hoang. Chỉ còn những khúc thành đá như một đoạn tráng ca khóc người chí lớn tài cao mà thời vận không có vì không được lòng dân.

Thành nhà Hồ vì thế không chỉ lưu dấu vật chất của đất đá, cỏ cây, nó còn là một chứng tích tinh thần của lịch sử, của truyền thống, của bài học “Chở thuyền, lật thuyền mới biết sức dân mạnh như nước” mà Nguyễn Trãi đã rút ra từ bài học nhà Hồ.

Rồi đây, ở vị thế một di sản thế giới, Thành nhà Hồ sẽ thu hút nhiều khách thăm, tìm hiểu. Và cái hiểu sâu nhất cần làm bật lên từ những khối đá im lìm mang đậm dấu ấn thời gian kia là ở bất kỳ thời nào, lòng dân luôn là khối đá bền vững nhất cho sự trường tồn của một quốc gia, dân tộc.


------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này