++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn công hàm1958. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn công hàm1958. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

Ý kiến của đọc giả Nguyễn Việt Thanh về phương pháp giải quyết công hàm của TT Phạm Văn Đồng.

Đôi lời của Quý-Blog: 

Trong bài BIỂU TÌNH NGÀY CHỦ NHẬT 24.07.2011, đăng trên Blog Nguyễn Xuân Diện ngày 21/7/2011, chủ Blog đã thấy có một comment của đọc giả Nguyễn Việt Thanh toàn bộ nội dung như sau, và mong được toàn thể bạn đọc có ý kiến, và đặc biệt là các vị mà đọc giả Nguyễn Việt Thanh đã nhắc các tên dưới đây, chúng ta cùng nghiên cứu để cùng tìm giải pháp.  

Xin phép TS Nguyễn Xuân Diện và đọc giả Nguyễn Việt Thanh xin được đăng tin này.  

Chân thành cám ơn các bạn đã ghé thăm và có ý kiến.




(Trân trọng nhờ TS Diện chuyển tải qua blog)



Kính gửi: ông Nguyễn Nhã, ông Hoàng Việt, ông Đinh Kim Phúc, ông Trần Trường Thủy và các học giả về biển Đông. 

Trung Quốc dựa chính vào 2 tài liệu để đòi chủ quyền đối với Biển Đông của Việt Nam là Tuyên bố của Chu Ân Lai ngày 4/9/1958 và công hàm của Phạm văn Đồng ngày 15/9/1958. Thay vì tranh cãi với TQ về hiệu lực của công hàm của TT Phạm văn Đồng Việt Nam có thể sử dụng cách tiếp cận khác là phủ định chính Tuyên bố của Chu Ân Lai, nếu chứng minh được tuyên bố đó vô hiệu thì đương nhiên chả cần bàn đến công hàm của Phạm văn Đồng nữa. 

Năm 1954 TQ là bên tham gia Hiệp định Geneve nên phải tuân thủ Hiệp định này là tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với HS, TS. Tuy nhiên, năm 1956 TQ đã đánh chiếm 1 phần HS như vậy là vi phạm hiệp định Geneve. 

Đến năm 1958, TQ lại đơn phương đưa ra tuyên bố của Chu Ân Lai, tiếp tục vi phạm hiệp định Geneve mà TQ đã ký kết, do đó đương nhiên Tuyên bố ngày 4/9/1958 của TQ là vô hiệu. 

Không dừng ở đó, dựa trên tuyên bố đơn phương không có căn cứ pháp lý này TQ đã đánh chiếm HS năm 1974 giết hại hơn 100 thủy thủ VNCH đang thực thi bảo vệ chủ quyền được Hiệp định Geneve qui định. Do đó, có thể nói nếu xét theo "estopel" thì Tuyên bố của Chu Ân Lai bị vô hiệu đầu tiên, sau đó mới đến công hàm của Phạm Văn Đồng. 

Ngoài ra, Việt Nam với tư cách là chủ thể thay thế VNCH có thể khởi kiện TQ ra Tòa án tội phạm chiến tranh vì đã vi phạm luật pháp quốc tế, giết hại quân đội VNCH năm 1974 tại HS và CHXHCNVN năm 1988 tại TS. Hiện nay không thể kiện TQ ra Tòa án về luật biển vì TQ không chịu, nhưng nếu kiện ra Tòa án hình sự quốc tế về tội phạm chiến tranh thì không cần sự đồng ý của TQ. 

Liệu có phải đây là điều TQ sợ nhất không? Nếu Tuyên bố 4/9/1958 của Chu Ân Lai vô hiệu theo Hiệp định Geneve thì toàn bộ yêu sách về biển Đông của TQ bị "sụp đổ". Việt Nam đi theo hướng này có được không? Rất mong các chuyên gia cho ý kiến. 

Nguyễn Việt Thanh

Hà Nội


----------------------------------------------------------
Bài đăng trên SGTT.VN ngày 21/7/2011 
 
Cựu bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm:

“Không ai có thể xuyên tạc chủ quyền của Việt Nam”

SGTT.VN - Cựu bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm rất quan tâm đến tình hình Biển Đông. Ngày 21.7, là khách mời dự thính phiên họp của Quốc hội, trong giờ nghỉ giải lao, ông đã trả lời phóng viên báo Sài Gòn Tiếp thị về quan điểm của ông trong vấn đề Biển Đông; bảo vệ chủ quyền với các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa trước những hành động xâm phạm mới đây của Trung Quốc. 

Theo ông, tại kỳ họp lần này, Quốc hội nên dành thời gian thích đáng để thảo luận về vấn đề Biển Đông và ra một nghị quyết tuyên bố về bảo vệ chủ quyền của Việt Nam với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa ?  
Cựu bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm.

Theo tôi biết, kỳ này Quốc hội cũng sẽ được nghe báo cáo về tình hình Biển Đông. Trong chương trình kỳ họp, tôi thấy có nêu việc này. Tôi tin rằng, Quốc hội sẽ lắng nghe, có thái độ và ý kiến. Vừa qua, tôi thấy đảng, Chính phủ cũng đã nói rõ quan điểm về lẽ phải của ta trong vấn đề chủ quyền với Hoàng Sa, Trường Sa và sự sai trái của nước khác đối với chủ quyền của ta rồi. 

Nhưng theo tôi, vẫn cần phải tiếp tục thông tin, tuyên truyền cho rõ hơn. Vừa rồi, bộ Giáo dục và đào tạo đã đưa nhiều hơn thông tin về vấn đề chủ quyền về Trường Sa, Hoàng Sa vào sách giáo khoa thì tôi thấy cũng rất là cần thiết.

Việc Trung Quốc thông báo chuẩn bị đem dàn khoan hiện đại ra thăm dò, khai thác dầu khí ở biển Đông… chúng ta phải có thái độ với việc này thế nào, thưa ông?

Từ hồi đầu tháng 7.2011 họ có đưa ra (thông tin) này nhưng rồi cũng chùng lại một thời gian. Chưa biết sẽ thế nào nhưng nếu có vấn đề như vậy thì tất nhiên chúng ta cũng phải kiên quyết đấu tranh, nhưng cũng không nên tạo ra sự phức tạp vì nó không chỉ liên quan đến chúng ta và một số nước khác nữa. Chắc chắn là các nước có liên quan cũng không đồng tình (về việc Trung Quốc đưa dàn khoan ra khai thác dầu khí ở Biển Đông - PV). Về vấn đề này, nếu chúng ta có sự trao đổi với các nước thì tôi tin là các nước họ cũng ủng hộ chúng ta. Nên nếu nước nào họ cố tình vi phạm (về chủ quyền của Việt Nam - PV) thì cuối cùng chúng ta cũng sẽ bảo vệ được chủ quyền của mình.

Phía Trung Quốc luôn muốn đàm phán song phương về những vấn đề mà tự họ cố ý gây ra, tạo ra tranh chấp. Theo ông, Việt Nam phải có thái độ, quan điểm thế nào về việc này?
Tàu Trung Quốc trong lần xâm phạm chủ quyền của Việt Nam. Ảnh: Petrotimes

Ở đây có hai chuyện khá rõ. Về vấn đề chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa, chủ yếu chỉ có ta và Trung Quốc thì là phải giải quyết 2 bên. Nhưng về vấn đề chủ quyền với quần đảo Trường Sa thì nó liên quan đến nhiều bên, ít nhất là 6 bên. Mà nói đến yêu sách của Trung Quốc, đường chữ U, chín đoạn chiếm tới 80% diện tích Biển Đông thì còn liên quan đến nhiều nước khác nữa về vấn đề tự do lưu thông hàng hải. Do đó, vấn đề chủ quyền ở đây không thể nào đàm phán song phương được mà phải có sự tham gia của nhiều nước liên quan. 

Ở đây nếu như chỉ có hai nước đàm phán với nhau thì các nước khác họ không đồng ý, dù có thống nhất đàm phán được thì kết quả cũng không được chấp nhận.
Cho nên, dù Trung Quốc nói thế nào nhưng tôi tin câu chuyện này cuối cùng Trung Quốc cũng phải chấp nhận một nghị quyết đa phương. Quan điểm của chúng ta cũng rất rõ ràng rồi: cái gì song phương thì giải quyết song phương, cái gì liên quan đến nhiều bên thì đàm phán đa phương. 

Từ khi xảy ra vụ Trung Quốc cắt cáp lần đầu với tàu thăm dò dầu khí của PVN đến nay, dư luận quốc tế đa số ủng hộ Việt Nam và phản đối Trung Quốc về việc xâm lấn cả vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Theo ông, Việt Nam cần làm gì tiếp theo để tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế? 
Tàu cá xa bờ huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) mang theo cờ tổ quốc trong lúc hành nghề trên biển Đông, góp phần khẳng định chủ quyền lãnh hải. Ảnh: M.Đ

Mình cần phải đẩy mạnh tuyên truyền hơn, vì không phải nước nào trên thế giới họ cũng biết rõ câu chuyện này. Lịch sử vấn đề này thế nào, chúng ta có chủ quyền với Hoàng Sa, Trường Sa từ bao giờ, mình có chủ quyền và thực thi chủ quyền từ nhiều thế kỷ nay, ít nhất đã rõ từ thời triều đại nhà Nguyễn rồi thì chúng ta phải làm cho rõ. Họ hiểu rõ thì họ sẽ ủng hộ quan điểm của mình. Vì thực tế có nước họ tuyên bố chủ quyền nhưng họ không có thực thi chủ quyền. Trong thời đại ngày nay, thông tin tuyên truyền là rất cần thiết. Thế giới càng ủng hộ thì không ai có thể thay đổi được chủ quyền mà ta khẳng định được. 

Những gì mình làm vừa qua, theo công ước luật Biển của Liên hợp quốc thì mình đã làm rất đúng về lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế rồi. Khai thác dầu khí ta cũng đã làm trong phạm vi đấy. Cho nên, lâu nay có ai nói gì. Bây giờ tự nhiên (Trung Quốc) nêu ra, đặt lại vấn đề là không đúng. Cho nên, tôi nhấn mạnh là chúng ta vẫn phải thông tin cho thế giới thấy rõ hơn.

Quan điểm của chúng ta là bao giờ cũng phải giải quyết vấn đề một cách hòa bình. Chúng ta phải dựa trên 2 cơ sở quan trọng nhất: đó là luật pháp quốc tế mà cả thế giới người ta thừa nhận; thứ hai là công ước 1982 về luật biển của Liên hiệp quốc. Chúng ta có chủ quyền rất rõ về vùng biển, đảo, vùng đặc quyền kinh tế mà thế giới cũng đã thừa nhận. Chúng ta cần phải tuyên truyền, làm rõ hơn, chứng minh cho thế giới biết là chủ quyền về Hoàng Sa, Trường Sa chúng ta có từ lâu rồi. Không ai có thể xuyên tạc lịch sử, làm trái lẽ phải được. 

Chúng ta làm rõ để nhân dân bảo vệ, thế giới thấy rõ điều đó. Việc đó để các nước họ ủng hộ lập trường của chúng ta trong vấn đề Biển Đông, để dù cho ai cố ý gây hấn, làm phức tạp thì cũng không xóa bỏ được thực tế này.

Phía Trung Quốc tuyên truyền cho dân của họ về chủ quyền vùng biển trong hình chữ U, đường 9 đoạn của họ mà các nước trong đó có Việt Nam xâm phạm thì điều này có hại gì cho ta?

Họ làm như vậy để bảo vệ quan điểm của họ. Nhưng theo tôi, nhiều nước họ cũng hiểu là không ai có thể đòi hỏi chủ quyền một cách vô lý, trên một vùng biển quá rộng lớn như vậy. Cho nên, ta cũng phải đẩy mạnh thông tin ra bên ngoài về vấn đề này, vì có những nước ở châu lục khác họ không biết, không quan tâm đến vùng này. Mình nói ra họ mới hiểu.

Trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo thì theo ông phải tổ chức, hỗ trợ, đào tạo thế nào để ngư dân Việt Nam kiên trì bám biển, yên tâm sinh kế trên vùng biển của mình? 

Vừa rồi mình cũng đã có làm được việc cần thiết là thành lập các tổ, đội sản xuất trên biển. Nhưng theo tôi, ta cũng cần phải làm cho khéo, không cần thiết phải trang bị vũ khí cho các tổ đội này vì mình có lẽ phải của mình, có tập thể rồi thì bảo vệ cho nhau. Nhà nước thì cần có các tàu để bảo vệ các tổ đội, các tàu thuyền ngư dân để tránh việc các tàu thuyền nước ngoài bắt bớ, làm nhục ngư dân mình. Trong phạm vi chủ quyền của mình thì mình cứ đánh bắt, còn họ làm gì sai thì mình phải có quyền bảo vệ người dân của mình, bảo vệ quyền của mình.

Vài tuần qua, vào các ngày chủ nhật tại Hà Nội và TP.HCM xuất hiện các nhóm biểu tình có sự tham gia của một số nhân sĩ, trí thức, sinh viên… phản đổi việc Trung Quốc cố ý gây hấn trên vùng biển Việt Nam, làm phức tạp tình hình ở biển Đông. Ông suy nghĩ gì về sự kiện này?

Người dân họ không đồng tình với việc làm của các tàu Trung Quốc thì họ có quyền bày tỏ ý kiến một cách dân chủ. Họ biểu tình một cách hòa bình thì mình không nên làm gì thái quá…

Mạnh Quân (thực hiện)


------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (20/07/2011)

Nguồn: daidoanketvn

Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Đảo Núi Le thuộc quần đảo Trường Sa
Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau: 

"Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.

Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan. Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược "lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.

Ngày 26-5-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3-9-1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất. Ngày 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ "giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. Ngày 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này. Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ. 

Ngoài bối cảnh "phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH –Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em”. Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam. Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích "sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã "lồng ghép” thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.
Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên. Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu. Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực. Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế. Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.
Bức Công hàm ngày 14-9-1958 của
Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa
 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký
Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do. Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết "estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.

Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại "estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại "estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án "Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án "Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án "Ngôi đền Preah Vihear”...

Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó. 

Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ "nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu "miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”.
Nhóm PV Biển Đông
[Kỳ 25: Châu bản thời vua Bảo Đại khắc ghi
chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam]
[Kỳ 24: Châu bản thời Minh Mạng và Thiệu Trị khắc ghi
chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam]
[Kỳ 23: "Đường lưỡi bò” phi lý và tham vọng bá chủ
của Trung Quốc ở Biển Đông]
[Kỳ 22: Trung Quốc chưa bao giờ có chủ quyền
ở Hoàng Sa và Trường Sa]
[Kỳ 21: Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền
Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam]

[Kỳ 20: Cơ sở pháp lý quốc tế về sự thiết lập
chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo]

[Kỳ 19: Cờ Tổ quốc vẫn tung bay trên ngư trường Hoàng Sa]
[Kỳ 18: "Sinh Tồn” trên đại dương gió bão]
[Kỳ 17: Cô Lin - "Mắt thần” của biển]
[Kỳ 16: Trận chiến bảo vệ chủ quyền Trường Sa năm1988]
[Kỳ 15: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
giai đoạn sau 1991]

[Kỳ 14: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
giai đoạn 1975 - 1991]

[Kỳ 13: Ký ức Hoàng Sa trong nhiều thế hệ người Việt Nam]
[Kỳ 12: Trận hải chiến bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa
của Việt Nam năm 1974]

[Kỳ 11: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
giai đoạn 1954-1975]

[Kỳ10: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
giai đoạn 1945 -1954]

[Kỳ 9: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
thời Pháp thuộc]

[Kỳ 8: Hoàng Sa và Trường Sa trong thư tịch cổ Trung Hoa]
[Kỳ 7: Hoàng Sa-Trường Sa: Tư liệu cổ phươngTây]
[Kỳ 6: Hải đội Hoàng Sa thực thi chủ quyền]
[Kỳ 5: Thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa
của các triều đại Việt Nam ]

[Kỳ 4: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
trong thư tịch triều Nguyễn ]

[Kỳ 3: Chủ quyền biển đảo của Việt Nam từ các bản đồ
trong lịch sử]

[Kỳ 2: Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa
từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII]

[Kỳ 1: Vài nét địa lý tự nhiên thuộc vùng biển Việt Nam]
------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này