++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bùi Công Tự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bùi Công Tự. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2011

Bùi Công Tự: Nhân sỹ trí thức và trách nhiệm phản biện xã hội

Nguồn: Blog Nguyễn Xuân Diện



NHÂN SĨ TRÍ THỨC VÀ TRÁCH NHIỆM PHẢN BIỆN XÃ HỘI
BÙI CÔNG TỰ


Ngày trước, kể cũng chưa xa lắm, trong sinh hoạt tại các cơ quan đoàn thể, chúng ta hay nói câu “đoàn kết có đấu tranh”. Tức là không nên đoàn kết xuôi chiều, dĩ hòa vi quý mà phải thực hiện “phê bình và tự phê bình” để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Ngày ấy nhiệt tình cách mạng rất cao nhưng hiểu biết còn ấu trĩ. Do đó trong công tác có nhiều sai lầm khuyết điểm, có khi trầm trọng là không tránh khỏi. Nhờ thực hiện “phê bình và tự phê bình” mà ý thức chính trị tư tưởng, tư cách đạo đức được nâng cao, tác phong sinh hoạt được tiến bộ. Cán bộ Đảng viên, đội viên nhận ra thiếu sót, sai lầm của mình mà tự giác sửa chữa dưới sự giám sát của tập thể, của bạn bè, đồng chí và của nhân dân. Ngày ấy cũng ít có chuyện vì phê bình thủ trưởng mà bị trù úm. Ở cơ quan tôi có chuyện đồng chí vợ đem đồng chí chồng ra phê bình kịch liệt trước chi bộ. Khuyết điểm của hai đồng chí này được chi bộ mổ xẻ, phân tích có tình có lý. Nhờ thế mâu thuẫn nội bộ gia đình đó được giải quyết sau cuộc cọ xát nảy lửa.


Tuy nhiên việc “phê bình và tự phê bình” thường mới ở mức người này phê bình người kia, tập thể phê bình cá nhân hoặc cá nhân tự phê bình, chứ ít khi có chuyện một người dám lên tiếng phê phán cơ quan, đơn vị, cấp chính quyền. Càng chưa có chuyện phê phán các chủ trương chính sách vì chủ trương chính sách là luôn luôn đúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phê bình và tự phê bình. Người đã viết nhiều bài báo với nội dung trên, nổi tiếng nhất là tác phẩm “sửa đổi lối làm việc”(ký tên XYZ).

Nhưng rồi dần dà việc phê bình và tự phê bình đã không còn được coi trọng nữa. Nhất là thủ trưởng các cấp từ trên xuống dưới không ai muốn bị phê bình, càng không muốn tự phê bình. Có chăng thì phê bình theo kiểu như anh chánh văn phòng nọ kịch liệt phê bình thủ trưởng mắc khuyết điểm nghiêm trọng là làm việc quá nhiều, vì việc chung mà quên ăn quên ngủ đến phạc phờ ngọc thể.

Tình hình diễn biến xấu theo chiều hướng hễ ai có ý kiến phê bình cơ quan, đơn vị hay cá nhân lãnh đạo là liền bị chụp cho cái mũ ghen ăn tức ở, chọc ngoáy, quá khích, có âm mưu thủ đoạn này nọ hoặc thậm chí bị quy là phản động. Không ít người vì phê bình lãnh đạo, phản ánh trung thực một hiện tượng tiêu cực hoặc góp ý cho một chủ trương nào đó mà bị cô lập, bị kỷ luật hoặc bị trả thù. Có khi vướng vòng lao lý. Thật là một thực tế đáng buồn!

Tuy nhiên cuộc sống luôn tiếp diễn. Những lực lượng tiến bộ của xã hội đã không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những sai lầm có thể phương hại cho đất nước. Một phong trào phản biện đã xuất hiện mấy năm qua như các bạn đã thấy.

Phản biện là phê bình phát triển lên trình độ cao. Đối tượng của phản biện thường là các chủ trương chính sách được đề ra bởi các cơ quan nhà nước các cấp hoặc của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội mà xã hội thấy có vấn đề. Vì thế khác với phê bình, không phải ai cũng có thể phản biện. Người phản biện phải là người có khả năng trình bày lập luận, có trình độ cao trong một lĩnh vực chuyên môn, nắm được lý luận và thực tiễn, có nhiều hiểu biết về dân tộc và thế giới. Tất nhiên phải có bầu máu nóng dành cho đất nước và nhân dân, cũng như phải có gan phản biện.

Cũng có khi đối tượng của phản biện là những quan điểm, cách hành xử của các cá nhân nhưng có liên quan đến quốc gia và cuộc sống của nhân dân. Hiển nhiên những cá nhân đó không thể là anh Tèo hay cô Kếu.

Nhà nước phong kiến khi xưa có chức “gián quan” chuyên làm bổn phận can gián nhà vua. Nhà nước ta ngày nay không cơ cấu chức gián quan thì ai sẽ đảm nhiệm việc can gián nhà nước trước nguy cơ có thể mắc sai lầm?

Xin thưa, xã hội giao phó việc “can gián quốc gia” tức là việc phản biện cho tầng lớp trí thức.

Tôi xin có đôi câu về tầng lớp này. Theo quan niệm chính thống cứng nhắc thì tất cả những ai có học vấn cao đẳng trở lên đều gọi là trí thức. Nhưng tôi tán thành quan điểm của GS Chu Hảo: “Trí thức là tầng lớp tinh hoa của dân tộc và phải có hai phẩm chất quan trọng: độc lập tư duy và có năng lực phản biện xã hội, dám chịu trách nhiệm về phản biện của mình”.

Quan niệm như vậy thì những loại trí thức như trí thức trục lợi, trí thức nô lệ, trí thức robot, trí thức giả cầy (từ của Đông A) … đều không được coi là trí thức.

Còn nhân sĩ trí thức là ai ?

Theo tôi cụm từ “nhân sĩ trí thức” dành cho những người tiêu biểu nhất trong giới trí thức theo định nghĩa bên trên của GS Chu Hảo. Tôi muốn nhấn mạnh thêm đó còn là những vị có uy tín xã hội cao và dám dấn thân.

Ở nước ta hiện nay có một số vị nhân sĩ trí thức tham gia trong Mặt trận Tổ quốc, còn trong Quốc hội và các cơ quan nhà nước thì rất ít. Nhưng trong quá khứ những tên tuổi như Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Đặng Thai Mai, Cù Huy Cận, Phạm Ngọc Thạch, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Văn Hiếu, Huỳnh Tấn Phát, Dương Bạch Mai, … và rất nhiều tên tuổi nổi tiếng khác đã từng là những yếu nhân của quốc gia có đóng góp to lớn cho dân tộc và đất nước, mặc dù nhiều vị không phải là Đảng viên.

Tôi mong các bạn trẻ hãy tìm đọc tiểu sử của các vị nhân sĩ trí thức nói trên. Tôi tin rằng các bạn sẽ được khích lệ rất nhiều trong bước đầu đồng hành cùng dân tộc.

Xin trở lại nội dung phản biện đã đề cập ở trên.

Ở nước ta hiện nay, các nhà lãnh đạo chủ yếu là “con nhà nòi” về chính trị chứ không phải “con nhà nòi” về các lĩnh vực chuyên môn như luật pháp, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật. Đó là thực tế. Bộ máy tham mưu lại gồm toàn những người tuy đầy mình bằng cấp, học vị nhưng không thích phản biện hoặc không có khả năng phản biện. Trong khi đó biết bao nhiêu việc “quốc gia đại sự” cần phân tích rõ đúng, sai, cần nhiều ý kiến đóng góp để đi đến chân lý. Tức là cần phản biện.

Do đó các nhân sĩ trí thức đã tự nguyện lãnh trách nhiệm phản biện xã hội. Họ không làm thì không có ai làm. Họ làm vì lợi ích của đất nước, của dân tộc chứ không phải vì bản thân họ hay gia đình họ.

Trong tình hình nước ta hiện nay, phản biện xã hội còn là một sự dấn thân, có khi còn là nguy hiểm nữa.

Nhưng đất nước ta đúng là “tuy mạnh yếu có lúc khác nhau/ song hào kiệt đời nào cũng có”. Chúng ta đã được biết những bài phản biện của các học giả thật sự là những công trình nghiên cứu lớn như về chính trị của nhà nghiên cứu Nguyễn Trung, GS Nguyễn Huệ Chi; về giáo dục của GS Hoàng Tụy, GS Nguyễn Đăng Hưng, nhà giáo Phạm Toàn; về văn hóa của nhà văn Nguyên Ngọc, GS Ngô Đức Thịnh, GS Nguyễn Văn Huy; về kinh tế của TS Lê Đăng Doanh, TS Nguyễn Quang A, chuyên gia Phạm Chi Lan và rất nhiều người khác; về điện hạt nhân của GS Phùng Liên Đoàn (Việt kiều) và nhiều người khác; về bauxit của TS Nguyễn Thanh Sơn và nhiều người khác; về đô thị của KTS Trần Thanh Vân, GS Phạm Ngọc Đăng…

Tham gia phản biện cùng các nhân sĩ trí thức còn có các vị nguyên là lãnh đạo nhà nước hoặc cán bộ cao cấp như Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, GS Chu Hảo, GS Nguyễn Minh Thuyết, …

Có những vị chỉ phát biểu ý kiến phản biện của mình trong vài dòng ngắn gọn nhưng sâu sắc, xác đáng nên được nhân dân ca ngợi tán đồng. Đặc biệt có nhiều học giả Việt kiều ở nhiều châu lục đã gửi bài về nước đóng góp phản biện nhiều ý kiến rất giá trị như GS Trần Văn Thọ (Nhật), GS Nguyễn Đăng Hưng (Bỉ), GS Phùng Liên Đoàn (Mỹ), TS Vũ Minh Khương, TS Giáp Văn Dương (Singapore), GS Nguyễn Văn Tuấn (Úc), …

Hoạt động phản biện của giới nhân sĩ trí thức mấy năm qua đã trở thành phong trào. Những nhà lãnh đạo quốc gia dù muốn hay không cũng không thể không quan tâm. Đặc biệt các đại biểu Quốc hội nhiều vị cho biết đã đọc các bài phản biện trên mạng internet. Kết quả rõ rệt nhât là Quốc hội đã không thông qua dự án đường sắt cao tốc. Dự án bauxit phải cam kết có sự điều chỉnh, cam kết bảo đảm an toàn hồ chứa bùn đỏ và môi trường. Thành phố Hà Nội phải hủy bỏ việc xây khách sạn trong công viên Thống Nhất, xây trung tâm thương mại trong khu di tích “chợ âm phủ”, … Tuy nhiên còn nhiều ý kiến phản biện của giới nhân sĩ trí thức bị các cơ quan nhà nước bỏ ngoài tai. Nhiều bản kiến nghị tâm huyết không được trả lời. Thậm chí VTV còn gọi trang bauxitvn là phản động. Việc làm đó đã hạ bậc tín nhiệm của giới nhân sĩ trí thức với đài truyền hình quốc gia xuống nhiều bậc.

Tôi nghĩ nếu các vị học giả cứ phản biện theo kiểu “kính mong” (chữ của GS Nguyễn Lân Dũng) thì chắc sự lạnh nhạt không đến nỗi băng giá. Nhưng nhân sĩ trí thức hơn ai hết là người trọng danh dự và không biết sợ hãi. Những nhân sĩ trí thức phản biện là những người đứng ở hàng đầu nguyên khí quốc gia.

TP Hồ Chí Minh, 16/08/2011.

*Bài do BCT gửi trực tiếp cho NXD-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!

------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

Bùi Công Tự: Những thách thức đang chờ đợi Chính phủ mới

Nguồn: Blog Nguyễn Xuân Diện





MỘT GÓC NHÌN KHÁC VỀ NHỮNG THÁCH THỨC CHỜ ĐỢI CHÍNH PHỦ MỚI

Bùi Công Tự


Vừa qua GS Nguyễn Minh Thuyết và nhà nghiên cứu Phạm Chi Lan, mỗi người bằng cách nói riêng, đều đã đưa ra “năm thách thức” đối với chính phủ nhiệm kỳ II của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nội dung được đăng tải trên nhiều phương tiện thông tin, trong đó có Nguyễn Xuân Diện blog.

Tôi hoàn toàn tán thành ý kiến của hai vị học giả. Tuy nhiên nhận thấy do là bài trả lời phỏng vấn, nội dung phụ thuộc vào cách hỏi ý kiến của nhà báo, cho nên cả GS Nguyễn Minh Thuyết và bà Phạm Chi Lan đều chưa có điều kiện phân tích các nguyên nhân đưa đến những thách thức đó.

Tôi liên tưởng đến cách làm phim của các nhà điện ảnh. Khi quay phim, người ta đặt máy quay ở nhiều góc độ, xa gần khác nhau. Tôi cũng muốn từ một góc nhìn khác (với hai tác giả nói trên) để đưa ra những nhận định của mình đối với những thách thức của hiện tình đất nước đang chờ đợi tân chính phủ.

Những ý kiến của tôi được hệ thống thành “năm thách thức” như sau:

1-Thách thức thứ nhất là sự suy giảm lòng tin của nhân dân.

Điều này đã được nhiều người phản ánh, mới đây nhất là phát biểu của nhà sử học đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc tại Quốc hội ngày 6/8/2011.

Nỗi bức xúc của người dân có thể thấy ở khắp nơi, trong mọi giai tầng xã hội. Nguyên nhân làm cho dân chúng bất bình là tổng hợp tất cả những vấn nạn kinh tế xã hội càng ngày càng nhức nhối, chưa thấy có lối thoát. Người dân tự hỏi, không hiểu lãnh đạo tài giỏi thế nào, ổn định vĩ mô ra sao mà lạm phát nước ta giờ đây đang cao nhất châu Á, đứng thứ nhì thế giới. Giá cả tăng chóng mặt làm cho mâm cơm cũng bị xuống cấp. Trái khoáy là đến nông dân là người làm ra lúa gạo mà cũng bị đói.

Có nhận xét là sự mất lòng tin với lãnh đạo lại phổ biến hơn ở các tầng lớp trung lưu, các doanh nhân, trí thức, hưu trí, sinh vên. Tầng lớp này có thể không khó khăn lắm về đời sống vật chất nhưng họ có nhu cầu đòi hỏi cao hơn về những quyền tự do dân chủ. Họ không chấp nhận sự trì trệ quá dài cũng như họ trăn trở trước nguy cơ mất độc lập chủ quyền của đất nước.

Trả lời phỏng vấn của báo Vietnamnet mới đây, GS Nguyễn Minh Thuyết nói: ”Lúc này lúc khác, đã có hiện tượng dân chưa thật tin vào lãnh đạo và ngược lại, lãnh đạo cũng chưa thật tin vào dân. Nếu không khắc phục được hiện tượng này thì làm sao củng cố được khối đại đoàn kết dân tộc”.

Tôi xin bổ sung thêm là: Nếu chính quyền để mất lòng tin của dân thì mục tiêu “chính trị - xã hội ổn định” đã đề ra cũng không thể thực hiện được.

Tất nhiên không phải chính quyền mong muốn ổn định để phát triển mà nhân dân lại càng mong muốn ổn định để làm ăn. Dân như rừng cây, mà cây thì bao giờ cũng mong gió lặng. Tuy nhiên đôi khi sự mất ổn định lại không phải gây ra từ phía dân chúng.

2-Thách thức thứ hai là một bộ máy nhà nước cồng kềnh, kém hiệu quả:

Chính phủ khóa XIII có 22 bộ trưởng, trong đó có 15 vị là người mới được bổ nhiệm lần đầu. Chúng ta có câu “tân quan tân chính sách” có nhân sự mới chắc là có cách làm việc mới, đường lối mới. Đó là điều chúng ta chờ đợi.

Hiện nay đã xây dựng chính phủ điện tử. Máy tính giúp xử lí công việc hành chính, văn phòng nhanh hơn rất nhiều. Nhưng vấn đề không phải ở chỗ máy móc mà là ở chỗ cái đầu con người, nhất là người đứng đầu. Tức là chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức ra sao ? Có ý kiến nhận xét (chưa được kiểm chứng) là phần đông quan chức của ta là “quan chức trục lợi”. Tức là họ làm việc không phải vì nhiệm vụ, trách nhiệm với nhân dân mà là vì lợi ích riêng của họ. Vì thế tham nhũng trở thành quốc nạn. Đó cũng là hệ lụy của tình trạng mua quan bán chức, phe nhóm bè cánh, “con cháu các cụ cả”.

Báo Tuổi trẻ ngày 21/7/2011 đưa tin một vị thứ trưởng bộ Tài nguyên môi trường, đã phê bình nhiều đơn vị, đặc biệt là lãnh đạo đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong bộ không thực hiện nghiêm chinh kỷ cương công việc, buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm, thiếu quan tâm đến công việc của ngành.

Tôi cho rằng đó là tình trạng chung ở nhiều bộ ngành chứ không chi riêng bộ Tài nguyên môi trường. Vì thế mới có chuyện thiếu kiểm tra, giám sát, hiện tượng đùn đẩy nhiệm vụ và trách nhiệm. Nhiều sai phạm không được uốn nắn, răn đe từ sớm, đến khi vỡ lở thì đã thất thoát của công quỹ nhiều ngàn tỷ đồng (như ở ngân hàng NN và PTNT, ở Công ty cho thuê tài chính ….). Nhiều hiện tượng rất cần sự can thiệp của nhà nước nhưng không thấy ai ra tay, chỉ đến khi báo chí báo động thì mới nhúc nhắc mà cũng chẳng giải quyết ra ngô ra khoai (ví dụ chuyện lao động người Trung Quốc không có giấy phép ở khắp nơi). Nhiều chủ trương, chính sách ban hành không kịp thời hoặc phi thực tế, bị phê phán. Đặc biệt là sự vi phạm pháp luật phổ biến và nghiêm trọng của chính những người trong ngành pháp luật.

Hậu quả là gì ?

Là một nền kinh tế được báo cáo là tăng trưởng nhưng nếu đem cân đối với lạm phát thì các chuyên gia nói rằng thực chất là tăng trưởng âm. Nó thể hiện ở các con số thua lỗ, nợ nần kéo dài, nhập siêu lớn, bội chi ngân sách, giá cả tăng cao, ….

Vụ Vinashin với khoản thất thoát 4-5 tỉ USD chi là trường hợp “một đồng chí bị lộ” mà thôi.

Đồng tiền thuế của người dân đóng góp còn phải nuôi nhiều loại cơ quan ban bệ mà dư luận cho rằng nếu giải tán các cơ quan ấy đi thì chẳng những không phương hại gì mà lại còn lợi ích hơn cho xã hội.

Lại có chuyện nhiều khi lãnh đạo đưa ra những cách ứng xử ở tầm thấp gây bất bình cho nhân dân nghĩ rằng những bộ óc của quốc gia quá lười suy nghĩ.

Vượt qua thách thức thứ hai này tức là chính phủ phải vượt qua chính mình.

3-Thách thức thứ ba là sự chi phối của các nhóm lợi ích vào hoạt động của chính phủ.

Các nhóm lợi ích ở đây bao gồm những người thân cận với lãnh đạo, các tập đoàn kinh tế (cả nhà nước và tư nhân). Về thách thức này, tôi xin trích dẫn dưới đây nhận định của TS Lê Đăng Doanh, nhà nghiên cứu kinh tế hàng đầu của nước ta, trong bài trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 22/7/2011, để bạn đọc tham khảo:

“Đó là các đại gia tư nhân, các nhóm lợi ích có thể ảnh hưởng đến các chính sách và những quyết định.  Ví dụ người ta nói quyết định mở rộng Hà Nội không do thành ủy, ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội khởi xướng, mà do một nhóm đại gia nào đấy đã có tính toán về việc mở rộng đất đai, gia đất sẽ lên và đã khởi xướng dẫn đến những quyết định như vậy”.

“Người ta cũng nói là quyết định đầu tư ở chỗ này, chỗ kia, ở sau lưng đó, đều có các đại gia tác động vào đấy. Tức là chính phủ áp dụng những cơ chế chính sách để phù hợp và đáp ứng lợi ích của một nhóm rất nhỏ chứ không tính đến lợi ích của đa số người dân”.

Sự câu kết nói trên cũng là nguyên nhân và cơ hôi cho những ca tham nhũng lớn, làm mục ruỗng đất nước, làm cho chính phủ đi chệch những mục tiêu tốt đẹp

4-Thách thức thứ tư là sự xuống cấp về văn hóa – giáo dục, y tế xã hội và sự gia tăng tội phạm.

Khi đọc các trí thức lớn đồng thời là những nhà yêu nước như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Khắc Viện, Hoàng Ngọc Hiến, … tôi thấy các học giả quan tâm lo lắng rất nhiều về nền văn hóa dân tộc, không chi là văn chương, lịch sử, ngôn ngữ, phong tục, minh triết mà còn là vấn đề đạo đức xã hội và tương lai nòi giống.

Nhiều nhận xét nói rằng hệ thống giáo dục hiện nay là phi giáo dục, làm lệch lạc nhân cách, không đào tạo được cả nghề nghiệp cho thanh niên nói gì đến đào tạo nhân tài.

Ngành y tế tuy đó đây vẫn còn có người nhân đức nhưng số người thờ ơ với bệnh nhân, chi tìm cách moi tiền của bệnh nhân là số đông. Nếu bạn nhiều tiền thì dù chi nhức đầu sổ mũi cũng cho chụp cắt lớp, cộng hưởng từ. Nếu bạn nghèo khó thì khỏi phải nói số phận thế nào.

Về văn hóa có nguy cơ là người Việt quên hết quá khứ của dân tộc. Nền văn hóa cha ông bền bỉ âm thầm tạo dựng mấy nghìn năm có nguy cơ biến mất. Vấn đề này trừu tượng lắm, không biết ông bộ trưởng Văn hóa có nghĩ đến không?

Năm 1924, trong một bài viết về Nguyễn Ái Quốc, một nhà báo nước ngoài đã cho rằng Nguyễn Ái Quốc báo hiệu cho một nền văn hóa của tương lai.

Như thế mà hậu duệ của người lại có thể vô văn hóa ư ?

Nên nhớ rằng một quốc gia chi có thể được thế giới tôn trọng khi quốc gia đó có một nền văn hóa đáng nể.

5-Thách thức thứ năm là vấn đề quan hệ với Trung Quốc:

Đây là vấn đề bảo vệ chủ quyền lãnh thổ lãnh hải, vấn đề thoát ra khỏi sự phụ thuộc vào Trung Quốc về nhiều phương diện.

Tôi vui mừng thấy chính phủ khóa XII đã mua được một số máy bay, tàu ngầm và các khí tài hiện đại hóa quân đội. Dã tâm tham lam của Trung Quốc trên biển Đông buộc chúng ta phải tăng cường vũ trang để bảo vệ Tổ quốc. Tôi cũng biết rằng tinh thần của chiến sĩ ta rất cao.

Chính phủ mới cần đấu tranh kiên quyết hơn trên mặt trận ngoại giao với Trung Quốc về vấn đề biển Đông.

Chỗ dựa của chính phủ là:

-         Lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết của nhân dân
-         Sức mạnh kinh tế và quốc phòng
-         Các luật pháp quốc tế
-         Sự liên kết với các nước trong khu vực và thế giới

Điều đầu tiên cũng là điều cuối cùng là phải luôn luôn cảnh giác với mọi âm mưu và hành động của Trung Quốc. Trong khi tuyên bố hòa bình hữu nghị thì ở chỗ này chỗ kia họ vẫn rêu rao cần dạy tiếp cho Việt Nam bài học.

Tôi xin nhắn gửi đến ông bộ trưởng Ngoại giao một điều là dù chiến lược ngoại giao như thế nào cũng không được phép làm mất thể diện dân tộc.

Kết luận

Tình hình đất nước đang đặt lên vai ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các vị trong chính phủ khóa XIII một trách nhiệm nặng nề. Các vị đã không ngại vất vả tự nguyện gánh vác và đã gửi lời hứa đến quốc dân đồng bào.

Chúng tôi biết rằng các vị cũng xương thịt con người, cũng chỉ bấy nhiêu nơ-ron thần kinh như chúng tôi thôi, cho nên để hoàn thành trọng trách thì các vị phải lao tâm khổ tứ nhiều lắm, chứ chẳng sung sướng gì.

Nhân dân mong các vị đặt Tổ quốc lên trên gia đình, đặt cái chung lên trên cái riêng, đặt cái danh lên trên cái lợi.

Nhân dân có quyền đòi hỏi các vị như thế vì ở vào cương vị cao nhất của đất nước thì dứt khoát phải là những người có nhân cách như thế.

Thật ra nhân dân còn mong muốn nhiều hơn.

Vì chủ đề của bài viết là các thách thức cho nên tác giả chi nói đến những bất cập. Phải thanh minh như thế để bạn đọc khỏi quy kết tác giả nhìn đời bằng con mắt đen tối. Ở U70 mà vẫn múa bút là còn yêu cuộc đời này lắm đó. Mong được bạn đọc trao đổi thêm.


*Bài viết do tác giả Bùi Công Tự gửi trực tiếp NXD-Blog. 
Xin chân thành cảm ơn tác giả!

------------------
*****



»» xem thêm

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2011

Việt Nam - Để thoát ra khỏi China về chính trị




VIỆT NAM – ĐỂ THOÁT RA KHỎI TRUNG QUỐC VỀ CHÍNH TRỊ
BÙI CÔNG TỰ

Nối tiếp dòng suy nghĩ trong bài “Việt Nam cần nhanh chóng thoát ra khỏi Trung Quốc” (Nguyễn Xuân Diện Blog 9/7/2011) , hôm nay tôi thảo luận tiếp với bạn đọc, đi vào một vấn đề chi tiết hơn. Đó là “Bằng cách nào Việt Nam thoát ra khỏi Trung Quốc về chính trị ?”

Để cho bài bản, chúng ta hãy xâu chuỗi vấn đề qua các tiểu mục:

Tư tưởng cốt lõi của cha ông chúng ta:

Vừa qua trên internet chúng ta được nghe giọng nói ấm áp của chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của một nữ kí giả nước ngoài, cách đây 47 năm, năm 1964. Nhà báo đã đặt câu hỏi như sau:

-         Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi việc trở thành vệ tinh của Trung Quốc. Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này ra sao ?
Không cần suy nghĩ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã dứt khoát:

-         JAMAIS ! (Tiếng Pháp – Không bao giờ !)
Thật là đanh thép ! Xin nhắc lại, Bác Hồ đã khẳng định: Không bao giờ Việt Nam chịu phụ thuộc vào Trung Quốc, trở thành vệ tinh của Trung Quốc! Đó chính là một tư tưởng quan trọng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa tư tưởng ấy từ nơi Bà Trưng, Bà Triệu từ buổi “hồng quần nhẹ bước chinh yên”; đã lĩnh hội tư tưởng ấy từ Lý Thường Kiệt qua bài thơ Nam quốc sơn hà, từ Trần Hưng Đạo qua Hịch tướng sĩ văn, từ Ức Trai Nguyễn Trãi qua Bình Ngô Đại Cáo, từ Nguyễn Huệ Quang Trung qua lời hiệu triệu “Đánh cho để tóc dài, đánh cho để răng đen”. Tư tưởng ấy truyền đến chúng ta hôm nay vẫn còn nguyên sức nóng.

Không bao giờ phụ thuộc Trung Quốc! Đó là tư tưởng cốt lõi để bảo vệ chủ quyền đất nước của cha ông ta.

2. Bản chất của chính trị Trung Quốc thời phong kiến quân chủ:

Ngay từ trước công nguyên, người Hán cai trị đất nước đã có bài bản. Họ dựa trên hai trường phái tư tưởng là Nho gia và Pháp gia (riêng đời Tần chỉ dùng Pháp gia).

Nho gia đại diện là Khổng Tử, gọi tầng lớp cai trị là quân tử, tầng lớp bị trị là tiểu nhân. Nho đòi hỏi quân tử phải có đạo đức, liêm khiết, chính trực, nhất là đối với vua chúa. Nho gia có thể có tích cực là kìm chế được sự tham lam của kẻ cầm quyền, góp phần làm hòa dịu mâu thuẫn xã hội. Nhưng trên thực tế thì tầng lớp cầm quyền đã lợi dung Nho gia để lừa bịp dân chúng. Nó làm cho số đông nghĩ rằng người quân tử, quan lại vua chúa luôn luôn là người công tâm, liêm khiết. Đồng thời Nho gia lại ràng buộc dân chúng phải phục tùng, phải trung thành với giới cầm quyền một cách mù quáng, đặc biệt là với vua chúa.

Trên thực tế, từ rất sớm, bộ máy thống trị ở Trung Quốc đã biết trị quốc bằng Pháp gia. Pháp luật của họ rất hà khắc, như chúng ta đều đã biết. Pháp gia làm cho quyền lực của kẻ cầm quyền rất lớn. Vua chúa có thể cho ai sống được sống, bắt ai chết phải chết.

Vì vua chúa có quyền hành cực lớn nên sự tham lam cũng vô độ, sự tàn ác cũng không có giới hạn. Tư tưởng bành trước đại Hán đã phát sinh và phát triển từ lòng tham của bọn vua chúa.

Vua hám danh, muốn tỏ ra ta đây đầy quyền lực, muốn các quốc gia lân bang phải thần phục, thế là đem quân đi đánh. Các quan văn thì bày mưu kế, quan võ thì ra trận. Tất cả đều muốn lập công để thăng quan tiến chức, được nhiều bổng lộc. Quân lính và dân chúng ngu ngốc thì cũng hồ hởi reo mừng khi vua chúa thắng trận, chiếm được đất đai. Cứ thế tư tưởng bành trướng đại Hán truyền từ đời này sang đời khác trong dòng máu của họ.

Tôi đã đọc nhiều “lời dạy” của Khổng Tử thời trẻ nông nổi nên cũng tin lắm, coi Khổng Tử như thánh. Sau này thì biết là ông ta không tưởng. Nhưng chính Nho gia làm cho bọn thống trị Trung Quốc trở nên ma lanh, luôn biết đeo cái mặt nạ nhân nghĩa. Mỗi lần cất quân đi xâm lược nước nào chúng đều nhân danh thiên mệnh đi cứu giúp. Ví dụ quân Minh sang xâm chiếm nước ta dưới danh nghĩa diệt Hồ, quân Thanh vào Thăng Long với danh nghĩa phù Lê. Cái bản chất đạo đức giả của chính trị Trung Quốc có từ lâu đời là thế. Nhà cầm quyền Bắc Kinh hiện nay đã kế tục rất xuất sắc “truyền thống” giả dối này.

3. Bản chất của nhà nước CHND Trung Hoa:

ĐCS Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông đã giành được chính quyền, lập nên nước CHND Trung Hoa ngày 1/10/1949. Lịch sử nước này từ đó đến nay hơn 60 năm như thế nào người Việt Nam chúng ta đều biết rõ.

Đó là những cuộc chiến tranh với Mỹ tại Triều Tiên (1950-1953), với Ấn Độ (1962), với Việt Nam (1974, 1979,1988) và những cuộc xung đột với các quốc gia láng giềng khác ở biên giới.

Đó là cuộc cải cách điền địa làm cho hàng chục triệu người bị lăng nhục và hành hình dã man. Đó là những công xã nhân dân tổ chức theo kiểu quân sự hóa. Đó là chiến dịch “đại nhẩy vọt” mà hậu quả ước khoảng 20-30 triệu người bị chết đói (1959-1960). Đó là những cuộc phê phán, đấu tố tầng lớp trí thức, hạ bệ các nhà chính trị, đến chủ tịch nước là Lưu Thiếu Kỳ cũng bị chết thảm trong nhà tù. Đó là cuộc cách mạng văn hóa kéo dài 10 năm (1966-1976) làm cho cả xã hội lộn xộn, bất ổn. Các trường đại học phải đóng cửa, hàng triệu trí thức bị đày ải lao động cưỡng bức tại những vùng xa xôi hẻo lánh. Cuốn tiểu thuyết “Một nửa đàn ông là đàn bà” kể lại câu chuyện một trí thức trẻ sau mấy năm bị đưa đi cải tạo lao động, đến khi được “bí thư, đội trưởng” cho phép lấy vợ thì bản lĩnh đàn ông của anh ta đã không còn nữa.

Những sự việc trên có thể bạn đọc đều đã biết, nhưng tôi vẫn nhắc lại vì nó nói lên bản chất chính trị của ĐCS Trung Quốc và nhà cầm quyền Trung Quốc.

Từ năm 1976 đến nay là giai đoạn Trung Quốc mở cửa nền kinh tế. Họ đã thành công. Nhưng xã hội Trung Quốc vẫn là xã hội phi dân chủ, người dân vẫn chưa được hưởng những quyền con người cơ bản.

Máu hàng trăm thanh niên sinh viên đã chảy đỏ quảng trường Thiên An Môn năm 1989 dưới sức mạnh xích sắt của thiết xa. Lực lượng an ninh Trung Quốc được đánh giá có trình độ dẹp loạn giỏi nhất thế giới. Thế mà theo báo cáo của viện Khoa học xã hội Bắc Kinh thì tại Trung Quốc năm 2006 có 60.000 cuộc biểu tình, năm 2007 có 80.000 cuộc, năm 2008 có 127.000 cuộc. Những con số trên cho thấy phản ứng của nhân dân Trung Quốc với nhà cầm quyền Bắc Kinh hiện nay dữ dội đến mức nào. Vì xã hội không có tự do báo chí và không có một nền tư pháp độc lập nên người dân phải “tụ tập” để đấu tranh đòi quyền lợi cho mình.

Tôi đã thử làm phép so sánh giữa Mao Trạch Đông với Hitle và thấy hai nhân vật này có những điểm cơ bản giống nhau như:

Cả hai đều theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, đều tham vọng bành trướng lãnh thổ, đều độc tài, chuyên chế, thích sùng bái cá nhân; đều tuyên truyền dối trá, lừa bịp; đều bức hại dã man các cộng sự bị coi là đối thủ; đều có nhiều hành động kỳ quái. Và cuối cùng cả Mao Trạch Đông và Hitle đều bị coi là những tên sát nhân man rợ nhất trong lịch sử. Hitle đã giết hại khoảng 6 triệu người Do Thái và gây chiến tranh thế giới thứ II làm chết khoảng 35 triệu người (riêng Liên Xô chết 22 triệu người). Còn Mao Trạch Đông làm cho khoảng 30 triệu người Trung Quốc chết vì đói, vì tù đày hành hạ, không kể số chết vì nội chiến và chiến tranh Triều Tiên.

Sở dĩ tôi so sánh Mao Trạch Đông với Hitle là để bạn đọc thấy rõ bộ mặt thật của lãnh tụ ĐCS Trung Quốc. Từ đó nhận biết chân tướng của những người cầm quyền Bắc Kinh hiện nay, những người đang đề cao tư tưởng Mao Trạch Đông.

Các nhà nghiên cứu đều cho rằng Trung Quốc đang thực thi chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã khẳng định: “tư tưởng bá quyền đại Hán của Trung Quốc một ngàn năm nữa vẫn không thay đổi!”. Một tờ báo nước ngoài cảnh báo rằng Trung Quốc đang là kẻ đe dọa hòa bình thế giới nguy hiểm nhất kể từ sau Hitle.

4.Việt Nam – Để thoát ra khỏi Trung Quốc về chính trị:

Người ta đã quen dùng từ Maoit để chỉ hệ tư tưởng của ĐCS Trung Quốc, để phân biệt với Macxit hay Macxit-Leninit. ĐCS Việt Nam tất nhiên không phải là Maoit, cho nên không cùng hệ tư tưởng với ĐCS Trung Quốc. Tôi phải nói thế vì vẫn thấy đó đây có người lầm lẫn.

Tôi cũng muốn nói đôi điều về khái niệm ý thức hệ. Theo tôi thì CNXH hay CNCS chưa bao giờ tồn tại trong xã hội loài người. Nó mới chỉ nằm trong sách vở, trong mơ tưởng của con người.

Tại Việt Nam thì rõ ràng là chưa có CNXH vì chúng ta mới đang ở thời kỳ quá độ. Tại Trung Quốc thì như tôi đã viết ở trên, đó là một chế độ XH kỳ quái. Tại Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây hơn 20 năm thì cũng thế. Sự thật là chưa ở đâu có CNXH cả. Cũng chẳng có cái gọi là ý thức hệ nào chung giữa Việt Nam và Trung Quốc cả.

Bây giờ chúng ta trở về với câu hỏi đặt ra ở đầu bài: Bằng cách nào Việt Nam thoát ra khỏi Trung Quốc về chính trị ?

Trước hết những nhà lãnh đạo và toàn thể nhân dân Việt Nam phải nhận rõ sự nguy hiểm của Trung Quốc. Sự phát triển của họ đang đe dọa toàn thế giới, đặc biệt là đe dọa Việt Nam. Túi tiền càng lớn, tiềm lực càng mạnh thì họ càng thúc đẩy bành trướng. Trung Quốc càng bành trướng thì thế giới càng mất an ninh và rất có thể bất ngờ xảy ra chiến tranh, ở khu vực hoặc thế giới. Cho nên Việt Nam phải xác định việc ngăn chặn Trung Quốc bành trướng là nhiệm vụ chính trị hàng đầu.

Về đường lối phát triển kinh tế của Trung Quốc, có rất nhiều tài liệu cho chúng ta thấy là không phù hợp với Việt Nam. Nếu chúng ta cứ chạy theo vết xe của họ thì rất có thể họ chưa lao xuống vực chúng ta đã đổ trước rồi.

Tương lai của dân tộc Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải tìm ra một con đường riêng, một mô hình khác để phát triển đất nước.

Nhà cầm quyền Bắc Kinh thường vin vào lý do cùng ý thức hệ để dụ dỗ, lợi dụng, lừa phỉnh chúng ta. Họ không ngại đem sức mạnh ra đe nẹt, chèn ép kết hợp với đem túi tiền ra làm “mờ con mắt bên trái, đỏ con mắt bên phải” người Việt Nam. 

Vì thế chúng ta phải tỉnh táo, sáng suốt, cứng rắn, đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi cá nhân. Nghĩa là chúng ta phải thật sự có chính trị Việt Nam, tư tưởng Việt Nam vững vàng. Quyết không vay mượn chính trị Trung Quốc, tư tưởng Trung Quốc để rồi tự mình hủy hoại mình.

Tất nhiên cả thế giới hiểu rằng Việt Nam không bao giờ gây hấn với Trung Quốc về quân sự. Nhưng về chính trị khi cần chúng ta phải đấu tranh với họ. Phải phê phán tư tưởng bành trướng, nước lớn bắt nạt nước nhỏ của họ.Về chính trị, về ngoại giao chúng ta phải có cách nói mạnh mẽ, thẳng thắn. Trên phương diện quốc gia mà chính kiến mập mờ, lúng ba lúng búng thì thế giới cười cho.

Tại sao chúng ta cứ “tình hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết anh em” mà không biết rằng Trung Quốc đang phá hoại tình hữu nghị Trung – Việt. Đại tá Quách Hải Lượng, nguyên tùy viên quân sự Việt Nam tại Trung Quốc đã nói:

“Người dân Trung Quốc thật ra rất tốt tính, hiếu khách, nhưng tôi cho là các tập đoàn chính trị của họ đang làm hỏng họ đi. Cái nguy hại là chính quyền bên ấy (Trung Quốc) đã làm hỏng cả một thế hệ thanh niên. Lâu nay họ giáo dục, làm cho thanh niên Trung Quốc hết lớp này tới lớp khác hiểu nhầm và ngộ nhận về lãnh thổ và chủ quyền. Cho nên khi họ hành động rất tàn bạo, đánh đập ngư dân Việt Nam, giết chiến sĩ Việt Nam, thì người dân Trung Quốc vẫn yên chí đó là lòng yêu nước, còn Việt Nam mới là xâm lược. Từ nay trong các cuộc đụng độ, ta sẽ thấy lính Trung Quốc tàn bạo và hung hãn hơn bao giờ hết, mà họ vẫn tin tưởng đấy là vì yêu nước”

Đại tá Quách Hải Lượng tuyên án: “Cho nên những người lãnh đạo Trung Quốc sẽ phải chịu trách nhiệm rõ ràng. Làm cho dân tộc hiểu nhầm dân tộc là một tội ác đối với nhân loại”.

Chính trị của Trung Quốc dù là mấy ngàn năm cũng vẫn chỉ là thủ đoạn tiếp thủ đoạn và nó ngày càng thâm độc.

Chính trị của cha ông chúng ta mới là sáng ngời lẽ phải, đạo đức và sự khôn ngoan.

Riêng về vấn đề biển Đông, bằng ngoại giao và truyền thông, chúng ta phải vạch rõ cái phi lí của Trung Quốc, nêu cao cơ sở pháp lý của ta. Phải đưa câu chuyện lên Liên hợp quốc, thậm chí tòa án quốc tế. Kiên trì đấu tranh pháp lí dưới mọi hình thức. Đồng thời tăng cường quốc phòng, kiên quyết không để cho Trung Quốc chiếm thêm một hòn đảo nào nữa của ta hoặc cản trở ta hoạt động trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam.

Mỗi chính đảng đều có tư tưởng và đường lối riêng của mình. Nhưng chính đảng mạnh nhất, sáng suốt nhất là chính đảng có tên là “Toàn Dân”. Nhà nước phải tin tưởng nhân dân, tập trung được tài năng và ý chí của nhân dân. Đồng thời nhà nước cũng phải làm như thế nào để nhân dân tin cậy, không nghi ngờ, không oán ghét. Chính trị cao thể hiện ở chỗ biết sợ dân chứ còn làm cho dân sợ thì dễ lắm, chỉ cần sắm nhiều dùi cui và xây nhiều nhà đá.

Chỉ cần thoát ra khỏi nhanh vuốt chính trị của Trung Quốc, thoát ra khỏi tư tưởng phản động của Trung Quốc thì mọi chuyện sẽ khác.

Nhưng tôi không hiểu các nhà lãnh đạo của đất nước hiện nay đang nghĩ gì ?

TP Hồ Chí Minh, ngày 16/07/2011.
*Bài viết do tác giả gửi trực tiếp cho NXD-Blog.
**Bài này dự định đưa vào lúc 0h, nhưng do đêm qua nhiều khách ghé hiên trà, bận túi bụi nên không đưa lên như đã hẹn. Thành thật xin chư vị thông cảm!
------------------
*****
»» xem thêm

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2011

Bài hay cần đọc: Có một Trung Quốc khác

Nguồn: Blog Nguyễn Xuân Diện

CÓ MỘT TRUNG QUỐC KHÁC
Bùi Công Tự

Theo chúng ta được biết thì "Văn minh Trung Hoa" thật sự đáng kính nể. Đó là một nền văn minh vào loại sớm nhất và lớn nhất của loài người. Trong số những sáng tạo của họ, tôi đặc biệt khâm phục kiểu chữ viết tượng hình độc đáo mà cụ Hàn Thuyên ngày xưa đã học để tạo ra chữ Nôm cho người Nam chúng ta. Cũng nhờ có chữ Nôm mà chúng ta lưu giữ được Truyện Kiều trước khi có chữ Quốc ngữ.

Tôi có cảm giác là hình như các học giả Việt Nam nghiên cứu về Trung Quốc (TQ) còn nhiều hơn cả nghiên cứu về đất nước mình ? Các nhà văn, nhà báo, doanh nhân và khách du lịch Việt Nam cũng nói về TQ với rất nhiều mỹ tự.

Nhưng có một đất nước TQ khác như là những điều tôi nói dưới đây thiết nghĩ ngay cả người TQ cũng không thể không thừa nhận.

1. Một nước TQ nội chiến liên miên

Người Việt Nam ta, đến trẻ con cũng biết ít nhiều về lịch sử TQ. Đó là lịch sử của những cuộc nội chiến liên miên giữa các tập đoàn quân phiệt cát cứ, giữa Đại Hán với Đại Hán. Những cuộc chiến "nồi da xáo thịt", "cốt nhục tương tàn". Hiện thực ấy ngoài ghi chép của các sử gia (như Tư Mã Thiên) còn được tái hiện một cách sinh động trong các tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng như "Đông chu liệt quốc", "Tam quốc diễn nghĩa", vv.. mà chúng ta đọc thấy họ chém giết nhau dã man, coi mạng người như con ngóe. Những trận đánh xương chất thành núi, máu chảy thành sông (như trận Xích Bích).

Cuộc nội chiến gần đây nhất của người Trung Hoa là cuộc chiến giữa Hồng quân của ĐCS Trung Quốc và quân đội của Quốc dân đảng TQ, kéo dài từ năm 1927 đến năm 1949. Lúc đầu quân của ĐCS thất bại, phải làm cuộc vạn lý trường chinh, một cuộc rút chạy dài 12000km từ Giang Tây đến Diên An trong thời gian 370 ngày (từ 16/10/1934 đến 19/10/1935). Trong cuộc rút lui này, Hồng quân từ lúc có 300.000 người đã bị quân Tưởng tiêu hao, bị chết đói, chết rét, chết bệnh mất 270.000 người, khi tới Diên An chỉ còn 30.000 người.

Có thể nói cuộc nội chiến này đến nay vẫn chưa chấm dứt. Những năm 1960 trong một thời gian dài TQ bắn đại bác qua eo biển Đài Loan. Hiện nay chính phủ Đài Loan đang mua nhiều vũ khí, hiện đại hóa quân đội, đề phòng TQ lục địa tấn công bất cứ lúc nào.

2. Một nước TQ bá quyền xâm lược

Lúc ban đầu, lãnh thổ của người Hán chỉ là một vùng đất nhỏ là bình nguyên Hoa Bắc. Trải qua lịch sử nghìn năm, họ đã liên tục gây chiến tranh xâm lược các quốc gia láng giềng, mở rộng lãnh thổ gấp 900 lần. Có thời gian TQ xâm lược nước ta 1000 năm mà sử ta quen gọi là nghìn năm Bắc thuộc. Nhưng vượt trội hơn các tộc Việt khác (trong Bách Việt) tổ tiên chúng ta đã không cam chịu khuất phục, không để bị đồng hóa, đã vùng lên giành độc lập. Sau đó các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh đời nào cũng đem quân xâm lược nước ta nhưng chúng đều chuốc lấy thất bại nhục nhã.

Tại TQ hiện nay vẫn nổ ra các cuộc bạo động của các dân tộc thiểu số (người Duy Ngô Nhĩ, người Tạng). Bởi vì hai vùng đất bao la này vốn là những quốc gia riêng biệt. Người Trung Quốc xâm chiếm Tân Cương vào thời nhà Thanh. Còn vùng Tây Tạng - nóc nhà của thế giới - thì mới sát nhập vào TQ năm 1951 sau khi ĐCS TQ giành được chính quyền năm 1949. Bây giờ đang tồn tại một chính phủ Tây Tạng lưu vong mà lãnh tụ tinh thần là Đạt Lại Lạt Ma - một người được cả thế giới biết tiếng và ủng hộ (trừ TQ).

Có điều đáng lên án là ở lịch sử hiện đại, khi các nước đế quốc có nhiều thuộc địa như Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, ... đã trả lại độc lập cho các nước thuộc địa của họ thì nước CHND Trung Hoa vẫn tiếp tục đi xâm lược. Năm 1951 họ xâm lược Tây Tạng, năm 1956 xâm lược 3 đảo phía đông và năm 1974 xâm lược nốt 3 đảo phía Tây thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Năm 1988 họ xâm chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Năm 1995 họ xâm chiếm đảo Vành khăn của Philipin. Hiện tại họ đang từng bước xâm chiếm biển Đông và các đảo  thuộc chủ quyền của Việt Nam và các nước ASEAN.

3. Một nước TQ không có truyền thống giữ nước, chống ngoại xâm

TQ có "truyền thống đi xâm lược" nhưng lại không có truyền thống đấu tranh giữ nước khi đất nước họ bị xâm lăng. Câu chuyện "Chiêu Quân cống Hồ", "Tô Vũ chăn dê" cho thấy người Hán đã phải thần phục người Mông Cổ ngay từ TCN.

TK XIII, năm 1279 quân Mông Cổ xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ TQ (lúc ấy đã rộng tới vùng Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay). Người Hán đầu hàng. Người Mông cổ lập nên nhà Nguyên cai trị Trung Quốc 100 năm từ 1279 đến 1368.

Năm 1662 người Mãn Thanh, một tộc người ở phía Đông bắc (không nói tiếng Hán) đã đánh bại nhà Minh. Người Mãn lập nên nhà Thanh cai trị người Hán đến tận năm 1912.

Những năm cuối TK XIX - đầu TK XX, người Anh, Pháp, Bồ Đào Nha chỉ đem đến những lực lượng nhỏ với súng trường và ít khẩu pháo trên những tàu chiến cũ kỹ. Thế mà người TQ đã vội đầu hàng, phải cắt đất cho họ làm tô giới, nhượng địa.

Năm 1931 quân đội Nhật Hoàng chỉ có 10.000 lính gồm bộ binh, pháo binh đánh chiếm vùng Mãn Châu (Đông bắc TQ). Quân TQ tại đó cả bộ đội chủ lực và địa phương đông tới 448.000 binh sĩ mà vẫn bị thất bại. Nhật chiếm được Mãn Châu lập ra Mãn Châu quốc.

Sau đó trong thế chiến II, Nhật chiếm đại bộ phận lãnh thổ TQ một cách dễ dàng. Chỉ có lực lượng của Quốc Dân Đảng chống cự yếu ớt. Bạn đọc chắc còn nhớ chúng ta đã được xem nhiều bộ phim do điện ảnh TQ thực hiện, trong đó mô tả người TQ run sợ trước quân lính Nhật như thế nào ? Chính Hồng quân Liên Xô đã đánh tan đội quân Quan Đông của Nhật giải phóng TQ.

Ông Mao Trạch Đông - "Người cầm lái vĩ đại" của TQ có câu nói :"Bất đáo trường thành phi hảo hán" (Ai chưa đặt chân đến Vạn lý trường thành thì chưa là hảo hán).

Vậy thưa các vị hảo hán Trung Hoa, các vị tự hào vì ngồi trên con tàu vũ trụ nhìn xuống quả đất thấy vạn lý trường thành. Nhưng tôi xin hỏi: Tổ tiên các vị xây đắp bức Trường thành vạn lý ấy để làm gì ?

Trong con mắt nhiều người nước ngoài bức thành ấy không phải là kỳ quan mà là nỗi nhục cho dân tộc Hán. Vì sao ? Vì chỉ để ngăn vó ngựa của tộc người du mục với số dân ít ỏi ở phía Bắc (người Mông Cổ, người Mãn) mà người Hán đã phải mất 20 thế kỷ (từ TK V-TCN đến TK XVI), bỏ mạng biết bao nhiêu triệu người dài vạn dặm. Bức thành ấy không phải đắp bằng đất, bằng đá mà bằng xương máu nhân dân TQ. Nhiều câu chuyện, nhiều bài thơ kể về nỗi thống khổ này. Hãy tưởng tượng những người lao động khổ sai trong đói rét bệnh tật và sự đàn áp dã man. Như thế người TQ chẳng nên tự hào về Vạn lý trường thành.

4. Một nước TQ luôn gây xung đột với các quốc gia láng giềng

Từ khi thành lập, nước CHND Trung Hoa luôn gây ra những vụ xung đột căng thẳng ở biên giới với các quốc gia láng giềng.

Năm 1962 xung đột với Ấn Độ. Chiến tranh nổ ra trong 1 tháng từ 20/10/1962 đến 20/11/1962. TQ đánh chiếm được một số vùng đất của Ấn Độ. Bị Ấn Độ phản công họ phải rút quân nhưng đến nay vẫn còn chiếm đóng một vùng đất của Ấn Độ mà họ nhận là của TQ.

Những năm thập niên 1960 TQ gây căng thẳng với Liên Xô suốt dọc 4380km đường biên. Nhiều cuộc đấu súng và cả đấu mồm (chửi bới). Cao điểm là cuộc nổ súng dữ dội tại nhiều vị trí ngày 2/3/1969. Kết quả TQ thất bại vì quân Liên Xô quá mạnh và đã chuẩn bị kỹ. Đối với Việt Nam, năm 1956 và năm 1974 họ chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Suốt 2 thập niên 1970-1980 họ gây căng thẳng ở biên giới phía Bắc với các thủ đoạn lấn đất, di chuyển cột mốc, gài mìn, bắn pháo, lôi déo dân, ...tháng 2/1979 họ đánh chiếm các tỉnh biên giới phía Bắc và đã thất bại. Năm 1988 họ đánh chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Năm 1995 họ chiếm đảo Vành Khăn của Philipin.

Từ năm 2004 đến nay TQ liên tục có những hoạt động xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt nam và các nước trong vùng biển Đông với những thủ đoạn thô bạo. Có thể nói trong hơn nửa thế kỷ qua nước CHND Trung Hoa thường xuyên gây xung đột với tất cả các quốc gia láng giềng có chung đường biên, kể cả Myanma. Với Nhật Bản thì xung đột trên biển.

5. Một TQ với nhiều thủ đoạn thâm độc

Người Hán rất đa mưu. Họ có những "đại gia mưu lược" chỉ ngồi trong màn mà vận trù tính toán thế cuộc. Những thủ đoạn, mưu lược của họ rất thâm độc, lắm khi "quái thai", phi nhân tính. Ở đây tôi chỉ giới hạn trong những thủ đoạn chính trị, không nói đến những thủ đoạn về kinh tế và các lĩnh vực khác.

Thời nhà Tần, Tần Thủy Hoàng có chủ trương "đốt sách chôn nho" và đã thực hiện cực kỳ dã man. Mục đích là diệt tận gốc những tư tưởng phê phán triều đình. Khi quân Minh sang xâm chiếm nước ta vào thành Thăng Long chúng cũng thiêu hủy hết các văn tự của ta mà chúng chiếm được. Ta còn thấy chủ trương đó truyền đến cả bọn diệt chủng Pôn Pốt khi tập đoàn này được TQ nuôi dưỡng. Và khi Mao Trạch Đông nói câu: "Trí thức là cục phân" thì ông ta đích thực là con cháu Tần Thủy Hoàng.

Vùng miền núi tỉnh Vân Nam là nơi trồng nhiều cây thuốc phiện, lại tiếp giáp vùng "Tam giác vàng". Có nguồn tin nói rằng trong một thời gian dài ĐCS TQ tổ chức đường dây chế biến, vận chuyển thuốc phiện để đưa vào các nước phương Tây nhằm tiêu diệt CNTB tận sào huyệt của chúng ?

Nhiều thủ đoạn thâm độc của họ thường được đúc kết trong những câu nói ngắn gọn:

"Tọa sơn quan hổ đấu": Ngồi trên núi xem hai con hổ đánh nhau, không phải động tay chân mà có xương hổ nấu cao.

"Viễn giao cận công": Giao thiệp hữu hảo với nước ở xa để đánh chiếm nước ở gần.
Những câu trong cái gọi là "phương châm 16 chữ" và "nội dung 4 tốt" mà Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào lừa phỉnh chính là một thủ đoạn thâm độc của nhà cầm quyền Bắc Kinh đối với nước ta. Thực chất chúng nói một đằng làm một nẻo.

Ngoài những thủ đoạn thâm độc của các nhà chính trị, quân phiệt TQ, giới trí thức "phù quyền" TQ cũng nghĩ ra nhiều thủ đoạn nguy hiểm.

Những năm gần đây họ tuyên truyền khái niệm "biển là lãnh thổ quốc gia" để hợp thức hóa đường yêu sách lưỡi bò phi lí của TQ trên biển Đông. Hiện tại họ lại đang bàn thảo về khái niệm "nhu cầu không gian sống". Họ nói rằng TQ cần mở rộng không gian sống không chỉ ở biển Nhật Bản, biển Đông mà còn cần phải mở rộng ra cả Ấn Độ Dương.

Kết luận

Các nhà thơ thường ví tổ quốc Việt Nam như một con thuyền mong manh đậu bên bờ biển cả. Tôi nghĩ nếu là con thuyền thật thì cha ông chúng ta đã nhổ cây sào khua mái chèo rẽ sóng đưa đất nước đến một miền xa nào đó nơi có những láng giềng thân thiện, để tránh xa ông láng giềng Đại Hán lúc nào cũng âm mưu thôn tính chúng ta.

Nhưng đất nước lại là núi sông, ruộng đồng, biển cả. Ta đã ở nơi này thì ta chấp nhận chiến đấu để sống còn với trọn vẹn độc lập chủ quyền. Điều đó cha ông ta đã làm được, chúng ta phải nối tiếp truyền thống kiên cường ấy.

Muốn đập tan âm mưu thâm độc, ngang ngược, tham lam, quái thai, bất chấp lẽ phải của bành trướng đại Hán thì chúng ta phải hiểu rõ về họ. Bài viết trên đây của tôi mong đóng góp một phần cho mục đích đó.

TP Hồ Chí Minh, 18/06/2011
 .
*Bài viết do tác giả Bùi Công Tự gửi riêng NXD-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!

------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này