++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++

Thứ Năm, 30 tháng 6, 2011

Mỹ có e ngại tàu sân bay của Trung Quốc?

Nguồn: SGTT.VN

SGTT.VN - Ngày 29.6, tàu sân bay của Trung Quốc phải hoãn thời gian hạ thuỷ do có vấn đề về linh kiện. Trước đó tạp chí Foreign Policy của Mỹ ngày 27.6 có bài nhận định về ảnh hưởng của tàu sân bay của Trung Quốc với khu vực và thế giới. Xem ra giấc mơ tàu sân bay của Trung Quốc chưa thành hiện thực. SGTT lược dịch bài báo này.


Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc tuy không đe doạ Mỹ, nhưng sẽ làm Đông Nam Á lo ngại. Ảnh: Foreign Policy


Sáu tháng trước, tướng Liu Huaqing – cha đẻ của hải quân hiện đại của Trung Quốc và chỉ huy hải quân từ 1982 - 1988 đã qua đời. Liu tìm cách xây dựng lực lượng hải quân của Trung Quốc thành một hạm đội hoạt động ở các đại dương xa và muốn có một tàu sân bay. Liu đã thề rằng: "Tôi sẽ chết không nhắm mắt nếu tôi không thấy một tàu sân bay Trung Quốc trước mặt tôi".


Nay tại xưởng đóng tàu ở quân cảng Đại Liên, phía đông bắc Trung Quốc, tàu sân bay đầu tiên của hải quân Trung Quốc (PLAN) sẽ sớm ra khơi lần đầu tiên. Và khu vực châu Á-Thái Bình Dương, cũng như Mỹ, lại sôi nổi tranh luận về tác động của chiếc tàu sân bay này. 


Đô đốc Robert Willard, tư lệnh quân đội Mỹ tại Thái Bình Dương, cho biết trong một cuộc phỏng vấn tháng 4.2011 với hãng tin Bloomberg rằng ông "không quan tâm" về việc chuyến hải hành đầu tiên của chiếc tàu sân bay của Trung Quốc, nhưng cho rằng: "Dựa trên những phản hồi mà chúng tôi nhận được từ các đối tác và đồng minh của chúng tôi trong Thái Bình Dương, tôi nghĩ rằng sự thay đổi trong nhận thức của khu vực sẽ là đáng kể". Nhật báo Asahi Shimbun của Nhật Bản trích dẫn một nguồn tin quân sự cho biết: "Trung Quốc đang chi tiêu ngân sách quân sự rất lớn để xây dựng tàu sân bay... Với sức mạnh hải quân, Trung Quốc cố gắng để chống lại Hoa Kỳ và có thể dẫn đến xung đột quy mô nhỏ với lực lượng của Mỹ hoặc Nhật". Tướng Úc John Frewen bình luận: "Các hậu quả ngoài ý muốn của tàu sân bay Trung Quốc đặt ra mối đe dọa lớn nhất đối với sự hài hòa trong khu vực trong những thập kỷ tới". Còn báo Hindustan Times dẫn lời một sĩ quan hải quân cấp cao Ấn Độ cho rằng Trung Quốc với tàu sân bay đầu tiên sẽ có nhiều lợi thế so với Ấn Độ.



Nhiều dữ liệu cho thấy tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc sẽ gần như không có khả năng như tàu của Mỹ. Trong ảnh là tàu sân bay hạt nhân George Washington của Mỹ. Ảnh: navsource.org


Nhiều dữ liệu cho thấy tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc sẽ gần như không có khả năng như tàu của Mỹ. Chiếc tàu sân bay này (Varyag, mua từ Ukraine hồi 1998) có kích thước nhỏ hơn, và đặc biệt là đường băng dốc nên sẽ không thể triển khai máy bay hạng nặng hơn, vốn đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của máy phóng để cất cánh. Có vẻ Varyag chủ yếu sẽ được sử dụng để mở rộng việc bảo đảm không phận từ bờ biển của nó (đối lập với sức mạnh hơn hẳn của các tàu sân bay Mỹ, từ oanh kích trên bộ hoặc tấn công các mục tiêu hải quân). 


Ngoài những thiếu sót kỹ thuật của nó, một tàu sân bay duy nhất sẽ có tiện ích quân sự rất hạn chế. Ngay cả lần thử nghiệm nếu được hoàn thành, chiếc tàu này sẽ phải được bảo dưỡng trong vài tháng của năm. Ngoài ra, Trung Quốc đang thiếu các phi công hải quân và thủy thủ có kinh nghiệm cần thiết để điều khiển tàu sân bay thành công và an toàn. 


Tuy nhiên, nếu tập trung vào những thiếu sót của tàu sân bay quân sự mới của Trung Quốc mà hoàn toàn bỏ qua các đặc điểm của sự phát triển của nó là không nên. Trên tất cả, Varyag là một biểu tượng của sức mạnh đang lên của Trung Quốc. Nhiều quan chức Trung Quốc và các học giả khi trả lời phỏng vấn đã miêu tả tàu sân bay là biểu tượng quyền lực lớn của Trung Quốc. Một cựu quan chức PLAN nhấn mạnh: "Tàu sân bay là một hệ thống vũ khí rất phức tạp và chứng minh sức mạnh quốc gia. Trung Quốc là thành viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc chưa có tàu sân bay".


Cuối cùng, Varyag rõ ràng là tàu sân bay "khởi động" của Trung Quốc. Trung Quốc đã xây dựng một tàu sân bay thế hệ thứ hai, mà chiếc đầu tiên bộ Quốc phòng Mỹ dự đoán có thể sẵn sàng hoạt động vào đầu năm 2015. Trung Quốc chắc chắn sẽ học được nhiều bài học từ kinh nghiệm của tàu sân bay Varyag và có thích ứng tiếp theo cho phù hợp. 


Đối với Mỹ, các tác động quân sự trực tiếp của một tàu sân bay Trung Quốc là khá hạn chế. Hải quân Mỹ là khá chuyên nghiệp trong các mục tiêu tấn công lớn, và một tàu sân bay Trung Quốc sẽ không thể tồn tại trong những giờ đầu của một cuộc xung đột nói chung với Mỹ. Một tàu sân bay cũng sẽ có các tiện ích rất hạn chế trong một cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc liên quan vấn đề Đài Loan, nơi mà Trung Quốc có ưu thế hơn Đài Loan về không quân với các căn cứ trong nội địa.

Tuy nhiên, ý nghĩa chiến lược của tàu sân bay Trung Quốc là đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và đặc biệt có tiềm năng đáng kể tại Biển Đông, nơi đang có những căng thẳng hơn bao giờ hết. Trung Quốc đã ngày càng hung hăng hơn trong các tranh chấp với Việt Nam và Philippines trên Biển Đông, và tàu sân bay Varyag sẽ làm các nước phải gia tăng đáng kể khả năng quốc phòng để bảo vệ mình khỏi sự tấn công của Trung Quốc trong vùng biển này. 


Với Đông Nam Á, những tác động chính trị của một tàu sân bay Trung Quốc là rất căng thẳng. Các nước này có thể sẽ tìm đến Hoa Kỳ như một sự cân bằng, và Washington phải chuẩn bị để đáp lại như cách bảo vệ các lợi ích của mình. 


Sẽ là một sai lầm để phóng đại những hậu quả mang tính chiến lược từ chiếc tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc. Nó sẽ không làm thay đổi cân bằng quân sự cơ bản trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, cũng không đe dọa sự thống trị quân sự của Mỹ. Tuy nhiên, nó là một báo hiệu quan trọng của những điều sắp tới. Khi sức mạnh hải quân của Trung Quốc tiếp tục mở rộng và khi các tàu sân bay Trung Quốc và tàu hộ tống dàn trải trên vùng biển Tây Thái Bình Dương, Biển Đông và Ấn Độ Dương với tần số ngày càng tăng, Washington sẽ buộc phải xem xét lại sức mạnh quân sự ở nền tảng chiến lược lớn của mình. Hiện nay với áp lực cắt giảm ngân sách, tư duy rõ ràng về những lợi ích lâu dài và những thách thức của nước Mỹ là đặc biệt cần thiết. Tương lai bắt đầu từ bây giờ.


H.S (theo Foreign Policy, 27.6.2011)

------------------
*****


»» xem thêm

Báo chí nhà nước vẫn né tránh quá!


Là tôi nói tờ VietnamNet có tiếng là bạo mà khi đăng bài của TS Tô Văn Trường hôm nay thấy lược bỏ nhiều đoạn hoặc sửa đi nhiều chi tiết quan trọng khác so với bài tôi nhận được của bạn bè qua email mấy hôm trước.


Để khách quan, tôi xin phép post lên dưới đây cả 2 version này để các bạn tự rút ra kết luận.


Tôi cũng dân làm báo, và theo đuổi nghề này suốt những năm tháng công tác của mình. Mấy năm nay về hưu vẫn rất yêu nghề, vẫn viết báo và làm blog. Đồng ý đã là tòa báo thì bao giờ cũng phải “xử lý” bản thảo, phải biên tập lại bài vở, cắt gọt hoặc thêm thắt gì đó cho phù hợp với tôn chỉ mục đích của báo mình. Ở các tòa soạn đứng đắn nghiêm chỉnh, bài xử lý biên tập xong còn gửi cho tác giả đọc, đồng tình rồi mới đăng.

Nhưng điều tôi nói, tôi góp ý ở đây có thể không phải như thế.
 
Nhìn những sửa chữa, cắt gọt (khá nhiều đoạn) trong bài của TS Trường, tôi nghĩ nó có ý nghĩa khác, nhắm một mục đích khác. Nếu tôi không nhầm thì đấy là nhằm làm nhẹ đi tính chiến đấu của bài viết ban đầu của tác giả.Nói khác đi là cố làm bài viết “trơn tru”, là vo tròn rất nhiều ý tứ thẳng thắn và sắc sảo của tác giả khi phân tích tâm địa tham lam bành trướng của Trung Quốc đối với Biển Đông và thái độ trịch thượng của họ đối với Việt Nam.

Nếu đây là bài chính tác giả Tô Văn Trường đã tự sửa để đăng báo công khai (VietnamNet là tờ báo chính thống mà) thì tôi xin rút nhận xét trên.

Còn nếu đây là bài biên tập của VNN thì tôi thú thật cảm thấy rất ái ngại với chiều hướng báo chí, định hướng và chỉ đạo báo chí hiện nay.

Sự “kiểm duyệt” vô hình, bằng các lệnh giới báo chí chúng ta vẫn quen gọi là “khẩu dụ” đã không cải thiện gì mà có khi còn ghê gớm hơn, nặng nề hơn hồi chúng tôi còn đương chức.

Buồn thay nó rơi vào thời kỳ thử thách gay gắt nhất của đất nước. Trước bối cảnh Trung Quốc đe dọa, xâm lấn thô bạo chủ quyền lãnh thổ, biển đảo lãnh hải của ta mà báo chí chính thống của ta lên tiếng yếu ớt, thậm chí bỏ qua không đề cập đến đủ độ cần có nhưhiện nay thì cái nguy cơ được đằng chân lân đằng đầu của Trung Quốc (sự thật thì họ đã liên tục gây hấn với chúng ta) càng có nguy cơ đẩy chúng ta vào chân tường, sau này có muốn phản kháng sẽ là quá muộn.

Qua chuyện này nếu như phán đoán của nhiều người là đúng, giới truyền thông báo chí của nhà nước và của các đoàn thể nhận chỉ thị phải tuân phục tuyệt đối chủ trương thông tin tuyên truyền là không đưa tin bình luận nhiều vềông bạn láng giềng to xác xấu tính, hoặc nếu có làm gì, viết gì thì cũng khôngđược gây phật lòng ông bạn 16 chữ vàng Trung Quốc… thì thật sự cái sự nghiệp báo chí của chúng ta không những dẫm chân tại chỗ - mà tệ hại hơn nữa - nó đi ngược lại lợi ích đất nước và dân tộc ta lúc này. Tức là ở giai đoạn có nhữngđiều hệ trọng nhất đất nước đặt ra đòi hỏi ở truyền thông báo chí và giới trí thức nước nhà sự dũng cảm ở ngòi bút và trí tuệ thì lại lảng tránh.

Trong khi bên kia biên giới, báo chí của họ được nhà nước khuyến khích hoặc vờ như không biết đã ồn ào lớn tiếng vu cáo, bôi nhọ đổi trắng thay đen mọi mối quan hệ và thực chất vấn đề Biển Đông. So với họ, báo chí của ta tiếc thay vẫn rụt rè quá, rụt rè một cách khó hiểu.

Chúng ta thử suy nghĩ mà xem, truyền thông báo chí mà không xốc dậy rồi vào cuộc một cách đáng phải có lúc này trước vận mệnh đất nước, lảng tránh cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo thì chắc chắn lịch sử và dân tộc sẽ nghiêm khắc phán xét giới báo chí chúng ta trong một tương lai không xa.

Vệ Nhi
------------


Biển Đông và chuyện “con ếch chịu nóng”


Tô Văn TrƯỜNG


(Bài đăng trên VietnamNet ngày 28/6/2011)


Cứ ngồi yên, và bị cảm giác cũng như thói quen cũ chi phối, chúng ta sẽ cảm thấy không có đe dọa (hoặc đe dọa quá nhỏ) thì đến một lúc nào đó sẽ vô cùng thiệt thòi, trở tay không kịp.


Đất nước đang đứng trước những thử thách cam go: lạm phát, giá cả tăng cao, chủ quyền biển đảo bị xâm phạm nghiêm trọng. Nổi cộm nhất hiện nay là mối quan hệ với nước Trung Quốc khổng lồ đã có rất nhiều điều phải nghĩ, phải nói, trong đó nổi cộm là vấn đề biển Đông.


Nhìn chung, nhân dân ta chưa được tiếp cận đầy đủ với các nguồn thông tin để đánh giá phân tích có được thái độ rõ ràng, do đó dư luận dường như tập trung vào tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trong khi, mưu đồ và thủ đoạn, hành động nguy hiểm nhất, trái thực tế, lẽ phải và pháp lý nhất, xâm phạm đến lợi ích của nhiều quốc gia dân tộc nhất, đồng thời thiết cốt nhất đối với thủ phạm, và vì thế làchỗ yếu kém nhất của thủ phạm, chính là đường đứt khúc 9 đoạn, hay còn gọi là đường lưỡi bò bao trùm 3/4 diện tích Biển Đông mà Trung Quốc đang tuyên bố chủ quyền.

Chính đường lưỡi bò của Trung Quốc, chứ không chỉ sự giành giật chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mới thực sự phi lý, thâm hiểm, mụcđích chiếm toàn bộ biển Đông , nhốt nước ta và một số nước Đông Nam Á vào một cái rọ. Bởi thế, Việt Nam cần chủ động, khôn ngoan xây dựng chiến lược và sách lược phù hợp, phối hợp chặt chẽ với các nước Đông Nam Á có cùng chung trách nhiệm và quyền lợi đấu tranh một cách bài bản, hiệu quả với Trung Quốc cả trước mắt lẫn lâu dài.


Đến nay, chúng ta đã tìm thấy bằng chứng rằng cách đây 30 năm, Trung Quốc đã âm thầm và có âm mưu chiếm biển Đông, đưa ra cả yêu sách "Đường đứt đoạn 9 khúc" vào các bài báo khoa học, có nghĩa là họ đãđi trước nhiều bước hơn chúng ta tưởng.

Qua các bài báo xuất bản ra thế giới chúng ta thấy rằng các tác giảTrung Quốc đã sử dụng bản đồ nước họ với đường lưỡi bò vô lý, ngay cả khi tính minh họa cho nghiên cứu không liên quan, ví dụ như khu vực nghiên cứu chỉ là các thành phố lục địa. Nhiều nhà khoa học Trung Quốc đã lập bản đồ quốc gia với "đường lưỡi bò" chiếm hầu hết biển Đông và công bố trên các tạp chí quốc tế từ cách đây 30 năm. Mặc dù trong các công bố khoa học này, họ chỉ đưa "hình lưỡi bò" một cách "lập lờ", không đưa bất cứ chú thích cụ thể nào về đường chữ U trong bản đồ là đường gì, nhưng ảnh hưởng của nó đến cộng đồng quốc tế vẫn rất lớn vì được đăng trên các các tạp chí khoa học uy tín trên thế giới. Trong khi đó, các bài báo của các nhà khoa học Việt Nam được công bố trên các tạp chí khoa học trên thế giới đã vừa ít, thậm chí lại vừa sai.

Có ý kiến cho rằng nếu chúng ta cứ ngồi yên, và bị cảm giác cũng như thói quen cũ chi phối, chúng ta sẽ cảm thấy không có đe dọa (hoặc đe dọa quá nhỏ) thì đến một lúc nào đó sẽ vô cùng thiệt thòi, trở tay không kịp, sẽ lại phải chấp nhận những việc mà trước đó nhiều năm chúng ta không thể chấp nhận.

Nhiều người còn nhớ phương Tây có câu chuyện ngụ ngôn “con ếch chịu nóng”. Nếu thả con ếch vào chậu nước sôi thì nó nhảy ra ngay, còn nếu thả nó vào chậu nước lạnh rồi đun nóng từ từ thì nó sẽ không nhảy ra mà chịu nóng cho đến khi bịluộc chín. Điều đó có nghĩa là sự mất cảnh giác, ngộ nhận, tự ru ngủ, quen dần với mọi đe dọa thật là nguy hiểm, nó dẫn người ta tới chỗ bị bất ngờ và tất nhiên là thất bại.

Có người còn vạch rõ tư duy về biển Đông của Trung Quốc giống như hình ảnh của con cá mập khi đã xác định được con mồi của nó quyết đuổi đến cùng để thỏa mãn cơn đói.

Sau khi nhận được hàng chục phản ứng của các nhà khoa học Việt Nam ở trong và ngoài nước về việc các bài báo của các nhà khoa học Trung Quốc có cả hình “lưỡi bò” phi lý, không theo luật quốc tế, ban biên tập tạp chí khoa học quản lý chất thải ở Ý hứa sẽ cho chỉnh sửa lại trong số xuất bản sắp đến.

Tuy nhiên, có tạp chí khoa học quốc tế như “Biến đổi khí hậu” cho biết GS Xuemei Shao Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc là tác giả bài báo có hình lưỡi bò phản hồi là sẽ không chỉnh sửa vì đó là do yêu cầu của chính phủ Trung Quốc!? Qua đó, càng thấy rõ chính phủ Trung Quốc đã yêu cầu các nhà khoa học Trung Quốc sửa bản đồ, và chèn đường lưỡi bò vào trong bản đồ, bóp méo sự thật, đánh lừa dư luận thế giới để thực hiện âm mưu chiếm toàn bộ biển Đông.

Trong cuộc đấu tranh này, giới trí thức Việt Nam càng cần nêu cao ý thức, trách nhiệm của mình trước đất nước và dân tộc, đóng vai trò như những nhà ngoại giao kênh hai, "ngoại giao nhân dân" kịp thời thông tin chính xác ra thế giới, để bạn bè, quốc tế hiểu rõ thiện chí của Việt Nam, mưu đồ, thủ đoạn của Trung Quốc, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tếsâu rộng đối với dân tộc ta.


Chúng ta cần thông tin đầy đủ và rộng rãi hơn tới cộng đồng khoa học Việt Nam cả trong và ngoài nứớc và bạn bè ở các nước, đặc biệt là các nước Đông Nam Á về việc nhiều Tạp chí khoa học quốc tế đã vô tình đăng bài của các tác giả Trung Quốc có hình vẽ đường lưỡi bò ở biển Đông. Động viên cộng đồng khoa học Việt Nam gửi ý kiến tới Ban biên tập các Tạp chi khoa học có sai sót yêu cầu sửa chữa, hiệu đính, như đã làm có kết quả với Tạp chí của Hội địa lý Hoa Kỳ và Tạp chí khoa học Quản lý chất thải rắn của Ý.


Đối với Trung Quốc, đừng gộp người dân Trung Quốc và nhà cầm quyền Trung Quốc làm một. Nên nói về lợi ích chung chính đáng (hòa bình, ổn định, hữu nghị, thịnh vượng) của dân Việt Nam và dân Trung Quốc.


Cuộc sống thay đổi từng ngày, thế giới phẳng thay đổi từng giờ, trí thức là những người được học nhiều, biết rộng, biết vượt lên chính mình để không bịrơi vào trường hợp mà Shakespeare đã từng trách khéo: “càng thông minh hiểu biết nhiều càng hèn nhát”!

Thời gian vừa qua, cộng đồng trí thức Việt Nam ở trong và ngoài nước đã rất tích cực bám sát, phát hiện, phản ứng nhanh, hiệu quả trước việc một số Tạp chí khoa học quốc tế đưa thông tin sai lệch về vấn đề chủ quyền ở biển Đông. Giới trí thức Việt Nam chắc chắn cũng thấy rõ hơn bao giờ hết sứ mạng xã hội của mình, để tiếp nối ý nguyện của nhà thơ - nhà báo liệt sỹ Lê Anh Xuân là góp phần tạo nên một "Dáng đứng Việt Nam" trường tồn vững chắc bên biển Đông đầy sóng gió.


T.V.T.

--------

TRÍ THỨC VÀ NHÀ BÁO ĐỨNG TRƯỚC
VẬN MỆNH CỦA ĐẤT NƯỚC


Tô Văn Trường

* Bài dưới đây nhận qua email của bạn bè gửi. Và trước khi post lên Entry này tôi đã liên hệ để hỏi chính tác giả Tô Văn Trường, được biết bài viết toàn văn dưới đây là bản thảo của tác giả - bản thảo này đã gửi cho VietnamNet. Chỉ có điều nói lại cho rõ là bài đã cắt gọt, biên tập nhiều chỗ nhiều đoạn này được đăng ở VietnamNet mà phần trên đã nói tới cũng được thông báo trước cho tác giả Tô Văn Trường biết. Tác giả tiếc bản thảo cũ không được sử dụng đầy đủ, thậm chí tít bài cũng bị sửa đổi. Tuy nhiên tác giả thông cảm với tòa soạn trong tình hình hiện nay. Vậy blog tôi xin thông tin đầy đủ như vậy để bạn đọc chúng ta cùng biết. (Vệ Nhi chú thích)


Đất nước đang đứng trước những thử thách cam go: lạm phát, giá cả tăng cao, chủ quyền biển đảo bị xâm phạm nghiêm trọng. Có lẽ chưa bao giờ vai trò của trí thức và nhà báo lại được nhắc đến nhiều như bây giờ và thực sự giới trí thức và nhà báo Việt Nam đã và đang cố gắng thể hiện lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của mình trước vận mệnh của đất nước.
        
Nhìn chung, nhân dân ta chưa được tiếp cận đầy đủ với các nguồn thông tin để đánh giá phân tích có được thái độ rõ ràng, dođó vai trò trách nhiệm của người trí thức và nhà báo càng nặng nề hơn vì họ có học vấn và điều kiện tiếp cận với thông tin trên toàn cầu và những vấn đề thời sự nóng hổi của đất nước. Trí thức và nhà báo phải làm gương đi đầu trong việc yêu nước, đoàn kết, rèn luyện kỹnăng để góp phần đắc lực trong việc kiến giải các vấn đề của đất nước.
         
Nổi cộm nhất hiện nay là mối quan hệ với nước Trung Quốc khổng lồ đã có rất nhiềuđiều phải nghĩ, phải nói như mưu mô hành động ở biển Đông, dọc tuyến biên giới đường bộ 1.500 km, khai thác tài nguyên nước sông Hồng, sông Mekong, nhà thầu Trung Quốc ồ ạt vào Việt Nam, tràn ngập hàng hóa, công nghệ thấp, thuê đất rừng 50 năm, thọc sâu, chia rẽ tác độngđến chủ trương chính sách và nhân sự của Việt Nam vv…

Trí thức và nhà báo cần phải phân tích vạch trần thủ đoạn về biển Đông âm mưu và hành động nguy hiểm nhất, ngang ngược nhất, trái thực tế, lẽ phải và pháp lýnhất, xâm phạm đến lợi ích của nhiều quốc gia dân tộc nhất, đồng thời thiết cốt nhất đối với thủ phạm, và vì thế là chỗ yếu kém nhất của thủ phạm, đó là cái lưỡi bò, chứ không phải sự giành giật chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ba lần biểu tình, tuần hành của dân ta ngày 5 tháng 6, ngày 12 tháng 6, ngày 19 tháng 6 vừa qua đều là tự nguyện, thể hiện lòng yêu nước của người dân, đó là hồng phúc của đất nước. Tuy nhiên, chúng ta chưa thật tập trung vào lưỡi bò, còn nêu nhiều quá những khẩu hiệu đòi toàn bộ chủ quyển hai quần đảo. Khi tôi đang viết đến đây, nhận được thông tin và hình ảnh hàng trămđồng bào ta ở Paris (Pháp) tham gia biểu tình, phát truyền đơn, gửi thư đến đại sứ Trung Quốc ở Pháp để chuyển về cho chính phủ Trung Quốc nói rõ 2 dân tộc Việt Nam và Trung Quốc đều mong ước hòa bình và tố cáo các hành động gây hấn có tính bành trướng của Trung Quốc ở biển Đông. Tham gia biểu tình còn có trẻ em, từ em bé còn nằm nôi cho tới những em lớn hơn cầm cờ cùng đoàn người biểu tình, gợi nhớ lại hình ảnh truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam nếu “giặc đến nhà, đàn bà và trẻ em cũng đánh”!

Vừa qua, trên BBC có 2 bài báo đặc biệt của GS Minxin Pei gây ra ngộ nhận cho công chúng chưa có điều kiện tìm hiểu về luật quốc tế và luật biển. Rất tiếc phía chúng ta cũng chưa có bài báo nào phản hồi về vấn đề này. Theo chúng tôi hiểu cách đơn giản tại biển Đông có hai loại tranh chấp chủquyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tranh chấp phân định biên. Thông thường khi chủ quyền đã xác định đảo nào thuộc ai thì sẽ mới bàn đến vấn đềphân định biên theo công ước luật biển quốc tế 1982. Việc xác định chủ quyền và phân định biển là theo nguyên tắc và án lệ của luật quốc tế chứ không phải Công ước luật biển. Lâu nay, rất nhiều người phát biểu còn lẫn lộn về khái niệm nêu trên, nhất là giới báo chí, làm cho công chúng hiểu lầm.

Nếu không có hai quần đảo thì áp dụng Côngước Luật biển, Philippines, Malaysia và Brunei có quyền yêu sách 200 hải lý quy chế vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa. Vùng yêu sách này sẽ chồng lấn lên một phần vùng biển Spratlys bây giờ, gồm cả đảo mà Trung Quốc yêu sách và nếu không cóđảo thì Trung Quốc và Việt Nam không có tư cách pháp lý để đòi chủ quyền ở khu vực quá xa đất liền của mình như vậy. Tuy nhiên, Trung Quốc yêu sách đảo chỉ vì những đảo này nằm trong yêu sách biển nằm trong đường chữ U của họ. Đây là điều không có tiền lệ và không được Công ước Luật biển công nhận. Yêu sách này của Trung Quốc đã xâm phạm vào quy chế vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam , Philippines và các nước khác. Một số nước ở Đông Nam Á cho rằng Việt Nam cũng yêu sách toàn bộ các đảo ởTrường Sa cũng đưa đến sự kiện chồng lấn vào vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Về phía Việt Nam cần tiếp tục củng cố bằng chứng pháp lý-lịch sử làm rõ quan điểm của mình chiếm hữu hai quần đảo từ lâu đời. Trung Quốc cũng dựa vào danh nghĩa lịch sử. Còn Philippines bị giới hạn trong phạm vi Hiệp ước 1898 Mỹ-Phi, không bao gồm quần đảo Trường Sa. Brunei thì vùng chồng lấn quá nhỏ.Do vấn đề chủ quyền chưa được giải quyết nên các bên đều tìm mọi cách mở rộng vùng yêu sách của mình. Philippines từ thuyết kế cận địa lý và an ninh còn Malaysia cho rằng họ có thềm lục địa và một vài đảo thuộc Trường Sa nằm trên thềm lục địa từbờ biển của họ nên thuộc về họ. Việt Nam và Trung Quốc đều đòi hỏi cácđảo thuộc Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Xin lưu ý, theo Công ước Luật biển, các đảo đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, cho hầu hết nếu không nói là tất cả cácđảo ở Trường Sa đều không được hưởng quyền có EEZ. Vả lại, nếu có, tỷ lệ được chủ quyền sẽ nhỏ hơn so với vùng đất liền của các nước ở kế cận theo như án lệcủa Tòa án Công lý quốc tế.

Chính vấn đề đường lưỡi bò của Trung Quốc mới thực sựphi lý, thâm hiểm, mục đích chiếm toàn bộ biển Đông , nhốt nước ta vàmột số nước Đông Nam Á vào một cái rọ. Bởi thế, Việt Nam cần chủ động, khôn ngoan xây dựng chiến lược và sách lược phù hợp, phối hợp chặt chẽvới các nước Đông Nam Á có cùng chung trách nhiệm và quyền lợi đấu tranh một cách bài bản, hiệu quả với Trung Quốc cả trước mắt lẫn lâu dài.
         
Đến nay, chúng ta đã tìm thấy bằng chứng rằng cách đây 30 năm, Trung Quốc đã âm thầm và có âm mưu chiếm biển Đông,đưa ra cả yêu sách "Đường đứt đoạn 9 khúc" vào các bài báo khoa học, có nghĩa là họ đã đi trước nhiều bước hơn chúng ta tưởng. Qua các bài báo xuất bản ra thế giới chúng ta thấy rằng các tác giả Trung Quốc đã sử dụng bản đồ nước họ với đường lưỡi bò vô lý, ngay cả khi tính minh họa cho nghiên cứu không liên quan, ví dụ như khu vực nghiên cứu chỉ là các thành phố lục địa. Nhiều nhà khoa học Trung Quốc đã lập bản đồ quốc gia với "đường lưỡi bò" chiếm hầu hết biển Đông và công bố trên các tạp chí quốc tế từ cáchđây 30 năm. Mặc dù trong các công bố khoa học này, họ chỉ đưa "hình lưỡi bò" một cách "lập lờ", không đưa bất cứ chú thích cụ thể nào về U-line trong bản đồ làđường gì, nhưng ảnh hưởng của nó đến cộng đồng quốc tế vẫn rất lớn vì được đăng trên các các tạp chí khoa học uy tín trên thế giới. Trong khi đó, các bài báo của các nhà khoa học Việt Nam được công bố trên các tạp chí khoa học trên thế giới đã vừa ít, thậm chí lại vừa sai vì có những bài đăng bản đồ Việt Nam không có các đảo Trường Sa và Hoàng Sa!?

Có ý kiến cho rằng nếu chúng ta cứ ngồi yên, và bị cảm giác cũng như thói quen cũ chi phối, chúng ta sẽ cảm thấy không có đe dọa (hoặc đe dọa quá nhỏ) thì đến một lúc nàođó sẽ vô cùng thiệt thòi, trở tay không kịp, sẽ lại phải chấp nhận những việc mà trước đó nhiều năm chúng ta không thể chấp nhận. Nhiều người còn nhớ phương Tây có câu chuyện ngụ ngôn “con ếch chịu nóng”. Nếu thả con ếch vào chậu nước sôi thì nó nhảy ra ngay, còn nếu thả nó vào chậu nước lạnh rồi đun nóng từ từ thì nó sẽ không nhảy ra mà chịu nóng cho đến khi bị luộc chín. Điều đó có nghĩa là sự mất cảnh giác, ngộ nhận, tự ru ngủ, quen dần với mọi đe dọa thật là nguy hiểm, nó dẫn người ta tới chỗ bị bất ngờ và tất nhiên là thất bại trước sự leo thang của kẻ thù. Có người còn vạch rõ tư duy về biển Đông của Trung Quốc giống như hình ảnh của con cá mập khi đã xác định được con mồi của nó quyết đuổi đến cùng để thỏa mãn cơn đói.
Sau khi nhận được hàng chục phản ứng của các nhà khoa học Việt Nam ở trong và ngoài nước về việc các bài báo của các nhà khoa học Trung Quốc có cả hình “lưỡi bò” phi lý, không theo luật quốc tế,ban biên tập tạp chí khoa học quản lý chất thải ở Ý hứa sẽ cho chỉnh sửa lại trong số xuất bản sắp đến. Tuy nhiên, có tạp chí khoa học quốc tế như “Biến đổi khí hậu” cho biết GS Xuemei Shao Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc là tác giả bài báo có hình lưỡi bò phản hồi là sẽ không chỉnh sửa vì đó là do yêu cầu của chính phủ Trung Quốc!? Qua đó, càng thấy rõ chính phủ Trung Quốc đã yêu cầu các nhà khoa học Trung Quốc sửa bản đồ, và chènđường lưỡi bò vào trong bản đồ, bóp méo sự thật, đánh lừa dư luận thế giới để thực hiện âm mưu chiếm toàn bộ biển Đông.

Về Việt Nam : Trí thức và nhà báo nước ta cần kịp thời thông tin chính xác đến dân ta, kết thành một khối toàn dân tộc, và góp phần trên tinh thần xây dựng để những người đang cầm quyền gắn bó với dân tộc, chung sức, chung lòng cùng với mọi tầng lớp khác trong dân tộc. Việc làm này đòi hỏi nhiều tâm huyết và bản lĩnh, về nội dung và về cách làm.
         
Về Trung Quốc : Đừng gộp hoàn toàn thành một cục dân Trung Quốc và nhà cầm quyền Trung Quốc. Nên nói về lợi ích chung chính đáng (hòa bình, ổn định, hữu nghị, thịnh vượng) của dân Việt Nam và dân Trung Quốc. Nhiều nhà phân tích đã vạch rõ rằng hành động chiếm lưỡi bò là một thất bại nặng, tổn hại đến bước đường phát triển và uy tín quốc tế của Trung Quốc, hại trước mắt và lâu dài cho dân Trung Quốc.
        
Về quốc tế : Trí thức và nhà báo nước ta cần viết, nói và làm trong quan hệ hợp tác với các nước ASEAN, và cần kịp thời thông tin chính xác ra thế giới, tranh thủ sựđồng tình, ủng hộ quốc tế sâu rộng đối với dân tộc ta. Chúng ta cần thông tin đầy đủ và rộng rãi hơn tới cộng đồng khoa học Việt Nam cả trong và ngoài nước và bạn bè ở các nước, đặc biệt là các nước Đông Nam Á về việc nhiều Tạp chí khoa học quốc tế đã vô tình đăng bài của các tác giả Trung Quốc có hình vẽ đường lưỡi bò ở biểnĐông. Động viên cộng đồng khoa học Việt Nam gửi ý kiến tới Ban biên tập các Tạp chi khoa học có sai sót yêu cầu sửa chữa, hiệu đính, như đã làm có kết qủa với Tap chí của Hội địa lý Hoa Kỳvà Tạp chí khoa học Quản lý chất thải rắn của Ý.

Cuộc sống thayđổi từng ngày, thế giới phẳng thay đổi từng giờ, trí thức và nhà báo là những người được học nhiều, biết rộng, biết vượt lên chính mình để không bị rơi vào trường hợp mà Shakespeare đã từng trách khéo: “càng thông minh hiểu biết nhiều càng hèn nhát”!

Thời gian vừa qua, VNN, Tuan VN.Net và Bee.net VN kịp thời đưa các thông tin phản ánh về vai trò của cộng đồng trí thức Việt Nam ở trong và ngoài nước đã rất tích cực bám sát, phát hiện, phản ứng nhanh, hiệu quả trước việc một số Tạp chí khoa học quốc tế đưa thông tin sai lệch về vấn đề chủ quyền ở biển Đông. Trí thức và nhà báo Việt Nam chắc chắn cũng thấy rõ hơn bao giờ hết sứ mạng cao cả của mình, để tiếp nối ý nguyện của nhà thơ - nhà báo liệt sỹ Lê Anh Xuân là góp phần tạo nên một "Dáng đứng Việt Nam" trường tồn vững chắc bên biển Đông đầy sóng gió.

T.V.T.

------------------
*****


»» xem thêm

Ba lý do khiến tranh chấp ở Biển Đông khó được giải quyết

Báo "Bưu điện Giacácta" số ra gần đây đăng bài viết với tiêu đề "Insight: Calming the South China Sea is imperative" của tác giả Rizal Sukma - Giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) - đề cập tới tình hình căng thẳng có xu hướng leo thang ở Biển Đông, đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực.
Theo bài viết này, tất cả các bên liên quan cần phải kiềm chế để hướng tới một giải pháp thông qua đàm phán, điều không chỉ Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mà cả các nước khác - trong đó có Mỹ - mong muốn. Tuy nhiên, tác giả Rizal Sukma cho rằng một giải pháp như trên sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn vì ba lý do sau: 
Thứ nhất, mọi tranh chấp lãnh thổ như ở Biển Đông đều khó giải quyết bởi bản chất của nó là tranh chấp chủ quyền. Tại châu Á, chủ quyền vẫn là chuẩn mực được bảo vệ nhất, các nước đều không dễ dàng thỏa hiệp. Ngay cả khi những nước có tuyên bố chồng chéo về chủ quyền sẵn sàng bước vào đàm phán thì cũng sẽ phải mất nhiều năm, thậm chí hàng thập kỷ, mới đạt được một thỏa thuận thích hợp. Vì vậy, thực tế là không thể hy vọng vấn đề tranh chấp chủ quyền sẽ được giải quyết trong tương lai gần.
Thứ hai, vấn đề ở Biển Đông thậm chí còn phức tạp hơn nhiều do giá trị chiến lược của vùng biển này. Đây được coi là khu vực giàu tài nguyên, đặc biệt là về dầu khí. Hơn nữa, Biển Đông là một tuyến đường biển quan trọng đối với giao thông và thương mại thế giới. Do sự cạnh tranh về năng lượng gia tăng nên sẽ rất khó chờ đợi bất cứ ai trong cuộc từ bỏ cuộc chơi liên quan đến quyền lợi của mình.
Thứ ba, Trung Quốc là một cường quốc đang nổi lên. Việc kiểm soát Biển Đông thông qua sự hiện diện quân sự tại khu vực này sẽ củng cố ưu thế chiến lược của Trung Quốc. Trung Quốc hiện là quốc gia mạnh nhất ở Đông Á, cả về kinh tế và quân sự. Hơn nữa, do chủ nghĩa dân tộc gia tăng ở Trung Quốc, nước này có nguy cơ phải đối mặt với những phản ứng dữ dội trong nước nếu từ bỏ tuyên bố tranh chấp chủ quyền của mình. Trong bối cảnh như vậy, sẽ là vô ích để hy vọng sớm giải quyết được vấn đề chủ quyền ở Biển Đông.
Tuy nhiên, tác giả Rizal Sukma nhấn mạnh rằng sẽ rất nguy hiểm nếu các bên liên quan không làm gì. Căng thẳng ở Biển Đông cần phải được làm dịu. Các bên cần quay trở lại với "Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) mà ASEAN và Trung Quốc đã ký năm 2002. Về vấn đề này, ASEAN cần yêu cầu Trung Quốc cân nhắc ngay "Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông" (COC). COC không nhằm giải quyết vấn đề chủ quyền, nhưng sẽ cung cấp thỏa thuận khung làm thế nào để tránh căng thẳng trong khu vực, chẳng hạn trong đó có các nguyên tắc, thủ tục giải quyết các sự cố trên biển, cơ chế ngăn ngừa sự cố do tình trạng quấy rối của một bên tranh chấp gây ra và cơ chế giải quyết chấp...
Tác giả Rizal Sukma cho rằng In-đô-nê-xi-a cần giữ vai trò dẫn đầu trong vấn đề đó. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đối với ASEAN - đặc biệt là với bốn nước gồm Philíppin, Việt Nam, Brunây và Ma-la-ixi-a - là phải ngồi vào bàn đàm phán. Trong khi chờ đợi sự sẵn sàng từ phía Trung Quốc, ASEAN cần thống nhất với nhau về một COC cụ thể để đưa ra cho Trung Quốc tham chiếu. Nếu Trung Quốc không hài lòng với cách tiếp cận này, đây sẽ là một cơ hội tuyệt vời để ASEAN đánh giá ý đồ lâu dài của Trung Quốc trong khu vực. Trung Quốc có được tôn trọng như một quyền lực lớn hay không sẽ phụ thuộc vào phản ứng của nước này.
  Theo Jakarta Post
 Hương Trà (gt)

------------------
*****


»» xem thêm

Công khai thông tin về biển Đông

Nguồn: nguoilaodong.com.vn
Thứ Tư, 29/06/2011 23:20

Theo ông Lê Văn Nghiêm, Cục trưởng Cục Thông tin đối ngoại - Bộ Thông tin - Truyền thông, thông tin công khai, thường xuyên sẽ hỗ trợ tích cực việc bảo vệ chủ quyền trên biển Đông

* Phóng viên:  Thưa ông, theo dõi lĩnh vực thông tin đối ngoại, ông có thấy thực tế là người dân Trung Quốc suốt thời gian dài chỉ được biết thông tin một chiều về vấn đề biển Đông?

- Ông Lê Văn Nghiêm: Các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc trong vài năm qua thường xuyên nói về vấn đề biển Đông, trong đó chủ yếu phản ánh lập trường và yêu sách của Chính phủ Trung Quốc. Có thể nói, người dân Trung Quốc chỉ tiếp nhận thông tin một chiều từ phía Trung Quốc mà hầu như không có thông tin từ phía Việt Nam. 
 * Vì sao thời gian qua chúng ta chưa đưa rộng rãi thông tin về biển Đông?

- Việt Nam có chủ trương nhất quán là chủ yếu phản ánh những thông tin hữu nghị, tốt đẹp, tích cực giữa Việt Nam và Trung Quốc; hạn chế đề cập những mâu thuẫn, bất đồng và tranh chấp giữa hai nước. Trong đó, hầu như không nói tới những mâu thuẫn, tranh chấp trên biển Đông. Thậm chí, Trung Quốc đã có những việc làm hết sức phi lý nhưng chúng ta chỉ xử lý theo con đường ngoại giao, chứ không đưa lên phương tiện truyền thông đại chúng. 

* Ông có nghĩ rằng thời gian qua, việc công khai thông tin tranh chấp trên biển Đông đã có những hiệu ứng rất tích cực?

- Khi Trung Quốc có những hành động gây hấn với các tàu Bình Minh 02, Viking II ngay trong vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, truyền thông chúng ta đã lên tiếng. Có thể nói đây là lần đầu tiên kể từ khi bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, các phương tiện thông tin đại chúng của chúng ta mới lên tiếng công khai, đầy đủ, rõ ràng và mạnh mẽ về hành động gây hấn của Trung Quốc. Việc chúng ta nói đúng mức độ của sự việc đã có tác dụng rất tích cực. Thứ nhất, người dân Việt Nam hiểu đầy đủ, rõ ràng về vấn đề tranh chấp trên biển Đông, về hành động gây hấn có chủ đích sâu xa của Trung Quốc. Thứ hai, các phương tiện truyền thông quốc tế cũng có điều kiện hiểu biết đầy đủ và rõ ràng hơn để truyền tải trên thế giới hồ sơ biển Đông, Việt Nam hay Trung Quốc là bên gây hấn, lập trường của Việt Nam…

Công khai thông tin tranh chấp trên biển Đông đã đem lại những hiệu ứng tích cực. Ảnh: HOÀNG DUNG
* Việt Nam cần làm gì để dư luận trong nước và thế giới, trong đó có nhân dân Trung Quốc, hiểu đúng về vấn đề biển Đông?

- Tranh chấp trên biển Đông giữa Việt Nam - Trung Quốc sẽ tiếp tục là vấn đề nhạy cảm, cần xử lý tinh tế và phải lấy đại cục làm trọng. Xây dựng và bảo vệ quan hệ hữu nghị Việt Nam -Trung Quốc là tài sản chung quý giá của hai dân tộc cũng như nhân dân hai nước. Song điều đó không có nghĩa là chúng ta im lặng mà cần phải thường xuyên lên tiếng để tăng hiểu biết, thông cảm và ủng hộ của cộng đồng quốc tế nhằm góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ của Tổ Quốc. 

* Truyền thông chúng ta cần phải làm gì, thưa ông?

- Cần thông tin thường xuyên, liên tục về vấn đề biển Đông. Cách làm cần đa dạng, phong phú và khéo léo. Tình hình căng thẳng nhưng chúng ta không kích động làm nóng thêm mà thông tin sao cho tăng hiểu biết nhằm giúp làm dịu đi.


Hồ sơ biển Đông của chúng ta cần được trình bày thường xuyên, có hệ thống, có căn cứ lịch sử và khoa học để thế giới cũng như người dân Trung Quốc thấy rõ chính nghĩa của Việt Nam trong vấn đề biển Đông.
Đưa thông tin lan tỏa khắp thế giới
Theo ông Lê Văn Nghiêm, thông tin đối ngoại là trách nhiệm chung của các bộ, ngành; các phương tiện thông tin đại chúng cũng như của xã hội và toàn dân.
Về phía cơ quan quản lý Nhà nước, ông Nghiêm cho rằng cần làm tốt những công tác sau. Thứ nhất, hệ thống hóa và cung cấp đầy đủ, thường xuyên hơn các thông tin, hồ sơ, bằng chứng về pháp lý, lịch sử. Thứ hai, tập hợp và hỗ trợ các lực lượng nghiên cứu chiến lược về biển Đông để xây dựng hồ sơ bảo vệ chủ quyền của Việt Nam; đồng thời bác bỏ yêu sách phi lý, không có căn cứ lịch sử và cơ sở pháp lý của Trung Quốc với biển Đông. Thứ ba, Nhà nước hỗ trợ các phương tiện thông tin đại chúng chuyển ngữ ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hoa… và đưa lên mạng internet để lan tỏa khắp thế giới.
Phạm Dương thực hiện

------------------
*****


»» xem thêm

Trung Quốc tăng cường sức ép trên Việt Nam sau khi Hà Nội tỏ thái độ hòa dịu trên vấn đề Biển Đông

Nguồn: RFI
Biểu tình tại Hà Nội ngày 05/06/2011
Biểu tình tại Hà Nội ngày 05/06/2011
Reuters
Trọng Nghĩa
 
Ngày 28/06/2011, Trung Quốc đã kêu gọi Việt Nam thực hiện đầy đủ thỏa thuận trên vấn đề Biển Đông mà hai bên vừa đạt được. Theo giới quan sát, tuyên bố của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc mang ý nghĩa là một hành động gây sức ép của Bắc Kinh trên Hà Nội sau khi Việt Nam tỏ dấu hiệu hòa hoãn.

Trong một cuộc họp báo chiều hôm qua tại Bắc Kinh, ông Hồng Lỗi, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nhắc lại rằng nhân chuyến viếng thăm của đặc sứ Việt Nam Hồ Xuân Sơn, ngày 25/06, hai bên đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp thông qua các cuộc đàm phán và tránh những động thái có thể làm vấn đề trầm trọng hay phức tạp thêm.

Theo đại diện Trung Quốc, cả hai nước đều « phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam và cam kết sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước ».

Sau đó, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã lên tiếng thúc giục Việt Nam thực hiện các cam kết trong thỏa thuận : « Chúng tôi hy vọng phía Việt Nam sẽ cùng với chúng tôi thực hiện đầy đủ sự nhất trí đã có được những nỗ lực gìn giữ hòa bình và ổn định trên Biển Hoa Nam (Biển Đông).”

Đối với giới quan sát, lời thúc giục của Bắc Kinh là một hành động gây sức ép mới, đặc biệt trong bối cảnh chính quyền Việt Nam đã có những dấu hiệu bị coi là nhún nhường, cho dù đã liên tiếp bị Trung Quốc bức bách ngay tại vùng biển vốn thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mình trong thời gian gần đây.

Một trong những điểm mà Trung Quốc muốn Việt Nam thực hiện là đẩy mạnh các cuộc đàm phán song phương với họ để giải quyết tranh chấp, một điều mà bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh trong những ngày qua không ngừng nêu bật khi cực lực chỉ trích ý định của Mỹ muốn can dự vào hồ sơ Biển Đông.

Báo chí Trung Quốc đã đồng loạt nhấn mạnh đến sự kiện là nhân chuyến công du vừa qua của thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Hồ Xuân Sơn, cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều « phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam ».

Theo nhà báo Mỹ David Brown, nguyên là một nhà ngoại giao, việc Việt Nam tham gia vào các cuộc ‘’đàm phán song phương’’ với Trung Quốc, ‘’có vẻ như là một bước lùi’’ sau hàng tháng trời nhấn mạnh rằng mọi cuộc thương thuyết nên được tiến hành trong khuôn khổ ASEAN. Theo ông Brown, động thái này có thể làm cho công luận Việt Nam thêm bất bình.

Một điểm khác mà Bắc Kinh muốn chính quyền Việt Nam thực hiện là ngăn cản các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở trong nước (mà chính quyền Việt Nam đã hạn chế đến mức tối đa) cũng như ở ngoài nước, vốn không tốt cho hình ảnh của Bắc Kinh trên trường quốc tế.

Câu hỏi mà giới quan sát đặt ra vào hôm nay là áp lực của Trung Quốc lúc này liệu có hữu hiệu hay không, khi mà trong thời gian gần đây, Bắc Kinh đã nhiều lần tuyên bố thiện chí, nhưng ngay sau đó lại có những hành động hù dọa Hà Nội. 

Thí dụ gần đây nhất là vụ tàu Viking II bị tàu cá Trung Quốc sách nhiễu, chỉ vài ngày sau phát biểu hữu hảo của bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt tại cuộc Đối thoại an ninh Shangri La ở Singapore vào thượng tuần tháng sáu.

Tham vọng của Bắc Kinh trước sau như một. Tân Hoa Xã vào hôm qua đã lại nêu bật rằng Bắc Kinh có chủ quyền không thể tranh cãi trên các đảo ở Biển Đông và những vùng biển xung quanh.

Hãng tin nhà nước Trung Quốc cũng không ngần ngại nhắc lại sự kiện mà họ cho là vào năm 1958, Bắc Kinh đã khẳng định các hòn đảo trên Biển Đông thuộc lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc và chính cố Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao của mình gửi tới đồng nhiệm Trung Quốc khi đó.

------------------
*****


»» xem thêm

Nhân sự Chính phủ

Nguồn: Blog Trương Duy Nhất

hop-chinh-phu Cùng với ghế Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, chiếc ghế Thủ tướng cùng nhân sự Chính phủ sẽ được bầu và phê chuẩn tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa XIII dự kiến khai mạc vào ngày 21-7 tới. Tuy nhiên, sẽ không có bất cứ một sự “chuyển ngôi” nào như đồn đoán. Ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn là Thủ tướng (và như vậy tất nhiên ghế Chủ tịch nước là ông Trương Tấn Sang). Bất ngờ duy nhất nếu có là Chính phủ nhiệm kỳ này sẽ không có ghế Phó Thủ tướng thường trực.
          Ông Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ tướng thường trực sẽ sang ghế Chủ tịch Quốc hội (chứ không phải là ông Phạm Quang Nghị như đồn đoán). Cộng với hai Phó Thủ tướng đương nhiệm là Hoàng Trung Hải và Nguyễn Thiện Nhân, Chính phủ sẽ được bổ sung thêm 2 Phó Thủ tướng nữa là ông Nguyễn Xuân Phúc và Vũ Văn Ninh. Ông Phúc dự kiến thay mảng nội chính của ông Trương Vĩnh Trọng trước đây. Còn ông Vũ Văn Ninh sẽ ôm mảng kinh- tài. 

          Cho dù ôm mảng kinh tài của ông Nguyễn Sinh Hùng trước đây, nhưng ông Ninh sẽ không phải là Phó Thủ tướng thường trực (vì ông không phải Ủy viên Bộ Chính trị). Ông Nguyễn Xuân Phúc dù là Ủy viên Bộ Chính trị nhưng cũng chỉ được phân giữ mảng nội chính. Cơ cấu Chính phủ nhiệm kỳ này dự kiến sẽ không có ghế Phó Thủ tướng thường trực. 

          Còn một chiếc ghế đặc biệt nữa là Thường trực Ban Bí thư hiện do ông Trương Tấn Sang nắm giữ, dự kiến sẽ được chuyển giao cho ông Lê Hồng Anh.

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011

Tư liệu: Thư tịch Trung Hoa thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Việt Nam

Nguồn: baodatvietvn
Thư tịch Trung Hoa thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Việt Nam
Cập nhật lúc :10:30 AM, 29/06/2011
Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Trong khi đó, không ít thư tịch cổ Trung Hoa, do chính người Trung Hoa ghi lại trong lịch sử đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Một tài liệu đáng tin cậy về chính sử Trung Hoa là cuốn "Lịch sử Trung Quốc thời trung cổ” do Hàn Lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978, học giả Hsieh Chiao-Min trong bài "Nghiên cứu về lịch sử và địa lý” nhận định về cuộc thám hiểm của Trung Hoa tại đại dương như sau: "Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết với đại dương”. Theo các tài liệu lịch sử chính thống "thảng hoặc triều đình Trung Hoa cũng gửi những đoàn thám hiểm đến Nhật Bản trong các thế kỷ thứ III và thứ II (TCN) và tại Đông Nam Á, Ấn Độ, Ba Tư và Phi Châu trong thế kỷ XV. Điểm rõ nét nhất là tại Thái Bình Dương có rất ít, nếu không nói là không có, những vụ xâm nhập quy mô của Trung Hoa” suốt chiều dài lịch sử (từ đời nhà Tần thế kỷ thứ III TCN đến nhà Thanh từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX).

Dưới đời nhà Minh, Minh Thành Tổ cử Đô đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy những đoàn thám hiểm đến Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập nhằm thiết lập bang giao với trên 30 quốc gia duyên hải, triển khai Con đường Tơ Lụa tại Ấn Độ, Phi Châu và Trung Đông. Những chuyến hải hành của phái bộ Trịnh Hòa không phải để chinh phục Biển Đông nơi có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thực tế đoàn thuyền chỉ đi ngang qua Biển Đông nhằm khai phá Ấn Độ Dương. Trạm trú chân duy nhất của đoàn trong khu vực này là Đồ Bàn (Chaban) thủ phủ Chiêm Thành bấy giờ. Sau khi Minh Thành Tổ mất, triều đình nhà Minh đã phê phán những cuộc hải trình nặng phần trình diễn của Trịnh Hòa đã góp phần làm suy yếu nền kinh tế quốc gia.

Sử gia Triệu Nhữ Quát đời nhà Tống trong cuốn Chư Phiên Chí đã xác nhận nhiều sự kiện lịch sử quan trọng từ thời nhà Hán. Theo đó, năm 111 TCN, sau khi thôn tính Nam Việt "Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra 2 quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam). Trong thế kỷ thứ I TCN, Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam. Mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy (cuối thế kỷ thứ VI đầu thế kỷ thứ VII) mới đặt lại quyền cai trị”. Triệu Nhữ Quát cũng cho biết vùng quần đảo Hoàng Sa (Vạn Lý Trường Sa) là nơi nguy hiểm, tàu thuyền Trung Hoa không nên đến gần vì chỉ đi sai một tí là có thể chìm đắm. Nhan đề sách là Chư Phiên Chí, có nghĩa là chép chuyện các phiên quốc, nước ngoài. Vạn Lý Trường Sa nằm ở phiên quốc, có nghĩa là không thuộc về Trung Hoa mà thuộc về phiên quốc Nam Việt. Như vậy, biên giới trên Biển Đông của Trung Hoa vào đời nhà Hán chỉ tới đảo Hải Nam.


Một trang trong cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán, một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt.
Đời nhà Đường có sách Đường Thư Nghệ Văn Chí đề cập tới cuốn Giao Châu Dị Vật Chí của Dương Phu chép những chuyện kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Sách này chép, tại Thất Châu Dương (nhóm An Vĩnh, quần đảo Hoàng Sa) là nơi có nhiều đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt đi qua không được. Điều này đã khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc về Giao Châu xưa (nay là Việt Nam). Trong đời Nam Tống, cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Châu Khứ Phi cũng xác nhận: "Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ Dương”. Chư Phiên Đồ đời Tống cũng xác định giới hạn lãnh thổ của Trung Quốc với các nước khác ở Giao Dương (tức Giao Chỉ Dương). Giao Chỉ Dương hay Biển Giao Chỉ là Vịnh Bắc Bộ ngày nay, trong khi Hoàng Sa và Trường Sa lại cách xa Vịnh Bắc Bộ hàng trăm dặm về phía nam. Như vậy, các thư tịch cổ Trung Hoa từ đời nhà Tống đã cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc về Trung Quốc mà thuộc về nước khác mà Trung Quốc gọi là phiên quốc hay Giao Châu, Giao Chỉ.
Vào đời nhà Nguyên, quân và dân Đại Việt đã 3 lần đánh tan quân Nguyên – Mông xâm lược và góp phần phá tan kế hoạch Đông Tiến (đánh Nhật Bản) của đoàn quân Mông Cổ nổi danh là bách chiến bách thắng từ đời Thành Cát Tư Hãn. Sau 3 phen thất bại, nhà Nguyên không còn dòm ngó Đại Việt cả trên lục địa đến các hải đảo. Trong suốt các thế kỷ XIII và XIV, theo chính sử Trung Hoa, quân Mông Cổ không hề có ý định xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong Dư Địa Đồ đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách Quảng Dư Đồ của La Hồng Tiên thực hiện năm 1561 phần cực nam lãnh thổ Trung Hoa là đảo Hải Nam.

Đời nhà Minh, Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồ trong Đại Minh Nhất Thống Chí (1461), Hoàng Minh Đại Thống Nhất Tổng Đồ trong Hoàng Minh Chức Phương Địa Đồ (1635) đã vẽ phần cực nam Trung Hoa là đảo Hải Nam. Trong khi cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi gọi Biển Đông là Giao Chỉ Dương. Trên các bản đồ Trịnh Hoà Hạ Tây Dương, Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ cũng không thấy ghi chép các danh xưng Hoàng Sa, Trường Sa (hay theo cách gọi của Trung Hoa là Tây Sa, Nam Sa, Tuyên Đức, Vĩnh Lạc) trong các lộ trình và hải đạo của Trịnh Hòa sau 7 lần đi qua Biển Đông để khai phá Ấn Độ Dương (Tây Dương). Nhiều tài liệu chính sử nhà Minh cho biết, từ thế kỷ XV, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ của Đại Việt. Lưu ý rằng từ năm 1427 Lê Lợi đã đánh thắng quân Minh để giành lại chủ quyền cho Đại Việt bị Minh Thành Tổ chiếm đoạt từ 20 năm trước (1407).


Đại Thanh Nhất Thống Toàn Đồ, đảo nhỏ ở phía dưới là Hải Nam, gần đó bên trái là Giao Chỉ, đảo lớn hơn bên phải là Đài Loan.
Đời nhà Thanh, từ thế kỷ thứ XVII đến XX, theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Bản Đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỷ XIX "lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”. Qua thế kỷ XX, sự kiện này còn được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 với đoạn như sau: "Điểm cực nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại vĩ tuyến 18”. Các quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam kéo dài từ vĩ tuyến 20 (ngang Thanh Hoá) đến vĩ tuyến 18 (ngang Nghệ An – Hà Tĩnh). Trong khi quần đảo Hoàng Sa tọa lạc về phía nam, từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi) và quần đảo Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 8 (Cam Ranh – Cà Mau). Bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do triều đình nhà Thanh ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (cũng không thấy ghi theo cách gọi của Trung Quốc là Tây Sa, Nam Sa, Vịnh Lạc, Tuyên Đức...). Hơn nữa, trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) chép: "Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát dài ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy, tư liệu này của Trung Quốc đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ trên biển của Việt Nam. Trong bộ sách địa lý Đại Thanh Nhất Thống Chí do Quốc Sử Quán nhà Thanh biên soạn năm 1842 với lời tựa của hoàng đế Thanh Tuyên Tông, không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa). Trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (1744), vùng biển của Việt Nam tại Biển Đông được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương. Trong vụ ngư dân đảo Hải Nam cướp tàu chở đồng bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa những năm 1895-1896, để trả lời văn thư phản kháng của Chính phủ Anh, Tổng đốc Lưỡng Quảng Trung Hoa đã phủ nhận trách nhiệm với lý do: "Hoàng Sa không liên hệ gì tới Trung Quốc”. Ngoài ra cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán một nhà sư thời Khang Hy đã đến đất Thuận Hóa của chúa Nguyễn ngày 29 tháng giêng năm Ất Hợi (13-3-1695) thuật lại chuyến hải hành này và ghi nhận chủ quyền của Đại Việt trong việc chiếm hữu, kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông nơi tọa lạc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất là từ thế kỷ thứ XVII.
Các tài liệu cổ của Trung Hoa rõ ràng cho thấy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) đã được người Việt Nam phát hiện, sử dụng trong nhiều thế kỷ một cách hoà bình và liên tục không có sự phản đối của bất cứ quốc gia nào kể cả của Trung Quốc. Điều đó được minh chứng từ tư liệu chính sử của nhiều triều đại Trung Quốc trong đó đã mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt hơn 22 thế kỷ từ thời Tần, Hán cho đến đầu thế kỷ XX.




Đang đọc nhiều:


- Tai nạn thảm khốc, 6 người chết


- 'Phần lớn căng thẳng trên Biển Đông là do Trung Quốc'


- Nhà khoa học Pháp ủng hộ chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông



- Học giả quốc tế: Trung Quốc chuyển sang 'hiếu chiến'


- Gặp những người chiến đấu bảo vệ Hoàng Sa năm 1974


- Truyền hình Trung Quốc phỏng vấn học giả Việt về tranh chấp Biển Đông

------------------
*****


»» xem thêm

Nhà văn Phạm Viết Đào: Góp bàn với Bộ trưởng 4T về 3 điều kiện để xuất bản báo tư nhân tại Việt Nam

Bịt tai, bịt miệng, bịt mắt... mãi đâu có được, cũng phải nhìn ra thế giới mà học hỏi cho khôn người ra; đi nhiều mà chả học được một sàng khôn nào, thì chỉ có là kẻ ngu, chỉ phí tiền đóng thuế của nhân dân, hề hề!!!

GÓP BÀN VỚI BỘ TRƯỞNG LÊ DOÃN HỢP VỀ 3 ĐIỀU KIỆN ĐỂ XUẤT BẢN BÁO TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM 

Phạm Viết Đào. 

Nếu Việt Nam đồng ý cho phép xuất bản báo tư nhân thì thật sự đây là một hành động “cởi trói vĩ đại”, mang dấu ấn cách mạng đối với đời sống thông tin báo chí tại Việt Nam… Sự cởi trói này sẽ tạo điều kiện cho nền báo chí Việt Nam hòa nhập được với cộng đồng báo chí thế giới… 

 

Đài BBC vừa đưa tin về cuộc phỏng vấn của báo Việt Weekly và Phố Bolsa TV với  Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp về chủ đề về tự do thông tin. Cuộc phỏng vấn kéo dài hơn 1 tiếng đồng hồ với nhiều vấn đề liên quan tới hoạt động báo chí tại Việt Nam. Tôi đặc biệt chú ý tới ý kiến của BT Lê Doãn Hợp về 3 điều kiện để có thể xuất bản báo tư nhân tại Việt Nam. Sau đây xin trích đưa lại ý kiến này và xin được góp bàn thêm về các điều kiện mà BT Lê Doãn Hợp đã nêu.

Theo BT Lê Doãn Hợp, để xuất bản được báo tư nhân tại Việt Nam, cần phải có các điều kiện sau: 

"Báo chí tư nhân để cho ra đời thì Việt Nam phải có một lộ trình và phải giải quyết căn cơ ba vấn đề. Ba vấn đề này giải quyết tốt thì báo chí Việt Nam mới có thể tiến kịp thời đại và thế giới được. 

- Thứ nhất là luật lệ. Luật lệ Việt Nam nói thật chúng tôi mới vào cuộc mấy chục năm Đổi Mới nên luật lệ phải sửa liên tục và nó không theo kịp cái vận động cuộc sống và hội nhập thế giới.

Cái luật hiện nay còn quá lỏng và các chế tài xử lý không nghiêm...

- Cái thứ hai, mà tôi cho là rất quan trọng, là tính chuyên nghiệp của những người làm báo. Chúng tôi hiện có 17.000 phóng viên nhưng mà tính chuyên nghiệp chưa cao...

- Và cái thứ ba là dân trí.

Chúng ta phải nâng dân trí lên để dân có thể coi là lực lượng giám sát báo chí cao nhất, tối thượng nhất.

Dân trí Việt Nam còn thấp," ông Hợp nói…”


Trước hết với tư cách là một nhà báo và là một nhà văn, tôi hết sức hoan nghênh ý kiến nêu trên của Bộ trưởng Bộ Thông tin-Truyền thông Lê Doãn Hợp. Ý kiến này rõ ràng là một bước tiến dài của Chính phủ Việt Nam trong vấn đề nhìn nhận và cũng như quan điểm về quản lý, tạo điều kiện môi trường pháp lý cho báo chí phát triển đúng chức năng của mình. 
Hiện nay tại Việt Nam chỉ cho phép báo của các cơ quan nhà nước cấp Bộ, Tập đoàn kinh tế, các hội chính trị xã hội ra báo; các điều kiện này đã làm cho cái sân báo chí bị gò bó… Cái cơ chế xuất bản báo chí không giống ai này đã hạn chế vai trò của báo chí, nhà báo trong việc cung cấp thông tin để góp phần thúc đẩy, quản trị, điều chỉnh, lành mạnh hóa xã hội; trong khi đó thì đời sống thông tin báo chí thế giới đang phát triển như vũ bão và ngày càng trở nên sống động…
Nếu so sánh với ý kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong một lần phỏng vấn phóng viên báo nước ngoài cách đây vài năm về vấn đề xuất bản báo tư nhân tại Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng đã cho biết ( đại ý ): Tại Việt Nam luật pháp không cho phép báo tư nhân…Lần này ý kiến của BT Lê Doãn Hợp không “khóa trái” cánh cửa báo tư nhân mà chỉ nêu ra “ lộ trình” và “ điều kiện “ để có thể xuất bản báo tư nhân tại Việt Nam…
Nếu Việt Nam đồng ý cho phép xuất bản báo tư nhân thì thật sự đây là một hành động “cởi trói vĩ đại ” mang dấu ấn cách mạng đối với đời sống thông tin báo chí tại Việt Nam…Sự cởi trói này sẽ tạo điều kiện cho nền báo chí Việt Nam hòa nhập được với cộng đồng báo chí thế giới…
Còn 3 điều kiện mà ông BT Lê Doãn Hợp đặt ra theo cá nhân tôi không có gì khác thường; trong hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam, không lâu nữa chúng ta có thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện để cho giới báo chí Việt Nam được tự do, bình đẳng như các chủ thể, pháp nhân, các thành phần kinh tế khác trong xã hội…
Vậy tôi xin được đóng góp một số ý kiến để cho cái “lộ trình” mà ông BT Lê Doãn Hợp nêu sớm trở thành thực tế, 3 điều kiện mà BT Lê Doãn Hợp được sớm hoàn thiện, hoàn chỉnh:
-Về điều kiện thứ nhất đó là luật pháp
Theo tôi đây là vấn đề không mới và không khó cả với thế giới và đối với Việt Nam. Thế giới có nhiều nước có báo tư nhân, vậy thì người ta quản lý thế nào để báo chí phát huy được chức năng thông tin, đóng góp vào việc quản trị, lành mạnh xã hội thì ta tiếp thu, học hỏi, kế thừa và phát triển…Chúng ta đã giao lưu, học hỏi, kế thừa và phát triển nhiều thứ từ các kho “ dữ liệu “, “ nguyên liệu “ của thế giới; chả nhẽ hoạt động báo chí chúng ta lại không làm được ?
Thứ hai, Việt Nam cần phải có những cải cách trong việc kiến thiết, xây dựng hệ thống luật pháp. Với cách đầu tư xây dựng luật pháp như hiện nay cho thấy bộc lộ quá nhiều bất cập. Luật ngành nào giao cho ngành đó soạn; ngành đó soạn thì trước tiên người ta phải nghĩ là có lợi cho mình, dễ cho mình…Tại sao chúng ta không tiến hành “ đấu thầu “ xây dựng luật pháp như các nước vẫn làm, như đấu thầu các công trình của khoa học xã hội nhân văn khác…
Tư nhân, các nhóm tác giả, các trung tâm, các viện nghiên cứu do các doanh nghiệp, tư nhân tự thành lập có thể tự tổ chức sáng tạo ra các công trình khoa học-kỹ thuật, văn học-nghệ thuật mà độ tinh hoa về trí tuệ không thể nói là kém hơn các công trình luật pháp…Tại sao chúng ta không xã hội hóa vấn đề xây dựng các công trình luật pháp mà lại giao độc quyền cho các cơ quan nằm trong các bức tường hành chính, quan liêu, già nua và tham nhũng…
Nếu chúng ta mở ra theo hướng này, nhất định đời sống luật pháp kể cả xây dựng và áp dụng luật pháp sẽ có thay đổi đột biến…
Người Việt Nam so với mặt bằng chung của thế giới về mặt trí tuệ, kiến thức hiểu biết và vận dụng khoa học-kỹ thuật-luật pháp không thể xếp vào diện thấp kém được…
Do đó, để soạn ra được một hệ thống luật pháp tạo điều kiện cho báo chí tư nhân ra đời, chắc chắn đây không phải là điều kiện quá khó mà người Việt Nam không thể không làm được, không thể không vượt qua, không thể không đồng thuận với nhau được…
- Điều kiện thứ 2, theo ý kiến của BT Lê Doãn Hợp đó là tính chuyên nghiệp của những người làm báo chưa cao ?
Tôi không tán thành ý kiến này của BT Lê Doãn Hợp. Không chỉ báo chí mà nhiều lĩnh vực khác còn cao cấp hơn báo chí, phức tạp hơn báo chí, trừu tượng hơn báo chí mà người Việt Nam vẫn trở nên chuyên nghiệp được, thậm chí trở thành tinh hoa của thế giới như trường hợp Ngô Bảo Châu và rất nhiều nhà khoa học đủ các ngành nghề đã chứng minh. Theo tôi, các nhà báo “quốc doanh” hiện nay có những mặt hạn chế này nọ về nghiệp vụ báo chí, về bản lĩnh nghề nghiệp là do cái “cơ chế”…quản lý báo chí hiện nay đẻ ra…
Việt Nam từ chỗ thiếu gạo trở thành quốc gia có gạo xuất khẩu hàng đầu thế giới, điều này do cơ chế chứ đâu phải do nông dân Việt Nam trước đây không chuyên nghiệp, tay nghề kém…
- Còn điều kiện thứ 3 như ông BT Lê Doãn Hợp nói đó là vấn đề dân trí ?
Về điều kiện thứ 3 này, tôi lại càng không đồng ý với ông; với điều kiện dân trí như hiện nay tại Việt Nam, theo tôi chúng ta có đủ điều kiện để xuất bản báo tư nhân; thậm chí người đọc hiện nay còn khao khát có báo tư nhân để đọc…Ông thử vào kiểm tra các trang mạng tư nhân, các blog cá nhân mà xem, ông có thể tưởng tượng có những blog cá nhân hàng ngày có tới hàng vạn người vào truy cập, mặc dù những blog cá nhân này hoạt động hết sức hạn chế bởi sự ngặt nghèo của các điều kiện: từ thời gian, kỹ thuật đến kinh phí…Thử cấp phép cho họ hoạt động như một tờ báo tư nhân xem, họ có trở nên những tơ báo đứng đắn, có sức thu hút bạn đọc và góp phần vào việc làm lành mạnh xã hội không…
Hiện nay nhiều nước dân trí còn thua xa Việt Nam thế mà họ lại có báo tư nhân, vậy thì Việt Nam lẽ nào ???
Tóm lại qua các điều kiện mà BT Lê Doãn Hợp nêu tôi thấy điều kiện để xuất bản báo tư nhân tại Việt Nam đã chín muồi; quả bóng hiện nằm trong chân của các nhà quản lý? Chúng ta có chịu hòa đống với thế giới trong các chính sách chung phát triển kinh tế-xã hội-văn hóa-giáo dục-thông tin không? Hay chúng ta cứ khư khư một mình một chợ, một kiểu quán lý, một kiểu sống, một kiểu làm việc không giống ai ? Tự thiết kế cho mình một mô hình riêng, tự tách biệt để đứng bên lề của cộng đồng văn minh thế giới…
Dẫu sao thì tôi hết sức hoan nghênh và ủng hộ ý kiến mang tính cách mạng, đột phá của BT Lê Doãn Hợp.
Chừng mực nào đó, tôi thấy cần phải cảm ơn ông BT Lê Doãn Hợp về ý kiến mà ông đã nêu; theo tôi ý kiến đó là rất xác đáng và rất phù hợp với tâm nguyện của những người hoạt động trong giới báo chí Việt Nam, phù hợp với xu thế của thế giới, phù hợp với quyền lợi của độc giả Việt Nam; Ý kiến của ông theo tôi là rất hữu ích đối với nhà nước Việt Nam…
 
P.V.Đ

------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này