++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2011

'Đã đến lúc nói thẳng với Trung Quốc'

Nguồn: BBC
Tiến sỹ Vũ Duy Phú
Gửi cho BBC Việt ngữ từ Hà Nội

Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi tham lam bành trướng bá quyền Trung Quốc hiện nay là hiện thân của phong kiến Trung hoa từ ngàn xưa.

Tác giả cho rằng chủ nghĩa dân tộc hẹp
hòi ở TQ có nguồn gốc sâu xa từ trong
lịch sử phong kiến Trung Hoa.
Trung Quốc, sau khi làm cách mạng dân tộc dân chủ tư sản thắng lợi 1949, đã định hướng (lý thuyết) tiến tới xây dựng xã hội chủ nghĩa đích thực nhưng theo quy luật tự nhiên, không thể bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa như đang diễn ra.

Sự chớ trêu là ở chỗ, các nước tư bản chính hiệu đã trải qua hết những giai đoạn phát triển sơ khai, tích lũy tư bản ban đầu từ thực dân cũ, thực dân mới, đến đế quốc, rồi chiến tranh dành giật thị trường, chia lại thuộc địa...

Họ cũng đã trải qua hết vinh, nhục, thắng, bại, phục hưng, suy thoái nhiều lần và nhiều dạng thức khác nhau, qua hai, ba thế kỷ, nay đã chuyển sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa chín muồi, liên kết hội nhập toàn cầu trên nền tảng văn minh tư sản, dân chủ nhân quyền, kinh tế tri thức và xã hội hóa dần dần doanh nghiệp và lao động, hướng tới những nhiệm vụ cấp bách toàn nhân loại đang đòi hỏi giải quyết gấp rút và thiết thực hơn...

Trong khi đó thì Trung Quốc, to lớn gần 1 tỷ rưỡi dân, mới bước vào thời kỳ tích lũy tư bản ban đầu để tăng trưởng kinh tế, phát triển muộn theo con đường tư bản chủ nghĩa.

“Nông nổi, bồng bột”
Trong khi khủng hoảng thiếu nhiều mặt của loài người đang tới gần; tình trạng suy thoái đạo đức chính trị - xã hội, cùng những mâu thuẫn nội quốc nhiều mặt, vẫn đang nổi lên như một nguy cơ tiềm tàng có thể làm sụp đổ chế độ (TQ) từ bên trong
TS Vũ Duy Phú

Chính bởi vì là một nước quá lớn, nên Trung Quốc không thể đi tắt đón đầu bỏ qua các giai đoạn phát triển cổ điển cần thiết của tư bản chủ nghĩa.
Nhưng, một mặt, Trung Quốc lại có tham vọng rất lớn muốn chiếm đoạt vị trí đứng đầu thế giới một cách nhanh chóng.

Nên chủ trương của một bộ phận giới tinh hoa Trung Quốc nông nổi, bồng bột, nghĩ rằng, với số dân lớn, tổng sản lượng to, có thể xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh... giúp vượt qua nhanh chóng những khuyết tật của tư bản chủ nghĩa cổ điển, nhanh chóng bành trướng, chiếm đoạt để xoán ngôi cường quốc đứng đầu thế giới.

Mặt khác, vì trật tự thế giới từ lâu đã “an bài”, tài nguyên và các nguồn nhiên liệu chiến lược từ lâu đã được “phân chia” xong, trong khi khủng hoảng thiếu nhiều mặt của loài người đang tới gần; tình trạng suy thoái đạo đức chính trị xã hội, cùng những mâu thuẫn nội quốc nhiều mặt vẫn đang nổi lên như một nguy cơ tiềm tàng có thể làm sụp đổ chế độ (TQ) từ bên trong.

Những điều đó không chỉ đe dọa nghiêm trọng tham vọng bá chủ thế giới, mà còn đe dọa ngay sự ổn định và tồn tại của chế độ hiện tồn tại của Trung Quốc.

Đó chính là nguyên nhân quan trọng nhất thúc đẩy một bộ phận chính quyền và người dân Trung Quốc hoang mang, lo lắng, trở nên mất sáng suốt và thiếu nhân đạo, đã đang đưa ra hoặc thôi thúc lãnh đạo nước họ ra những chủ trương, chính sách và hành động mất khôn ngoan.

Thậm chí đây là những chính sách dã man, sảo quyệt, đe dọa hoặc tạo ra mối đe dọa tiềm tàng đối với nhiều vấn đề, nhiều khu vực, nhiều nước trên thế giới, mà cụ thể nhất là tại Đông Á và Đông Nam Á, trong đó điển hình nhất là đối với Việt Nam.
‘Cái khó và dở’
Trung Quốc
Trung Quốc cho biết sẽ tăng cường hải quân và các hoạt động hải giám và tuần duyên trên Biển Đông.

Cái khó và cái dở của Trung Quốc là ở chỗ, một mặt, chính vì là kẻ đến sau, phát triển Tư bản chủ nghĩa muộn, chưa từng trải nghiệm những “vinh quang cùng thất bại cay đắng” như những nước tư bản đi trước, nên mới dám đặt tham vọng sớm vươt qua các nước tư bản đi trước, bằng chính những công cụ bạo lực và thủ đoạn mà các nước đó từng sử dụng.

Trung Quốc đã quên tâm trạng hận thù trong quá khứ khi bị các cường quốc thời trước chèn ép.

Mặt khác, thời thế đã thay đổi rất nhiều, văn minh thế giới đã khác hẳn thời xưa, nên ý đồ bành trướng cho nhanh, chiếm đoạt cho nhiều, tích lũy tiềm lực kinh tế lớn để có đủ khả năng chèn ép các nước khác, xoán ngôi đứng đầu thế giới hòng đem lại nhiều “lợi ích to lớn” phi nghĩa cho bản vị dân tộc của mình, bây giờ đã không còn thích hợp.

Thế giới ngày nay không chấp nhận một nước đứng đầu trên nền tảng áp đặt, cường quyền, phi nhân tính và chủ yếu lại chỉ dẫn đầu về lực lượng vật chất.

Một mô hình chính trị văn hóa xã hội tiến bộ để được thế giới thừa nhận là điều kiện cần cho một nước đứng đầu thế giới, thì còn lâu Trung Quốc mới với tới.

Sự lệch pha rất lớn giữa phát triển kinh tế và chính trị xã hội vốn tạo ra nguy cơ tiềm tàng nội sinh chính là chỗ yếu nhất, là kẻ thù bên trong của Trung Quốc bá quyền hiện nay.

Và đấy lại chính là một trong những đồng minh tự nhiên của chúng ta giúp sức cản phá những ý đồ và hành động ngang ngược lộng hành, hướng khó khăn bên trong ra bên ngoài của Trung Quốc hiện thời.

‘Tư duy sai lầm’
Chủ trương tuyên truyền, vận động sâu rộng bản chất vần đề cho đông đảo nhân dân TQ và nhân dân thế giới biết bản chất sâu xa của vấn nạn bành trướng Trung Quốc hiện đại là vô cùng quan trọng
TS Vũ Duy Phú

Tuy nhiên, nên nhớ rằng, những hành động bạo hành, bất chấp luật pháp và dư luận thế giới hiện nay của Trung Quốc ở Biển Đông chính là kết quả của tư duy sai lầm từ gốc chỉ của một bộ phận giới lãnh đạo Trung Quốc hiện đại.

Chúng ta tin rằng, những tư duy kiểu ấy, những hành động nông nổi, nóng vội mang dáng dấp cuồng vọng hùng hổ phát triển ác tính kiểu Maoist Đại nhẩy vọt, Cách mạng Văn hóa, Gió Đông thổi bạt gió Tây.

Nay, thay vì đả đảo “Đế quốc Mỹ là con hổ giấy”, lại đang cố dựng lên một “Đế quốc Mỹ” mới trong lòng Trung Quốc nhưng sớm muộn sẽ bị chính nhân dân Trung Quốc và người dân thế giới chống lại, nên tất yếu những tư duy ngông cuồng ấy sẽ thất bại.

Trên cơ sở những trình bầy và nhận định như trên, thì chủ trương tuyên truyền, vận động sâu rộng bản chất vần đề cho đông đảo nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới biết bản chất sâu xa của vấn nạn bành trướng Trung Quốc hiện đại là vô cùng quan trọng.

Điều này phù hợp với chủ trương chung đa phương, hòa bình, giải quyết vấn đề Biển Đông mà hội nghị Bộ trưởng quốc phòng các nước, trong đó có Trung Quốc, vừa đồng thuận.

Tuy nhiên, chúng ta (Việt Nam) tuyệt nhiên không nên có một chút chủ quan lơ là trong việc chuẩn bị tư tưởng và lực lương để tạo ra nhiều sáng kiến và tổ chức đối phó với những hành động bành trướng bá quyền đang lên hiện nay của Trung Quốc.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của Tiến sỹ Vũ Duy Phú, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu các Vấn đề Phát triển (VIDS/Vusta). Tác giả từng tu nghiệp tại Trung Quốc và hiện phụ trách Diễn đàn Dư luận Phát triển thuộc Viện VIDS.
------------------
*****


»» xem thêm

Nỗi đau nước Việt: "Ém" tin về Biển Đông, trách nhiệm thuộc về ai?

Nguồn: VnExpress

"Ém" tin về Biển Đông, trách nhiệm thuộc về ai? 

 

Ông Lê Văn Nghiêm, Cục trưởng Thông tin đối ngoại cho rằng "Trong mọi trường hợp, chúng ta cần chủ động thông tin. Vì nếu chúng ta không thông tin, hoặc thông tin không kịp thời, không đầy đủ thì coi như nhường trận địa thông tin cho đối phương." -- Vậy trong việc "đảo ngũ" nhiều năm, khiến cho sự kiện Biển Đông ngày càng trầm trọng có thể dẫn đến chiến tranh này, trách nhiệm thuộc về ai? 
 
Trả lời phóng vấn báo điện tử VnExpress xung quanh quan điểm thông tin về sự kiện biển Đông, ông Lê Văn Nghiêm, Cục trưởng Thông tin đối ngoại cho rằng: "Thông tin đối ngoại của chúng ta còn hạn chế về ngôn ngữ. Rất cần những thông tin, bài báo Việt Nam chuyển ngữ sang tiếng Trung và các thứ tiếng khác. Những việc này tuy không quá tốn kém nhưng lâu nay chưa được coi trọng lắm".

Trong vấn đề Biển Đông, lập trường của Việt Nam thường xuyên được khẳng định lại, đó là Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

"Qua các thông tin rộng rãi trên báo chí Việt Nam và các nước, các học giả, dư luận quốc tế đã lên tiếng đồng thuận, ủng hộ lập trường chính nghĩa của Việt Nam".

Mặc dù vậy, trên thực tế thực hiện, chúng ta chưa tổ chức tốt việc đưa ra các bằng chứng và lập luận một cách đầy đủ, có hệ thống và liên tục để người dân trong nước cũng như người Việt Nam ở nước ngoài biết. Chúng ta cũng chưa giới thiệu nhiều bằng các thứ tiếng nước ngoài để cộng đồng quốc tế được biết. Đó là hạn chế trong công tác thông tin đối ngoại của chúng ta.

Tuy nhiên, sau các sự kiện vừa qua ở Biển Đông, khi báo chí của chúng ta lên tiếng mạnh mẽ, thì báo chí nước ngoài cũng nói rất nhiều. Các cơ quan báo chí, thông tấn lớn trên thế giới như BBC, Reuters, AFP... đưa tin nhiều về vấn đề này khiến dư luận quốc tế hiểu hơn về vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Điều đáng mừng là qua các thông tin rộng rãi trên báo chí Việt Nam và các nước, các học giả, dư luận quốc tế đã lên tiếng đồng thuận, ủng hộ lập trường chính nghĩa của Việt Nam.

Nhiệm vụ của thông tin đối ngoại Việt Nam bây giờ là nói rõ cho dư luận trong và ngoài nước hiểu về chủ quyền của Việt Nam, về lập trường chính nghĩa của Việt Nam. Chúng ta có chính nghĩa, có cơ sở pháp lý, có bằng chứng lịch sử rõ ràng về việc quản lý Hoàng Sa và Trường Sa từ cách đây nhiều thế kỷ. Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 cũng đã nói rõ về chủ quyền của các nước ven biển. Còn yêu sách của Trung Quốc thể hiện tập trung ở bản đồ đường lưỡi bỏ là hoàn toàn phi lý, không có căn cứ pháp lý và không có căn cứ lịch sử.


Đối với người dân Trung Quốc thì thông tin của chúng ta đến được với họ và làm cho họ hiểu là tương đối khó khăn do nhiều năm nay họ gần như chỉ nghe một chiều khiến người dân họ hiểu nhầm. Phải làm thế nào để họ nhận thức lại là nhiệm vụ rất khó khăn. Cái khó nhất của chúng ta là chuyển thông tin trực tiếp đến người Trung Quốc.

Thông tin đối ngoại của chúng ta còn hạn chế về ngôn ngữ. Rất cần những thông tin, bài báo Việt Nam chuyển ngữ sang tiếng Trung và các thứ tiếng khác. Những việc này tuy không quá tốn kém nhưng lâu nay chưa được coi trọng lắm.

Theo ông Nghiêm, Việt Nam cũng có thể có nhiều cách như qua các phương tiện truyền thông đại chúng của nước ngoài, của chính Trung Quốc. Vừa rồi đài truyền hình Phượng Hoàng có phỏng vấn nhà nghiên cứu Việt Nam, Tiến sĩ Vũ Cao Phan. Học giả này đã trình bày vấn đề tranh chấp Biển Đông rất thuyết phục, mềm mỏng, chuẩn xác, đúng nguyên tắc, coi trọng tình hữu nghị với Trung Quốc. Đồng thời ông đã nói ra được những cái dở, cái sai trong thông tin tuyên truyền Trung Quốc.

Đây là một bài học cho thông tin đối ngoại của Việt Nam. Trong mọi trường hợp, chúng ta cần chủ động thông tin. Vì nếu chúng ta không thông tin, hoặc thông tin không kịp thời, không đầy đủ thì coi như nhường trận địa thông tin cho đối phương.

Trong thời gian qua, chủ trương của Việt Nam luôn là thông qua đàm phán, giải quyết một cách hoà bình mọi tranh chấp trên cơ sở luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Đối với Trung Quốc, Việt Nam tăng cường nhịp độ đàm phán, phối hợp giải quyết thoả đáng các vấn đề nảy sinh trên tinh thần láng giềng hữu nghị, đồng chí anh em, không làm phức tạp thêm tình hình.

So với báo chí của Trung Quốc, báo chí Việt Nam kiềm chế hơn, không có lời lẽ khiêu khích, xúc phạm nước bạn. Kể cả khi họ nói sai và vu cáo chúng ta thì chúng ta cũng trao đổi lại ôn hòa, có lý có tình, có sức thuyết phục.

Trên thực thế, những chủ trương chính sách của Việt Nam đang được sự đồng thuận của dư luận quốc tế và phần nào làm giảm bớt căng thẳng ở biển Đông.

------------------
*****


»» xem thêm

Carlyle A. Thayer: Viễn cảnh xung đột vũ trang tại Biển Đông

Nguồn: Ba Sàm
Carlyle A. Thayer

Biển Đông: Viễn cảnh xung đột vũ trang

28-06-2011
Về các vụ xung đột gần đây ở các khu vực tranh chấp trên biển Đông như quần đảo Trường Sa, xin ông vui lòng cho biết đánh giá của ông về những điều sau đây:
Hỏi: Có phải các cuộc chạm trán gần đây liên quan đến Trung Quốc ở một bên và Philippines và Việt Nam ở phía bên kia trong các khu vực tranh chấp trên biển Đông, đặc biệt là ở quần đảo Trường Sa, một sự bùng nổ khác đến hẹn lại lên (seasonal) chúng ta đã thấy trong quá khứ và điều này cuối cùng sẽ bớt căng thẳng? Hay là một sự leo thang nguy hiểm lên một mức độ khác, có thể đưa khu vực đến gần hơn các triển vọng cho một cuộc xung đột vũ trang lớn ở đó, có lẽ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ? Điều đó có thể là một kịch bản?

 
Đáp: Ba sự cố lớn đã xảy ra trong năm nay liên quan đến các tàu Trung Quốc phá vỡ các hoạt động thương mại của Philippines và các tàu thăm dò dầu khí Việt Nam, thể hiện sự leo thang về sự quyết đoán của Trung Quốc. Các sự cố này không phải đến hẹn lại lên (seasonal), mà đặc biệt nhắm vào việc tước đoạt các hoạt động của các con tàu này. Các hành động của Trung Quốc gần như là một sự đụng độ.

Chỉ có một sự cố liên quan đến việc bắn đạn thật trong năm nay liên quan đến một tàu khu trục nhỏ của Hải quân Trung Quốc (PLAN). Tin tức cho biết, họ đã bắn ba phát đạn, rơi cách một tàu đánh cá của Philippines khoảng 550 mét hồi tháng 2.

Không chắc Trung Quốc sẽ sử dụng các lực lượng vũ trang hay kích động một cuộc xung đột vũ trang lớn. Ngoại trừ việc bắn đạn thật hồi tháng 2, tất cả các sự cố khác có liên quan đến các tàu dân sự thuộc Cơ quan Giám sát Hàng hải Trung Quốc.

Xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và Mỹ rất khó có thể là kết quả của những căng thẳng hiện nay trên biển Đông. Các viên chức quân sự Mỹ nhận thấy, các sự cố liên quan đến các tàu giám sát Hoa Kỳ ít hơn. Mỹ và Trung Quốc đã nối lại quan hệ quân sự và các cuộc thảo luận đang được tiến hành. Tuy nhiên, Trung Quốc không hợp tác cho lắm.

Hoàn toàn không rõ liệu Trung Quốc sẽ kiên trì với sự quyết đoán của họ hay không. Chắc chắn họ đã nhận được các phản ứng ngoại giao dữ dội. Tôi có thể nói sự quyết đoán của Trung Quốc tạm thời sẽ giảm.

Hỏi: Có sự khác biệt nào về việc Trung Quốc khẳng định các yêu sách của họ trong khu vực tranh chấp hiện giờ so với những năm qua? Một số người cho rằng, gần đây họ ngày càng hung hãn hơn.

ĐÁP: Tôi đã mô tả đặc trưng các hành động của Trung Quốc trong năm nay là quyết đoán, vì hai sự cố cắt cáp liên quan đến Việt Nam. Sự việc đầu thì khá rõ ràng. Tàu Trung Quốc cố ý và mưu tính trước sử dụng vũ lực để làm gián đoạn các hoạt động làm ăn hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Vụ việc thứ hai thì chưa rõ lắm nhưng đã có sự quấy nhiễu tàu thăm dò Viking 2 trước đó, trong tuần trước khi sự cố cắt cáp bị cáo buộc đã diễn ra.

Trường hợp tàu thăm dò của Philippines, ít nhất là một tàu Trung Quốc đã có thủ đoạn như thế, rằng hành động của họ được xem như là sự đe dọa để đâm vào [tàu Philippines]. Việc bắn vào các tàu đánh cá Philippines xem như một hành động hung hãn khác thường. Các ngư dân không có vũ trang và không hề là mối đe dọa cho tàu khu trục của Trung Quốc.

Ngoài các sự cố này, phản ứng của Trung Quốc đối với sự phản đối của Việt Nam và Philippines là thô bạo và gây chiến. Các hành động của Trung Quốc dựa trên sự tự nhận thức của họ, rằng họ có quyền “quản lý biển Đông” và thi hành “quyền tài phán” về lĩnh vực hàng hải. Việc Trung Quốc sử dụng lời lẽ mạnh bạo hơn là một đặc điểm mới và đáng lo ngại.

Hỏi: Động cơ đằng sau lập trường quyết đoán của Trung Quốc về các khu vực tranh chấp gần đây có thể là gì? Ông nghĩ rằng Trung Quốc sẽ đi bao xa trong việc khẳng định các tuyên bố của họ trên Biển Đông? Sự quyết đoán này của Trung Quốc có phải bị thúc đẩy bởi nhu cầu về tài nguyên khi họ bắt đầu trở thành cường quốc kinh tế chính trên thế giới? Có phải họ đối xử với Philippines, một đồng minh của Mỹ, cẩn thận hơn là các nước tranh chấp khác, như Việt Nam?

Đáp: Có ít nhất ba động cơ đằng sau hành vi của Trung Quốc. Thứ nhất, Trung Quốc cảm thấy bị bắt buộc phải thực hiện quyền tài phán ở biển Đông sau khi họ chính thức đệ trình bản đồ hình chín vạch hình chữ U lên Ủy ban Giới hạn Thềm lục địa Liên Hợp Quốc. Thứ hai, Trung Quốc tìm cách giành quyền kiểm soát nguồn dự trữ dầu được cho là ở khu vực Trường Sa. Trung Quốc thường xuyên cung cấp [lượng dầu] ước tính khoảng 8-9 lần nhiều hơn các công ty dầu hỏa phương Tây. Thứ ba, Trung Quốc phản ứng lại các hợp đồng thăm dò của Philippines và Việt Nam và bắt đầu các hoạt động thăm dò dầu mỏ.

Trung Quốc sẽ tiếp tục sử dụng một chính sách ngoại giao lẫn lộn và áp lực bạo lực để khẳng định tuyên bố chủ quyền của họ trên biển Đông trong các đường chín vạch. Trung Quốc sẽ tiếp tục khăng khăng đòi giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên cơ sở song phương với các nước tuyên bố chủ quyền có liên quan trực tiếp. Chính sách ngoại giao của Trung Quốc là nhắm tới việc làm cho một trong những nước đòi chủ quyền phải bỏ cuộc và làm trầm trọng thêm sự khác biệt trong ASEAN. Áp lực cơ bắp của Trung Quốc, nhắm làm các công ty dầu mỏ nước ngoài đánh giá lại rủi ro trong việc thăm dò dầu khí ở vùng biển tranh chấp. Áp lực cơ bắp cũng nhằm mục đích thuyết phục Manila và Hà Nội về cái giá phải trả khi chống lại Trung Quốc, lớn hơn cái lợi [mà hai nước này] có được. Cái lợi đang được nói đến là Trung Quốc tham gia vào khai thác chung.

Hỏi: Ông nghĩ gì về những ý định của Hoa Kỳ trong các tranh chấp trên biển Đông và làm thế nào ông nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò nào đó?

Đáp: Hoa Kỳ, cùng với tất cả các nước trên biển khác, có sự quan tâm trước mắt trong việc giảm căng thẳng và ngăn ngừa xung đột vũ trang xảy ra. Về lâu dài, Hoa Kỳ có mối quan tâm trực tiếp trong việc ngăn chặn Trung Quốc thiết lập quyền bá chủ, kiểm soát lĩnh vực hàng hải và các bãi đá, các đảo nhỏ trong đường chín đoạn.

Hơn nữa, Mỹ phải duy trì vị trí đứng đầu của họ khi đối mặt với các hành động của Trung Quốc. Mỹ phải hỗ trợ Philippines như một đồng minh [đã ký] hiệp ước. Nếu không, giá trị của một liên minh với Mỹ bị đánh giá thấp. Mỹ có ý định chứng minh rằng vai trò ổn định của họ sẽ tiếp tục. Mỹ sẽ triển khai các tàu chiến hải quân tới Biển Đông và đẩy mạnh các hoạt động hải quân.

Hoa Kỳ có ý định nhấn mạnh sự liên quan của họ đối với an ninh khu vực bằng cách đáp ứng lại các mối quan ngại của các nước trong khu vực trên cơ sở song phương, và thông qua sự hỗ trợ ASEAN trên cơ sở đa phương. Cuối cùng, ý định của Hoa Kỳ là thuyết phục một nước Trung Quốc đang trỗi dậy, rằng họ sẽ tốt hơn nếu biển Đông ổn định và an ninh, dựa trên luật pháp quốc tế, và rằng tốt nhất Trung Quốc nên hợp tác với Hoa Kỳ thay vì thách thức Mỹ.

Hoa Kỳ phải thực thi sự lãnh đạo của mình một cách khéo léo và hỗ trợ ASEAN. Hoa Kỳ không thể dẫn đầu, nếu không, sẽ bị xem như là một phần của vấn đề (tức là nước gây rắc rối). Mỹ phải cân bằng Trung Quốc nhưng đồng thời phải hỗ trợ ASEAN.

Hỏi: Philippines và Việt Nam từng nước riêng, hiện đang tiến hành thăm dò dầu khí tại các khu vực đặc biệt như Reed Bank cho Philippines, khiêu khích các hành động của Trung Quốc. Tình trạng này sẽ diễn ra như thế nào và nó nguy hiểm ra sao?

Đáp: Cả Philippines và Việt Nam cần khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ trong vùng đặc quyền kinh tế của mình để hỗ trợ phát triển quốc gia. Cả hai nước đều có lợi ích quốc gia quan trọng trong vấn đề này. Cho đến nay Trung Quốc đã phản ứng bằng lời nói. Trung Quốc hiện đang thực hiện kế hoạch gia tăng khả năng của các cơ quan dân sự của Trung Quốc để thực thi quyền tài phán. Điều này đã khiêu khích cả Việt Nam lẫn Philippines thực hiện các biện pháp “tự giúp đỡ” bằng cách tăng cường khả năng của hai nước để bảo vệ chủ quyền quốc gia. Trừ khi có thỏa thuận về các hướng dẫn thực hiện Tuyên bố Ứng xử giữa các bên trên Biển Đông năm 2002 (DOC), và thỏa thuận về một quy tắc ứng xử (COC) để điều chỉnh hành vi nhà nước, nếu không sự cố sẽ tiếp tục xảy ra.

Thời gian trong năm tháng sắp tới thì rất quan trọng, khi ASEAN được thiết lập để triệu tập hội nghị thượng đỉnh hàng năm và các cuộc họp liên quan, như Diễn đàn Khu vực ASEAN. Tới tháng 11 thì thoả thuận phải đạt được về các hướng dẫn thực hiện DOC và COC, khi triệu tập Hội nghị thượng đỉnh Đông Á hoặc Trung Quốc có khả năng làm nóng lên bằng cách triển khai các tàu chiến để bảo vệ các tàu các tàu ngư chính và các tàu giám sát dân sự. Trong tình huống này, khả năng xung đột vũ trang sẽ tăng lên.
 
------------------
*****


»» xem thêm

Tư liệu lịch sử: Ba triều đại nối tiếp đòi trả đất

Nguồn: diendan.org
by Hồ Bạch Thảo — Cập nhật : 01/07/2011 23:38

Lịch sử Việt Nam thời cận đại có ba triều đại Lê Trịnh, Tây Sơn và Nguyễn, đối nghịch lăm le tiêu diệt lẫn nhau, gây cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn hàng thế kỷ. Các triều đại này xung khắc nhau như nước với lửa, tưởng không thể chia sẻ với nhau bất cứ chính sách nào; tuy nhiên có điều thú vị là cả ba cùng một ý nguyện tìm cách đòi lại phần đất bị mất bởi Trung Quốc, tại 10 châu thuộc phủ An Tây, Hưng Hóa. 

Ba triều đại Lê Trịnh, Tây Sơn,Nguyễn nối tiếp đòi trả đất tại phủ An Tây, Hưng Hóa

Hồ Bạch Thảo

Lịch sử Việt Nam thời cận đại có ba triều đại Lê Trịnh, Tây Sơn và Nguyễn, đối nghịch lăm le tiêu diệt lẫn nhau, gây cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn hàng thế kỷ. Các triều đại này xung khắc nhau như nước với lửa, tưởng không thể chia sẻ với nhau bất cứ chính sách nào; tuy nhiên có điều thú vị là cả ba cùng một ý nguyện tìm cách đòi lại phần đất bị mất bởi Trung Quốc, tại 10 châu thuộc phủ An Tây, Hưng Hóa.

Lai lịch đất 10 châu có thể tóm lược như sau: năm Tân Tỵ Cảnh Hưng thứ 22 [1761] Hoàng Công Thư [tức Hoàng Công Toản] chiếm cứ 10 châu tại biên giới Việt Trung, thuộc vùng đất tại các tỉnh Ðiện Biên và Lai Châu ngày nay và một phần đất thuộc huyện Kiến Thủy, tỉnh Vân Nam thời nhà Thanh. Mười châu gồm:

Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Lai, Luân, Tung Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ Tuyền, Khiêm Châu và Tuy Phụ (1). Ðến đời con Hoàng Công Chất là Hoàng Công Toản bị chúa Trịnh Sâm sai Giám quân Ðoàn Nguyên Thục đánh tan vào năm 1769. Hoàng Công Chất và đồng bọn chạy trốn sang Vân Nam và đất đai trong 10 châu cũng bị chiếm mất 6 châu, Trung Quốc gọi đất này là Lục Mãnh [六猛]. Ðại Nam Nhất Thống Chí xác nhận rằng 6 châu bị mất vào nhà Thanh gồm: Tung Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ Tuyền, Tuy Phụ, Khiêm. Riêng 4 châu còn lại thì đời đầu Nguyễn thuộc phủ An Tây, đến thời Thiệu Trị trích lấy đất lập châu Lai, tức tiền thân của tỉnh Lai Châu, năm Tự Ðức thứ 4 [1851] trích lấy châu Quỳnh Nhai và châu Luân cho lập phủ Ðiện Biên, tức tiền thân của tỉnh Ðiện Biên ngày nay.

Sau khi Hoàng Công Toản chạy sang Trung Quốc, nhà Lê sai Trấn thủ Hưng Hóa gửi thư sang huyện Kiến Thủy Vân Nam, để đòi trả lại, nhưng viên Tri huyện Kiến Thủy lúc đầu trả lời rằng không có Hoàng Công Toản đến nội địa Trung Quốc. Bởi Hoàng Công Toản là nhân chứng quan trọng trong việc xác định đất đai biên giới, nên vua nhà Lê đích thân gửi thư cho Tổng đốc Vân Quí để đòi cho được Hoàng Công Toản. Nhà Thanh ở thế không thể giấu nhẹm được, nhưng nếu trả về thì lòi ra ánh sáng việc chiếm đất, nếu không trả về thì sai với qui định ngoại giao giữa hai nước đã từng thỏa thuận việc dẫn độ tội phạm từ nước nọ chạy trốn sang nước kia. Trước tình thế đó, vua Càn Long bèn dàn dựng một vở kịch công phu, sai bộ tham mưu trung ương là Quân cơ đại thần soạn các văn thư nhân danh Tổng đốc Lưỡng Quảng hoặc Tuần phủ Quảng Tây, rồi sai dịch trạm chuyển đến các nơi này, bắt các viên Tổng đốc, Tuần phủ đích thân chép lại để gửi sang giao thiệp với An Nam. Nội dung chối là không nhận được văn thư đòi xin Hoàng Công Toản, nên đại Hoàng đế [Càn Long] đã cho an sáp y tại Ô Lỗ Mộc Tề, Tân Cương. Có hàng chục văn bản liên quan đến sự dối trá này, hiện còn lưu lại trong Thanh Thực Lục, sự việc này xin trình bày riêng tại bài sau.

Trải qua mấy năm [1770-1773] thư từ qua lại để đòi hỏi bằng chứng sống Hoàng Công Toản trở về, nhưng bị thất bại. Năm Cảnh Hưng thứ 36 [1775] nhà Lê sai Ðoàn Nguyễn Thạc làm Cống sứ, bày tỏ về việc mất 6 châu tại Hưng Hóa, nhưng không được nhà Thanh xét đến (2).

Năm Cảnh Hưng thứ 43 [1782] nhà Lê lại gửi văn thư cho Tổng đốc Vân Quí Phú Cương đề cập đến việc về mất đất; lần này quyết liệt hơn, đòi đến hiện trường để giải quyết :

" Cứ lời trình của viên Quốc vương khai rằng Thập Châu thuộc An Tây đường sá xa xôi, nhân sau cơn binh lửa, dân nội địa thừa cơ hội trà trộn vượt chiếm nhận đất thuộc Quảng Lăng, Lai Châu đổi tên thành Mãnh Lạt, Mãnh Lại, rồi cho lệ thuộc vào nội địa. Nên đợi đến mùa mát, sai người đến Thập Châu, tìm bắt phạm nhân giải tống sang, điều tra ra vùng đất biên giới chưa rõ ràng đáng được hoạch định lại... " 
(Cao Tông Thực Lục quyển 1164, trang 39-41)

Viên Tổng đốc soạn văn thư trả lời để phản đối, trước khi chuyển đi bèn gửi lên triều đình duyệt, nhưng bị sửa. Cẩn thận về việc này, vua Càn Long sai Quân cơ đại thần soạn thư khác, chuyển cho Phú Cương chép lại, rồi nhân danh viên Tổng đốc này để gửi đến An Nam; sự việc như sau:

Ngày 13 Ðinh Mùi tháng 9 năm Càn Long thứ 47 [19/10/1782]
Lại dụ:
“ Phú Cương tâu rằng ‘Nước An Nam gửi một văn thư trong đó xưng rằng du dân nội địa [Trung Quốc] hỗn độn vượt biên, chiếm giữ đất biên giới, rồi đổi tên cho lệ thuộc vào nội địa, nên xin phân hoạch [biên giới]. Hiện tại đã nghĩ ra bản thảo thư trả lời, cùng thông sức các quan trấn thủ biên giới lưu tâm tra xét.’
“ [Phú Cương] cứ làm như vậy đi; về việc nước An Nam làm bầy tôi thờ bản triều vốn được coi là cung thuận, nay nhân thổ dân nước này đặt điều để trốn thuế, bảo rằng du dân nội địa chiếm đất đổi tên rồi cho vào nội địa, thì đáng bác bỏ. Duy trong bản thảo nghĩ ra để gửi cho viên Quốc vương, có vài chổ chưa hợp, nên đã sai Quân cơ đại thần sửa lại thư trả lời như sau:

‘Cứ lời trình của viên Quốc vương khai rằng Thập Châu thuộc An Tây đường sá xa xôi, nhân sau cơn binh lửa, dân nội địa thừa cơ hội trà trộn vượt chiếm nhận đất thuộc Quảng Lăng, Lai Châu đổi tên thành Mãnh Lạt, Mãnh Lại, rồi cho lệ thuộc vào nội địa. Nên đợi đến mùa mát, sai người đến Thập Châu, tìm bắt phạm nhân giải tống sang, điều tra ra vùng đất biên giới chưa rõ ràng đáng được hoạch định lại.’

‘Lời nói thật không hiểu sự thể ! An Nam tiếp giáp với phủ Lâm An, biên giới trong ngoài đã rõ ràng, không có sự lộn xộn. Còn đất Lục Mãnh nhập vào bản đồ đến nay đã đến một trăm mấy chục năm xa xôi, ngạch lương các trại còn sổ sách có thể kê cứu, không thể trộn vào đất Di do nước ngươi quản lãnh. Vả lại địa giới nước ngươi nếu chưa rõ ràng, do tại thổ dân nước người đặt điều để mong ẩn lậu tô thuế tại nước ngươi, chỉ đáng tra hạch trong nội bộ, không nên hướng nội địa xin hoạch định địa giới.

‘Nay nước ngươi xin những điều khó nghe như vậy, đều do tại nơi hoang dã, không hiểu lễ pháp qui định. Bản bộ đường (3) nếu cứ thực tình mà tâu, đưa lên bộ bàn, sẽ kết tội nước ngươi vượt phận nói xàm. Nghĩ đến việc nước ngươi vốn xưng cung thuận, nên không trình tấu ngay. Nay đem sổ hộ tịch chép về biên giới, ghi rõ các trại do Lục Mãnh quản hạt để bảo cho biết biên giới tỉnh Vân Nam đã được thiên nhiên phân chia, không có chỗ nào là không rõ ràng ; nên cái việc nước ngươi xin phân hoạch là điều mạo muội. Ví thử có những chỗ không ghi tại bản thư tịch này, chỉ mạo danh bày đặt ra, cái mà thổ dân các ngươi xưng là đất nội phụ, thông đồng với dân gian nội địa tại đó gây chuyện hỗn độn, thì viên Quốc vương hãy lấy tên rồi tìm bắt, phân biệt giải tống ; căn cứ vào đó Bản bộ viện chuyển đạt lên bộ, để chiếu theo luật mà trừng trị.

‘Từ nay trở về sau viên Quốc vương cần tỏ ra cung kính, cẩn thận giữ chức Phiên phong, chớ riêng nghe lời Trấn mục rồi trình lên một cách sơ suất, vi phạm đức ý của Thiên triều. Ðại Hoàng đế phủ ngự các nước ngoại Phiên, bao gồm đức và uy; Quốc vương được phong từ lâu, đối xử chung lòng nhân như tại nội địa; Quốc vương nên suy nghĩ nhiều để vĩnh viễn nhận quốc ân. Nay viết thư chiếu hội để Quốc vương tiện tra khảo biện lý.’

“ Viên Tổng đốc tuân theo bản thảo trên, chép nguyên văn gửi đi ; lại thông sức các Trấn tướng quan chức nơi biên giới nghiêm mật điều tra quan sát, kinh lý ổn thỏa. Mang dụ này theo độ khẩn 500 lý [1 ngày] dụ để hay biết.” 
(Cao Tông Thực Lục quyển 1164, trang 39-41)

Văn thư về việc đòi lại đất mới gửi đến cho Tổng đốc Vân Quí Phú Cương, thì mùa thu năm đó chúa Trịnh Sâm mất, nên mọi việc đành bỏ dở.

Ðến đời Tây Sơn, sau khi thiết lập ngoại giao với nhà Thanh, vua Quang Trung đòi lại số đất mất tại Hưng Hóa, nhưng bị bác. Sách địa chí triều Nguyễn, Ðại Nam Nhất Thống Chí chép như sau:

“… Nguyễn Quang Bình nhà Tây Sơn khi mới lấy được Bắc Hà, làm biểu xin lại cương giới Hưng Hóa, lại bị Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An bác…” (4).
Ðến đời Gia Long, nhà Nguyễn; Trấn thần Hưng Hóa chấp nhận lời xin của các châu trưởng Lai Châu và Văn Bàn là Ðèo Chính Ngọc và Ðèo Quốc Uy cho gọi các dân phiêu tán từ các châu Tung Lăng, Hoàng Nham, Tuy Phụ, Hợp Phì trở về. Lời kêu gọi được dân phiêu tán hưởng ứng:

“ Bấy giờ những tù trưởng Mường Tè, Mường Phù Phương, Mường Tôn Na Y (thuộc Lai Châu), Mường Ẳm (thuộc châu Hoàng Nham), động Bình Lư (thuộc châu Tuy Phụ) cùng đưa nhau theo về…” (5) 

Lúc bấy giờ Tổng đốc Vân Quí gửi thư sang phản đối, có đoạn như sau :

“ Sáu trại Mãnh : Mãnh Lại, Mãnh Thích, Mãnh Ðinh, Mãnh Thoa, Mãnh Bạng, Mãnh Lộng (đều thuộc huyện Kiến Thủy nước Thanh), khoảng năm Khang Hy đã vào đồ bản, kể hơn 100 năm, yên ổn không việc gì. Nay đầu mục ở trấn Hưng Hóa, lại dụ dỗ họ về, thực là rất lạ ” (5).

Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành cho chạy trạm đưa thư lên vua Gia Long. Vua cho rằng công việc biên cương là quan trọng, hạ lệnh cho quan Bắc Thành tra rõ địa giới Hưng Hóa và sự tích 6 Mãnh dâng lên. Nguyễn Văn Thành lấy lời khai của 2 hai Châu trưởng người địa phương là Ðèo Quốc Ngọc châu Chiêu Tấn, và Ðèo Chính Ngọc tại Lai Châu như sau:

“ Mãnh Thoa là Mường Thu châu Chiêu Tấn, Mãnh Lợi là Mường Thích của Lai Châu, hai mường này ở hẻo lánh nơi biên giới, lẫn lộn vào dân huyện Kiến Thủy nước Thanh. Vả lại hai động Phong Thu , Bình Lư thuộc châu Chiêu Tấn và động Hoài Lai thuộc Lai Châu đều bị bọn quan lại nhà Thanh ở biên giới ức hiếp thu thuế bạc (ba động Phong Thu, Bình Lư, Hoài Lai bị huyện quan nước Thanh mỗi năm thu thuế bạc mỗi động 220 lạng). Nay nước Thanh lại đem dân hai Mãnh kể lại là dân nước họ, thì đất hai châu không còn được mấy (6).”

Tổng trấn Nguyễn Văn Thành phân tích vấn đề, rồi xin triều đình viết thư cho Tổng đốc Vân Quí giải quyết cương giới của hai châu Chiêu Tấn và Lai Châu trước, sau đó đề cập đến đất 6 châu bị mất:

“ ….Từ đời Lê đến đời Tây Sơn vẫn muốn chia vạch lại mà không được. Thế thì trong 10 châu của phủ An Tây trấn Hưng Hóa thì 6 châu (Hoàng Nham, Hợp Phì, Tung Lăng, Tuy Phụ, Lê Tuyền, Khiêm Châu) đã bị mất vào nước Thanh lâu rồi. Nay Chiêu Tấn và Lai Châu chính thuộc sổ Hưng Hóa mà người Thanh lại đem dân các mường động hai châu chép lẫn làm các trại Mãnh, chẳng qua đó là bọn quan lại ở biên giới thấy đất đai và nhân dân ấy có lợi nên lập riêng xưng hiệu, mưu toan bá chiếm, mà Tổng đốc Vân Quí thì cứ một mực nghe theo. Xét lời lẽ trong thư đều mơ hồ không căn cứ. Nay xin trước viết thư trả lời cho Tổng đốc Vân Quí tách bạch rõ ràng cương giới của hai châu yêu cầu sai người sang hội đồng chia vạch lại, để xem ý họ ra sao, rồi sau lại nói chuyện cũ cương giới về 6 châu. Như thế thì Tổng đốc Vân Quí hẳn là lo ta hoặc có sinh việc tại biên giới, không thể không trù liệu, dân hai châu do đó mà cũng có thể khỏi thuế má nặng nề (7) ”.

Tờ tâu đến triều đình Huế, vua Gia Long cho rằng nhà nước đang lúc bắt đầu khai sáng, chưa rỗi mà liệu công việc biên cương, nên việc để đấy không trả lời.

Ðến thời Minh Mệnh thứ 11, nhà vua gửi văn thư sang Trung Quốc, coi như đất Lục Mãnh thuộc về Việt Nam, rồi vạch ra việc Châu mục người họ Ðèo bị phía Trung Quốc bắt giữ ; sự việc được Tổng đốc Vân Quí tâu lên, vua Ðạo Quang ban dụ ra lệnh viên Tổng đốc này phản bác:

Ngày 24 tháng 10 năm Ðạo Quang thứ 10 [8/12/1830]
Bọn Nguyễn Nguyên [Tổng đốc Vân Quí] dâng tấu triệp rằng ‘Quốc vương Việt Nam gửi văn thư sang kêu rằng quan huyện tại nội địa [Trung Quốc] tự tiện bắt Di mục [viên chức Việt Nam]. Sai điều tra thấy chỗ này không phải là lãnh thổ của họ, nên gửi văn thư thông báo cho biết.’

Phía ngoài sông Lễ Xã (8), trong vùng sông Ba Phát, thuộc huyện Kiến Thủy tỉnh Vân Nam là đất Lục Mãnh ; đầu thuận nội phụ từ đầu triều Thanh đến nay, đã lệ thuộc vào bản đồ từ lâu. Vào thời Càn Long, nước An Nam mấy lần xin vạch lại cương giới, đều bị bác. Vào đời Gia Khánh, Trấn mục Việt Nam gửi lời đến các Mãnh, ý muốn vượt chiếm, lại được tâu rõ lên và bác bỏ ; cùng sai các trại, các Mãnh viết lời thanh minh, rồi báo cho Việt Nam biết, để giữ theo qui mô cũ. Nay nước này lại gửi văn thư sang, xưng là Ðèo Quốc Lân bị bắt giam chết, lại xưng là Ðèo Chính Ðịnh tại châu Chiêu Tấn bị bắt. Cứ theo lời tra rõ của viên Tổng đốc, thì những người này là những người trong các Mãnh của nội địa, đáng trị tội và bắt điều tra. Nước này giả bộ không biết, can dự vào việc tra vấn, thực do ý muốn cũ lại nổi lên, thử trước để gây đầu mối chiếm đất các Mãnh… 
(Tuyên Tông Thực Lục, quyển 178, trang 16-17)

Qua văn bản nêu trên, lập luận của vua Ðạo Quang tuy cố dành lấy được, nhưng còn để lộ ra một chút sự thực rằng “Phía ngoài sông Lễ Xã, trong vùng sông Ba Phát, thuộc huyện Kiến Thủy tỉnh Vân Nam là đất Lục Mãnh ; đầu thuận nội phụ từ đầu triều Thanh đến nay, đã lệ thuộc vào bản đồ từ lâu.” Câu hỏi được đặt ra là vùng đất Lục Mãnh do ai đã “đầu thuận và nội phụ” ? Lẽ dĩ nhiên không phải là nhà Lê, triều đình cầm quyền đương thời, vì theo sử liệu trích dẫn ở trên, vua Lê đã từng sai Sứ thần cùng gửi văn thư sang phản đối. Vậy đây chỉ có thể là kẻ phản loạn như bọn Hoàng Công Toản đã đầu thuận nạp đất. Ðường đường nước đại Trung Hoa lại dấm dúi giao thiệp với những kẻ phản loạn để giành đất, thực trái nguyên tắc ngoại giao mà hai nước đã từng thỏa thuận, và sự giành đất này hoàn toàn bất hợp pháp.

*

Hồ sơ về vụ mất đất tại phủ An Tây vẫn còn đó, dù hiện nay ta chưa lấy được, nhưng không có nghĩa rằng sẽ không lấy được trong tương lai. Kinh nghiệm trước đây dưới thời nhà Hồ đã từng nạp đất cho nhà Minh tại phía bắc tỉnh Lạng Sơn, kíp đến khi Vương Thông hối hả rút quân về Tàu, thì phần đất cũ ta lấy lại được. Sự kiện còn lưu lại trong Minh Thực Lục như sau:

“ ...Năm đầu Tuyên Ðức, Lê Lợi làm phản, triều đình cho lại đất cũ. Chúng bèn chiếm cả châu Ninh Viễn và Lộc Châu thuộc phủ Thái Bình, Quảng Tây. Lúc bấy giờ cơ quan hữu trách không kiểm soát nên bị mất vào tay người Di.”
(Minh Thực Lục, Hiến Tông, quyển 7, trang 1a, 1b).

Là một dân tộc quả cảm, chúng ta luôn luôn tin tưởng rằng cái thời oai hùng dưới triều vua Lê Lợi sẽ có ngày trở lại.

Hồ Bạch Thảo 

Chú thích

1. Ðại Nam Nhất Thống Chí, bản dịch NXB Thuận Hóa, Huế, 2006 ; tập 4, trang 332.
2. Ðại Nam Nhất Thống Chí, sách đã dẫn, tập 4, trang 334.
3. Bản bộ đường : Tổng đốc, hoặc Tuần phủ Trung Quốc thường tự xưng là Bản bộ đường, hay Bản bộ viện.
4. Ðại Nam Nhất Thống Chí, sđd, trang 334.
5. Ðại Nam Thực Lục, bản dịch NXB Giáo Dục, 2006, tập 1, trang 666.
6. Ðại Nam Thực Lục, sđd, tập 1, trang 667.
7. Ðại Nam Thực Lục, sđd, tập 1, trang 668.
8. Sông Lễ Xã : còn gọi là sông Nguyên Giang, tức thượng lưu sông Hồng Hà.

------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này