++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++
Hiển thị các bài đăng có nhãn chủ quyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chủ quyền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

Lãnh thổ toàn vẹn của đất nước là bất khả xâm phạm (20/07/2011)

Nguồn: daidoanketvn
(Thư gửi các đại biểu Quốc hội dự kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII)
 
Thưa quý vị đại biểu,
Trong tình hình đất nước ta hiện nay, Quốc hội khóa XIII (2011 - 2016) có tầm quan trọng hết sức đặc biệt đến vận mệnh của Tổ quốc, nổi bật là vấn đề Biển Đông được đồng bào cả nước rất quan tâm và đang theo dõi sít sao.
 
Đến thăm nhà giàn DK1
Ảnh: Hoàng Long
Quốc hội khóa XIII khai mạc kỳ họp đầu tiên vào lúc lãnh thổ toàn vẹn của đất nước đang bị đe dọa, Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Việc tàu Bình Minh 02 và Viking 02 tiến hành khảo sát địa chấn trong phạm vi thềm lục địa thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam bị tàu Trung Quốc cắt cáp. Trung Quốc đã hành động khiêu khích, xâm phạm chủ quyền Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc tham gia. Hơn thế nữa, hai vụ xảy ra chỉ cách nhau 14 ngày, chứng tỏ tính nghiêm trọng của sự vi phạm và sự tính toán có chủ đích của Trung Quốc. Những hành động khiêu khích trên đây do Trung Quốc cố tình gây ra, không mới mẻ chút nào với nước ta mà đã xuyên suốt, có hệ thống xuất phát từ tư tưởng bá chủ thế giới đã có từ rất lâu đời, tư tưởng Đại Hán ngày nay đã lỗi thời nhưng vẫn còn tồn tại trong một số người thuộc giới lãnh đạo Trung Quốc. Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam, tự ý vạch ra cái gọi là "Đường chữ U 9 đoạn”, thường được gọi là "đường lưỡi bò”, chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, bao gồm các phần lãnh hải Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đã được địa lý và lịch sử thế giới phân định. Trên vùng Biển Đông thuộc lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam năm 1974, Trung Quốc đã chiếm tất cả các đảo của Hoàng Sa, năm 1988 đánh chiếm 7 đảo và bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa, từ đó đến nay thường xuyên tiến hành các hoạt động uy hiếp và xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền nước ta, tự ý ra lệnh cấm bắt cá trên Biển Đông, xua đuổi, bắt giữ, cướp tài sản của các tàu đánh cá trên vùng này.

Thưa quý vị đại biểu,

Cử tri cả nước rất mong Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ nhất thông tin kịp thời mọi diễn biến về Biển Đông liên quan đến lãnh thổ, lãnh hải của ta, vạch rõ mọi mưu mô của Trung Quốc, lấn chiếm bằng đủ mọi thủ đoạn lúc tinh vi, lúc trắng trợn để đồng bào ta thường xuyên đề cao cảnh giác, sẵn sàng là chỗ dựa vững chắc của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh chống lại mọi hành động phi đạo lý, trái luật pháp quốc tế của Trung Quốc, dám bóp méo mọi sự thật để mang lợi cho mình. Quốc hội họp là dịp thuận lợi để nâng cao hiểu biết của toàn dân về quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa trên Biển Đông và cơ sở lịch sử - pháp lý về chủ quyền của Việt Nam, để mọi người càng hiểu sâu xa Hoàng Sa và Trường Sa là máu thịt của Việt Nam.

Hàng ngàn năm qua, lịch sử Việt Nam đã chứng minh rất hùng hồn, mỗi lần lãnh thổ của Tổ quốc ta bị ngoại bang xâm lấn, nhân dân ta vốn đã đoàn kết lại càng đoàn kết muôn người như một, không bỏ sót ai. Đặc biệt vào thời gian này khi Trung Quốc dồn quyền lực để thâm nhập, lũng đoạn mọi mặt đời sống của ta, cả nước càng phải tập trung cao độ nhân tài, vật lực, sức người sức của để làm thất bại mọi mưu đồ bành trướng của Trung Quốc. Chưa bao giờ những lời căn dặn, dạy dỗ của ông cha lại cần được con cháu ghi lòng tạc dạ, truyền đạt cho nhau bằng lúc này. Giặc Nguyên Mông chiếm nửa thế giới, rồi chiếm Trung Quốc nhưng tiến công Việt Nam ba lần đều thất bại. Về thắng lợi rực rỡ này, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trước khi mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300) đã dặn dò Vua Trần Anh Tông: "Vua tôi đồng lòng - Anh em hòa thuận - Cả nước góp sức”. Đó là bài học cốt tử cũng là cái gốc của thắng lợi vĩ đại, chỉ có đoàn kết muôn người như một thì mới có thể "lấy ít thắng nhiều”, "lấy yếu thắng mạnh”. Hưng Đạo Vương còn dặn dò "Kẻ kia cậy có tràng trận mà ta chỉ có đoản binh, lấy đoản chống nhau với tràng, phép dùng binh thường vẫn phải thế”.

Năm 1427, kết thúc 10 năm kháng chiến quét sạch giặc Minh, nhà Lê ra đời, Lê Lợi xưng vương Lê Thái Tổ (1428 - 1433), Nguyễn Trãi đã coi sức dân mạnh như nước, lật thuyền cũng là dân, chỉ dựa hẳn vào dân thì kẻ xâm lược mạnh đến đâu ta cũng đánh tan.

Về thời Vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim in năm 1964 tại Nhà xuất bản Tân Việt (Sài Gòn), có đoạn viết về "Việc giao thiệp với Tàu”, xin trích:

Nước ta bấy giờ tuy phải theo lệ xưng thần với nhà Minh nhưng vua Thánh Tông vẫn hết lòng phòng bị mặt Bắc. Thỉnh thoảng có những người thổ dân sang quấy nhiễu, thì lập tức cho quan quân lên tiễu trừ và cho sứ sang Tàu để phân giải mọi sự cho minh bạch. Có một hôm được tin rằng nhà Minh đem quân đi khác địa giới, Thánh Tông liền cho người lên do thám thực hư. Ngài bảo với triều thần rằng:

"Ta phải giữ gìn cho cẩn thận đừng để cho ai lấy mất một phân núi, một tấc sông của Vua Thái Tổ để lại”.
Ngài có lòng vì nước như thế cho nên dẫu nước Tàu có ý muốn nhòm ngó cũng không dám làm gì, cho nên sự giao thiệp của hai nước vẫn được hòa bình. (trang 250)
Trong một trường hợp khác, bàn đến lãnh thổ của đất nước, Vua Lê Thánh Tông còn căn dặn:
Kẻ nào dám đem một thước, một tấc đất của Vua Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di”.

Thưa quý vị đại biểu,

Nhân dân ta yêu chuộng hòa bình, lúc nào cũng mong là bạn của mọi nước trên thế giới. Với Trung Quốc, nhân dân hai nước Việt - Trung từng sống bao năm coi nhau là những người bạn cùng hội, cùng thuyền. Ngay cả những khi Trung Quốc có những hành động bành trướng, lấn chiếm, Đảng và Nhà nước ta vẫn kiên trì sử dụng các giải pháp ngoại giao, chính trị để giải quyết các vụ đụng độ, tranh chấp trên Biển Đông bằng đàm phán giữa các nước có quyền lợi liên quan. Chúng ta mong những năm cùng chung sống hữu nghị, thân thiết sẽ thúc đẩy Trung Quốc trở lại với 16 chữ vàng trong phương châm chỉ đạo quan hệ Việt Trung. Lịch sử đã chứng minh chỉ có như vậy hai nước mới cùng phát triển, cùng phồn vinh.

Xin gửi quý vị lời chào trân trọng.
Thái Duy

------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

Một góc nhìn về Công hàm của TT Phạm Văn Đồng

Nguyễn Hữu Quý (*)

Hiến pháp là rường cột, là luật gốc của Quốc gia; mọi tuyên bố liên quan đến chủ quyền quốc gia, không được Quốc Hội thông qua là không có giá trị pháp lý

Đôi lời thưa với bạn đọc:

Tôi viết bài này vào tối ngày 15 sang ngày 16/6/2011, sau khi đọc bài của tác giả Đinh Kim Phúc trên Blog Nguyễn Xuân Diện; hôm nay 20/6/2011, nhân đọc bài Vì sao Công hàm năm 1958 của Phạm Văn Đồng không có giá trị? , của GS Nguyễn Tiến Dũng, tôi thấy rằng nhận định của tôi về khía cạnh pháp lý, tức là Quốc hội đúng với góc nhìn của GS Nguyễn Tiến Dũng; vậy xin đăng bài này để bạn đọc tham khảo.


Đọc bàiCông hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và quan hệ Việt – Trungcủa tác giả Đinh Kim Phúc đăng trên Blog Nguyễn Xuân Diện ngày 15/6/2011, tôi thấy cần trao đổi một vài nội dung, với tư cách là một người đọc, như sau:

Xin trích lại nguyên văn Công hàm mà TT Phạm Văn Đồng, đăng kèm bài viết của tác giả Đinh Kim Phúc:

“Thưa đồng chí Tổng lý

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.(3)

Tôi có nhận xét như sau:

Xét hoàn cảnh lịch sử tại thời điểm đó và nội dung Công hàm trả lời TT Phạm Văn Đồng, thì đây là một văn bản khôn ngoan của TT Phạm Văn Đồng và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Thật vậy, việc công nhận chủ quyền trong hải phận 12 hải lý của một quốc gia có biển là đương nhiên theo luật pháp quốc tế; do đó, việc công nhận ghi trong công hàm nói trên cũng chỉ là hành động “tát nước theo mưa” theo ý nghĩa ngoại giao mà thôi.

Sự khôn ngoan thể hiện ở chỗ: Công hàm không nêu đích danh hải phận 12 hải lý là gồm các đảo nào; và không có bản đồ đính kèm (dẫu rằng trong công bố của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có ghi đầy đủ).

Chính vì thế, trong một đoạn tiếp theo của bài viết, Tiến sĩ Balazs Szalontai đã phân tích rõ hơn:

[…] Dẫu vậy, ông ấy có vẻ đủ thận trọng để đưa ra một tuyên bố ủng hộ nguyên tắc rằng Trung Quốc có chủ quyền đối với hải phận 12 hải lý dọc lãnh thổ của họ, nhưng tránh đưa ra định nghĩa về lãnh thổ này. Mặc dù tuyên bố trước đó của Trung Quốc rất cụ thể, nhắc đến toàn bộ các đảo bao gồm Trường Sa và Hoàng Sa mà Bắc Kinh nói họ có chủ quyền, thì tuyên bố của Bắc Việt không nói chữ nào về lãnh hải cụ thể được áp dụng với quy tắc này.

Ngoài ra, cần phải xét thêm hai vấn đề sau:

a. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lúc đó là thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa; vì vậy, việc tuyên bố của Việt Nam dân chủ cộng hòa (nếu có) có liên quan đến 2 quần đảo này là không có giá trị pháp lý. Vì một pháp nhân không thể tuyên bố về một vấn đề nào đó khi mà bản thân pháp nhân không thực sự sở hữu nó. Trong khi Chính phủ Việt Nam cộng hòa cực lực phản đối Trung Cộng.

b. Mọi vấn đề có liên quan đến chủ quyền quốc gia thường phải được Quốc hội phê chuẩn; việc thống nhất biên giới, lãnh thổ giữa hai quốc gia chí ít phải là sự thỏa thuận bằng một nghị định thư hay một tuyên bố chung sau khi được Quốc hội ở mỗi quốc gia phê chuẩn. Trong trường hợp này, đây chỉ là một công hàm, được hiểu như một văn bản ngoại giao, vì vậy không mang tính ràng buộc pháp lý.

Từ các nội dung trên, đặc biệt là hai nội dung (a) và (b), mong rằng, các nhà thương thuyết của Việt Nam, với nghiệp vụ chuyên môn của mình, có thể phân tích sâu hơn để phục vụ cho công việc đấu tranh pháp lý về chủ quyền của nước ta đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong một diễn biến khác; bài phát biểu của TT Nguyễn Tấn Dũng tại buổi mit-tinh quốc gia bế mạc Tuần lễ Biển và hải đảo Việt Nam năm 2011 tại thành phố biển Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tối 8.6.2011, TT Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh:

“Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cải của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

“Nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình”.

Như vậy, trong suốt chiều dài lịch sử từ trước đến nay, chưa có lúc nào Việt Nam từ bỏ chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

16.6.2011
----------------------------------------------------------
Bài này chủ Blog viết hôm 16/6 và đăng vào ngày 20/6; Hôm nay (20/7) đọc bài trên báo Đại đoàn kết thấy có nhận định của mình tương đối giống với quan điểm trong bài viết trên báo Đại đoàn kết nên xin đăng lại để bạn đọc có thêm một góc nhìn.

Baì trên báo Đại đoàn kết:

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (20/07/2011)

------------------
*****
»» xem thêm

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2011

Sử dụng công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm bằng chứng, Trung Quốc đã bộc lộ điểm yếu tạo cơ hội cho Việt Nam đòi lại quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa

Lê Văn Cường
Kỹ sư xây dựng

Phân tích sự việc chính quyền Trung Quốc (TQ) sử dụng công hàm năm 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (TT PVĐ) làm bằng chứng chứng minh chính Việt Nam (VN) cũng tán đồng Hoàng Sa và Trường Sa (HS–TS) thuộc chủ quyền “không thể tranh cãi” của TQ, chúng ta thấy rõ ý đồ thâm hiểm, tinh vi nhưng cực kỳ xuẩn ngốc của chính quyền TQ.

Ý đồ thâm hiểm, tinh vi nhưng cực kỳ xuẩn ngốc của chính quyền TQ khi sử dụng công hàm năm 1958 của cố TT PVĐ làm chứng cứ ở chỗ tự nó đã lộ ra việc TQ không hề có bất cứ bằng chứng lịch sử nào chứng minh quần đảo HS-TS thuộc chủ quyền của mình, nên buộc phải sử dụng công hàm năm 1958 của TT PVĐ và hy vọng dựa vào cái phao lý thuyết Estoppel đã có thông lệ áp dụng tại toà án quốc tế. Đại ý lý thuyết Estoppel phán xét rằng: Anh không thể nói hai lời trái ngược nhau, trước đây anh đã tuyên bố mảnh đất ấy là của tôi, thì nay anh không được phép tuyên bố ngược lại mảnh đất đó là của anh. Trước đây TT PVĐ của VN đã tán đồng, công nhận HS-TS thuộc chủ quyền của TQ thì nay VN không được phép nói ngược lại. Lời nói ngược lại của VN không có giá trị.

Lý thuyết Estoppel có giá trị áp dụng khi nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt nam (CHXHCNVN) và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) là một. Điều này có thể làm cho các nhà lãnh đạo nước CHXHCNVN lúng túng, không biết nên xử lý thế nào! Nếu phủ định nước VNDCCH không phải là nước CHXHCNVN thì không được, vì không đúng với lịch sử. Nhưng nếu công nhận nước VNDCCH và nước CHXHCNVN là một thì lại sa vào bẫy, lý thuyết Estoppel lập tức có giá trị áp dụng, VN sẽ đuối lý không cãi được trước Toà án Quốc tế.

Có thể vì vậy Bộ Ngoại giao và Chính phủ Việt Nam đành phải “ngậm hạt thị”, gây sự cố lỗi hẹn không trả lời Kiến nghị của 18 vị nhân sỹ trí thức vào ngày 13/7/2011 vừa qua, trong đó có mục quan điểm của chính phủ VN đối với công hàm năm 1958 của cố TT PVĐ.

Nếu đúng với lý do như trên chứ không phải vì lý do nào khác thì 18 vị nhân sỹ trí thức gửi Kiến nghị cũng sẽ thông cảm và huy động những tài trí đang ẩn tàng trong nhân dân mách nước, trợ giúp.

Việc chính quyền TQ đang gây hấn, lấn chiếm tại biển đông thuộc lãnh hải VN ngày càng trầm trọng, nóng bỏng cần phải khẩn trương giải quyết. May thay! Vấn đề “ngậm hạt thị” khi đối chọi với thuyết Estoppel và công hàm năm 1958 của TT PVĐ đã được một ông ẩn danh nào đó đề cập tới. Ông ẩn danh phân tích tình hình và lý luận rằng: 

Không hiểu sao chính quyền VN cứ lo sợ hão huyền, sẽ không có chuyện xảy ra chiến tranh, xung đột đổ máu nào đâu nếu Việt Nam cứ đàng hoàng yêu cầu TQ dừng ngay việc gây hấn và phải trả lại những phần đã chiếm tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988. Bởi lẽ nếu TQ gây sự, đụng đến VN, đồng nghĩa với việc TQ lộ rõ bộ mặt bá quyền muốn làm bá chủ thế giới, sẽ đụng đến toàn thể các nước yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới ngay. Một cuộc chiến tranh bùng nổ, một bên đơn độc là TQ và một bên là toàn thể thế giới bảo vệ cho lẽ phải và sự công bằng. Chính quyền cộng sản cai trị nước CHND Trung Hoa chắc chắn sẽ sụp đổ, lãnh đạo TQ hiện nay đủ trí khôn để nhận ra điều đó và cũng không muốn điều đó xảy ra. Việt Nam hiện nay đang ở thế vô cùng thuận lợi để đòi lại những gì mà TQ đã chiếm đoạt. Đòi lại quần đảo HS-TS thuộc chủ quyền của VN đã bị TQ chiếm đoạt năm 1974 và 1988 bằng cách nào? Rất đơn giản, chính phủ Việt Nam cứ thẳng thắn và cương quyết yêu cầu phía TQ phải rút hết người và các phương tiện tại các quần đảo HS-TS trong vòng 1 tháng để chính quyền VN tiếp quản. Nếu phía TQ không đồng ý hoặc giả vờ đồng ý rồi cứ ở lỳ đó thì buộc lòng chính phủ VN phải đưa ra toà án Liên Hiệp Quốc phân xử.

Nếu đưa ra toà án Liên Hợp Quốc, chắc chắn TQ sẽ thua kiện, vì TQ không có bằng chứng lịch sử nào chứng minh quần đảo HS-TS thuộc chủ quyền của TQ. TQ chỉ dựa vào cái công hàm năm 1958 và thuyết Estoppel. Cái công hàm năm 1958 và thuyết Estoppel đã được hoá giải không thể áp dụng bằng lập luận:

Bất cứ nước nào trên thế giới, chính phủ nước đó phải có trách nhiệm đảm bảo giữ gìn an ninh cuộc sống cho cộng đồng cư dân đang sinh sống tại lãnh thổ nước đó. Chính phủ nước VNDCCH phải có trách nhiệm đảm bảo cuộc sống và giữ gìn an ninh cuộc sống cho cộng đồng cư dân sinh sống trên lãnh thổ phía Bắc Việt Nam. Chính phủ nước Việt Nam Cộng hoà (VNCH) phải có trách nhiệm đảm bảo giữ gìn an ninh cuộc sống cho cộng đồng cư dân sinh sống trên lãnh thổ phía Nam Việt Nam. Vì một lý do nào đó hai chính phủ nước VNDCCH và chính phủ nước VNCH hợp nhất lại với nhau thành một chính phủ mới thì chính phủ mới đó phải có trách nhiệm đảm bảo giữ gìn an ninh cuộc sống cho cộng đồng cư dân thuộc cả hai vùng lãnh thổ của cả hai nước VNDCCH và VNCH. Cụ thể nước VNDCCH và nước VNCH hợp nhất thành nước CHXHCNVN thì chính phủ nước CHXHCNVN phải có trách nhiệm đảm bảo giữ gìn an ninh cuộc sống cho cộng đồng cư dân sinh sống trên toàn bộ lãnh thổ của cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam.
 
Qua đó, bất kỳ ai cũng nhận thức được rằng chính quyền nước VNDCCH chỉ là một bộ phận, một chính quyền địa phương phía Bắc thuộc nước CHXHCNVN từ năm 1976, (nước CHXHCNVN bao gồm và hợp nhất của hai nước VNDCCH, lãnh thổ địa phương phía Bắc và nước VNCH, lãnh thổ địa phương phía Nam). Vì chính phủ nước VNDCCH chỉ là một chính quyền địa phương phía Bắc nên mọi tuyên bố của chính phủ nước VNDCCH chỉ có tính chất địa phương chứ không có tính chất đại diện cho toàn thể nước CHXHCNVN và như tuyên bố của chính phủ nước CHXHCNVN, nên không áp dụng được lý thuyết Estoppel. Hơn nữa nước VNCH, lãnh thổ địa phương phía Nam ngày nay thuộc quyền quản lý của chính phủ nước CHXHCNVN nên chính phủ nước CHXHCNVN phải có quyền và có trách nhiệm với cộng đồng cư dân sinh sống tại đây giải quyết những vướng mắc tồn đọng của nước VNCH trước kia. Do đó lý thuyết Estoppel cũng không áp dụng được trong trường hợp chính phủ nước CHXHCNVN đại diện cho chính quyền địa phương phía Nam ngày nay tức chính phủ nước VNCH trước đây khởi đơn kiện đòi chủ quyền quần đảo HS-TS đã bị TQ chiếm đoạt năm 1974 và năm 1988.

Quần đảo HS-TS thuộc chủ quyền của nước VNCH, chính quyền địa phương phía Nam thuộc nước CHXHCNVN ngày nay, có nhân chứng là chính phủ Pháp và chính phủ Hoa kỳ làm chứng tính đến thời điểm năm 1973. Thử hỏi phía chính quyền TQ có nhân chứng nào chứng nhận quần đảo HS-TS thuộc chủ quyền TQ? Đó là chưa kể tới việc phía VN có rất nhiều tài liệu lịch sử chứng minh HS-TS thuộc chủ quyền của VN còn TQ thì không có tài liệu lịch sử nào khác ngoài cái công hàm năm 1958 của TT PVĐ và lý thuyết Estoppel không áp dụng được. Vụ án sẽ nhanh chóng kết thúc và TQ sẽ thua kiện, chịu án phí.

Có lẽ đã chợt hiểu lý sự cùn không bịp được nhân dân Việt nam, nên TQ đã nhanh chóng đổi chiến thuật ép VN và Philippines chỉ đàm phán song phương, tuyệt đối không đưa ra toà án quốc tế. Chính phủ Việt Nam phải hết sức tỉnh táo, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Cũng nên nhắc lại lời cảnh báo tới các nhà lãnh đạo nước CHXHCNVN rằng: Đây là thời cơ thuận lợi duy nhất để Việt nam đòi lại chủ quyền biển đảo đã bị TQ chiếm đoạt năm 1974 và năm 1988. Nếu để lỡ thời cơ, không đòi lại được phần đã mất, tức là các vị không làm tròn trách nhiệm được nhân dân cả nước tin tưởng giao phó. 

Hà Nội, ngày 16/7/2011
L.V.C.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
*****


»» xem thêm

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2011

Nhà giàn - những cột mốc chủ quyền

Nguồn: VNN

Cột mốc chủ quyền 

Tác giả: Cẩm Thúy


Đây là Tổ quốc, là đất đai hương hỏa của ông cha, dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này ta cũng phải canh giữ, một tấc không đi, một li không rời, dẫu có phải đổi bằng xương máu... 

22 năm qua tại vùng biển của Tổ quốc, những cơn sóng cao từ 13m đến 15m, có sức tàn phá khủng khiếp đã đánh đổ, nhấn chìm 5 nhà giàn, 1 tàu trực. 13 cán bộ chiến sĩ chốt giữ nhà giàn đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Nhiều người phải lênh đênh trôi dạt trên biển hàng chục giờ trong cái nắng cháy da, cái đói, cái rét thấu xương. Thế nhưng, nhà giàn này đổ lại có nhà giàn khác được xây lên, lớp trước ngã xuống lại có lớp sau tiếp bước. Đó là sự hình dung ngắn gọn nhất về những nhà giàn DK1 ở vùng biển thềm lục địa - những cột mốc chủ quyền của Tổ quốc trên Biển Đông. 

22 năm qua, với việc dựng lên những nhà giàn DK1 hiên ngang giữa trùng khơi sóng gió, người Việt hôm nay tiếp tục dựng lên những cột mốc chủ quyền mà mọi thế hệ người Việt đã dựng xây và gìn giữ. Lòng yêu nước của người Việt xuyên qua mọi thời gian, chưa bao giờ vơi cạn. 

Ở vào thời điểm này, càng thấy ý nghĩa cực kỳ quan trọng của dấu mốc. Ngày 5-7-1989 - ngày Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký Quyết định dựng nhà giàn. Quyết định đó đã thể hiện tầm nhìn xa trong việc xác lập chủ quyền của Tổ quốc.



"Tư lệnh đưa mắt nhìn suốt rẻo cát trống trơn, rồi lại nhìn cái lều bạt dã chiến cứ hộc lên trong gió tựa hồ một con ngựa bất kham, đang lồng lộn như muốn rứt tung mấy sợi xích sắt căng ghì xuống đảo mà phóng đi cùng bầy gió hoang dã. 

Đẹp, nền nếp. Đúng quân phong quân kỷ. Ở đây mà giữ được như thế này là tốt lắm rồi - Giọng Tư lệnh bỗng bùi ngùi - Tất nhiên là vất vả! Chúng mày rất vất vả! Tao biết! Nhưng khổ nỗi đây lại là Tổ quốc, là đất đai hương hỏa của ông cha, dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này ta cũng phải canh giữ, một tấc không đi, một li không rời, dẫu có phải đổi bằng xương máu..." 

Đoạn văn trên được trích từ cuốn Đảo Chìm của nhà thơ Trần Đăng Khoa và vị Tư lệnh được nhắc đến trong đó là Tư lệnh Giáp Văn Cương - Tướng chỉ huy Hải quân duy nhất cho đến nay được phong hàm Đô đốc ở Việt Nam và là người mà khi nhắc đến những cột mốc chủ quyền trên Biển Đông không thể không nhắc đến tên ông. Cũng như trong ký ức của rất nhiều người, ông là "vị tướng của Trường Sa", của Nhà giàn. 

Nhiều người đã nói đến "tầm nhìn Giáp Văn Cương", "ý chí Giáp Văn Cương" trong việc phòng thủ Trường Sa và khai sinh những nhà giàn DK1 ngày đêm bảo vệ thềm lục địa phía Nam. 

Theo đánh giá của Thiếu tướng Lê Kế Lâm (nguyên Tham mưu phó tác chiến Quân chủng Hải quân): "Nếu không có tầm nhìn và sự quyết đoán trong hành động của Đô đốc Giáp Văn Cương, Trường Sa có thể khó khăn hơn bây giờ, không toàn vẹn như bây giờ". 

Ở vào thời kỳ ấy, vị Tư lệnh với tầm nhìn của mình đã sớm dự báo: "Trong tương lai gần, vùng biển khu vực Trường Sa không được bình yên và sẽ là chiến trường chính của hải quân Việt Nam". 

Và kế hoạch bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa trong 2 năm 1986 - 1987 mà ông đề xuất với Bộ Chính trị là nhanh chóng dốc toàn lực, đặc biệt là công binh, ra Trường Sa để tăng cường, củng cố tất cả đảo nổi, đảo chìm mà quân dân VN đang đồn trú và sinh sống bao đời nay, đưa quân ra những đảo chìm thuộc chủ quyền VN nhưng chưa có quân đồn tru, và cùng với đó là các nhà giàn ra đời. 

22 năm qua, bao thế hệ cán bộ chiến sĩ đã sống trong những nhà giàn chỉ vài chục đến 100 m2, thiếu thốn đủ bề, gian khổ đủ bề. Không ai quên trận bão số 8 năm 1998, Nhà giàn DK1 cụm Phúc Nguyên bị bão cuốn phăng, 9 chiến sĩ bị cuốn trôi giữa biển, tàu trực chiến chỉ cứu được 6 người, 3 chiến sĩ chìm vào biển cả... Có một nhà văn bảo rằng có một Nghĩa trang ở trong lòng biển, không tượng đài, bia mộ. Rộng dài hàng trăm hải lý, hồn thiêng các anh qui tụ ở chỗ nào? 

Trên một vùng thềm lục địa thiêng liêng đã được xác lập chủ quyền của Tổ quốc, đang hiên ngang những cột mốc mang tên Nhà giàn DK1. Và cũng như mọi cột mốc chủ quyền ở khắp các dải biên cương, những người lính vẫn đang trụ bám, trông coi, gìn giữ. Họ - những người lính hải quân quanh năm sống trong những nhà giàn DK1 vài chục m2, xung quanh là trời, là biển, là kẻ thù nhòm ngó, là gió, là bão, là bất kể lúc nào cũng có thể hi sinh... Cho nên, giá mà bớt cho họ những thiếu thốn không đáng có khác như thiếu nước ngọt, thiếu rau xanh thì tốt biết bao nhiêu. (Gần đây nhờ chương trình Chung tay thắp sáng Nhà giàn DK1 do báo Tuổi trẻ khởi xướng nên các nhà giàn không còn cảnh thiếu điện suốt đêm). 

Lãng phí trong đầu tư công vẫn tồn tại trong báo cáo mỗi năm, sao không đầu tư cho đời sống người lính ở những nhà giàn để bớt đi một phần thiếu thốn ấy?
Theo Đại Đoàn Kết
------------------------------------------------------
Xem thêm:

DỰNG LẠI NHÀ GIÀN TRÊN THỀM LỤC ĐỊA 

Nguồn: Blog Mai Thanh Hải


Mai Thanh Hải Blog - Từ đầu tháng 7-1989, khi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt ký quyết định thành lập Cụm Kinh tế - Khoa học - Dịch vụ DK1 (thuộc Vũng Tàu - Côn Đảo), nằm trong thềm lục địa Việt Nam, hàng chục nhà giàn đã được xây dựng trên biển và được 1 đơn vị chuyên trách cấp Lữ đoàn của Hải quân Việt Nam đóng giữ, khẳng định chủ quyền Việt Nam.

Qua hơn 20 năm sừng sững canh giữ Biển Đông, hàng chục cán bộ - chiến sĩ Hải quân Vùng 2, Quân chủng Hải quân làm nhiệm vụ canh giữ biển trời trên các nhà giàn đã nằm xuống lòng biển trong khi làm nhiệm vụ. Cũng qua hơn 20 năm, một số nhà giàn đang đứng trước nguy cơ xuống cấp, phải tu bổ - sửa chữa và xây dựng lại (một số đã bị gãy, đổ bởi thiên tai khắc nghiệt, sóng to bão lớn...).

Việc xây dựng lại nhà giàn bây giờ, không quá vất vả - gian lao như hơn 20 năm trước, sử dụng sức người là chính với những trang thiết bị thô sơ - cũ kỹ, mà "nhàn hơn" bởi tàu thuyền, thiết bị nâng hạ, đóng cọc và máy móc hiện đại, chính xác và tuyệt đối an toàn.


Một bộ phận của nhà giàn mới
Cần cẩu khổng lồ

Vận chuyển
"Nhà mới" ở cạnh "nhà cũ"
Thiết bị cẩu di chuyển trên sà lan
Xây dựng
Miệt mài
Cần mẫn
Đế nhà giàn được lai dắt từ đất liền ra bằng tàu vận tải
Tàu kéo, tàu kèm
Xung quanh đều có các tàu bảo vệ, hỗ trợ
Nhà cũ đây
Hoàn thành "phần móng" cho nhà mới
Công trường tấp nập
Nhà cũ nghiêng nghiêng
Toàn cảnh
------------------
*****


»» xem thêm

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011

Ký ức Hoàng Sa trong nhiều thế hệ người Việt Nam (kỳ 1-:-kỳ 12)

Nguồn: daidoanket.vn
Ký ức Hoàng Sa trong nhiều thế hệ người Việt Nam (05/07/2011)
Trong tâm thức của người Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa gần gũi tựa như cái sân liền với ngôi nhà là dải đất hình chữ S, chỉ bước chân ra là tới. Hoàng Sa ghi dấu trong ký ức bao thế hệ người Việt, là nơi thấm đẫm máu xương, mồ hôi và nước mắt của người dân Việt kiên cường vượt lên đầu sóng ngọn gió để mưu sinh, và khi cần thiết người Việt cũng đã quyết tử để bảo vệ quần đảo - chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Khai thác phốt phát trên đảo Hoàng Sa năm 1940
Hoàng Sa trong ký ức của người Việt thời xưa

Ký ức của người Việt Nam thời xưa còn được ghi lại rõ ràng trong sử sách có lẽ chính là nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784). Trong sách Phủ Biên Tạp Lục soạn năm 1776, Lê Quý Đôn cho biết: "Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển. Ngoài biển, về phía đông bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia đi hoặc một ngày, hoặc vài canh giờ thì đến. Trên núi có chỗ có nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng, rộng lớn, nước trong suốt đáy. Bên cạnh đảo có vô số yến sào. Các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Bên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi, to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục không như ngọc trai, vỏ ốc có thể đẽo thành tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà. Có ốc xà cừ để khảm đồ dùng. Lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là trắng bộng giống đồi mồi mà nhỏ, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, có thể muối ăn được. Có hải sâm, tục gọi là con đồn đột, bơi lội ở bên bãi. Lấy về, dùng vôi xát qua, bỏ ruột, phơi khô. Lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi; nấu với tôm và thịt lợn càng tốt. Các thuyền ngoại phiên bị bão thường vào đậu ở đảo này. Trước, họ Nguyễn sai đặt đội Hoàng Sa lấy 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào. Cắt phiên, cứ mỗi năm tháng 2, nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng. Đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim, bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu (đắm), như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ. Đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hạt ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào Cửa Eo đến thành Phú Xuân nộp”.

Lý Văn Phức, một văn nhân nổi tiếng đời vua Minh Mạng, năm 1832 đi thuyền sang Philippines suýt nữa bị mắc cạn ở Hoàng Sa. Ông đã ghi cảm tưởng của mình khi tận mắt nhìn thấy bãi cát vàng mênh mông trên biển cả ấy trong bài tựa và bài thơ nhan đề "Vọng Kiến Vạn Lý Trường Sa Tác”. Bài tựa nói rằng: "Vạn Lý Trường Sa là một dãi cát từ bể nổi lên, phía tây tiếp dương phận trấn Quảng Ngãi, phía đông giáp dương phận nước Lữ Tống, phía bắc tiếp dương phận các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến. Dằng dặc kéo ngang, không thể lượng đo được. Ấy là chỗ rất hiểm đệ nhất có tiếng từ xưa đến nay. Tàu thuyền qua đó, thường thường kiêng dè sự không thấy nó. Ấy vì chân bãi cát ra rất xa. Một khi lầm thì không thể trở lại. Ngày 14 tháng 5 năm Nhâm Thìn (1832), thuyền rời Quảng Ngãi, đã vào hải phận trấn Bình Định. Trù tính là không lầm, một đường thẳng vo, lấy hướng kim Mão-Ất (đông, hơi xế nam) mà tiến. Không dè gió trái, nước xiết, con thuyền không tiến. Thình lình trưa hôm sau, ngóng trông thấy nó. Sắc cát lờ mờ, khắp chân trời đều trắng. Tất cả người trên thuyền, trong lòng bừng bừng, nước mắt rưng rưng. Trên thuyền, ngoảnh hỏi người cầm lái là một tay lão luyện tây dương, nói rằng: lấy thước Đạc Thiên (lục phân) mà đo thì may thuyền chưa phạm vào chân bãi cát, còn chuyển buồm kịp. Bèn lấy hướng Kim Dậu (tây), nhằm Quảng Ngãi mà lùi. May nhờ phúc lớn của triều đình, về đến cửa bể Thái Cần mà tạm đỗ. Cuối cùng không việc gì”.

Trong lịch sử các gia tộc ở Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi) còn chép khá đầy đủ hoạt động của tổ tiên dòng họ vâng lệnh triều đình hàng năm dẫn đội hùng binh ra các đảo Hoàng Sa. Từ thời các chúa Nguyễn đã cho thành lập đội Hoàng Sa. Đến đời vua Gia Long, chính sử còn ghi lại rất rõ năm 1815 vua sai Phạm Quang Ảnh làm Cai đội Hoàng Sa và tuyển các binh phu cùng đi ra Hoàng Sa và cả Trường Sa thám sát và đo đạc thủy trình. Các tài liệu phổ hệ, sắc phong, linh vị...viết bằng chữ Hán Nôm trong nhà thờ hậu duệ của họ Phạm nói đến nhiều người trong họ tộc đi lính Hoàng Sa không trở về. Trong đó có Chánh suất thủy quân cai đội Phạm Hữu Nhật, người đã cùng với Phạm Quang Ảnh được Tổ quốc đặt tên cho hai hòn đảo trong quần đảo Hoàng Sa (đảo Hữu Nhật và đảo Quang Ảnh). Mới đây, dòng họ Đặng ở đảo Lý Sơn đã hiến tặng cho Nhà nước bản gốc duy nhất Sắc chỉ của vua Minh Mạng phái một đoàn thuyền với 24 lính thủy ra canh giữ quần đảo Hoàng Sa vào năm Minh Mạng thứ 15, tức năm Giáp Ngọ (1834). Trong một tờ lệnh có đóng triện của hai vị quan bố chánh và án sát tỉnh Quảng Ngãi cùng năm Giáp Ngọ (1834) ghi rất rõ những tên tuổi tham gia hải đội Hoàng Sa đợt này như Đặng Văn Siểm, Dương Văn Định, Võ Văn Hùng, Phạm Quang Tình, Võ Văn Công, Võ Văn Hùng, Ao Văn Trâm, Trần Văn Kham...Lừng lẫy nhất là Phú Nhuận Hầu Võ Văn Phú kiêm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ và cai đội Hoàng Sa. Ông Võ Văn Phước hậu duệ đời thứ 16 hiện đang ở Lý Sơn còn ghi nhớ nhiều câu chuyện kể về cha ông mình can trường cưỡi lên đầu sóng ngọn gió ở Hoàng Sa bảo vệ vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc. Trên đảo Lý Sơn quê hương của đội hùng binh Hoàng Sa ngày nay vẫn còn nhiều mộ gió do dân làng lập nên cho những đứa con của làng hy sinh ở Hoàng Sa từ hàng trăm năm trước. Mỗi lần ra biển, họ đều đến thắp hương khấn vái và cầu mong linh hồn bất tử của những thủy binh hải đội Hoàng Sa tung hoành một thuở chở che cho họ vượt qua phong ba bão táp, gặp may mắn hanh thông trong những chuyến biển dài trên vùng biển mà máu xương của biết bao thế hệ người Việt Nam đã hòa vào biển cả hàng trăm năm qua.

Đặc điểm nổi bật của quần đảo Hoàng Sa
là những đảo san hô vào loại lớn. Toàn bộ quần đảo
 trải trên một diện tích khoảng 15.000 km vuông trên mặt biển
Hoàng Sa trong ký ức của người Việt thời nay

Tập san Sử Địa số 29 xuất bản tại Sài Gòn đầu năm 1975 sau khi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc xâm chiếm bằng vũ lực là một chuyên đề đặc biệt về Hoàng Sa của Việt Nam. Trong đó có bài của tác giả Trần Thế Đức, ghi chép lại một vài sự kiện liên quan tới quần đảo Hoàng Sa qua lời tường thuật của những người trong cuộc. Kể về hoạt động của Trạm Khí tượng Thủy văn Hoàng Sa, tác giả cho biết các nhân viên khí tượng ở đảo Hoàng Sa mỗi ngày có 8 lần quan trắc gọi về Sài Gòn qua hệ thống vô tuyến điện siêu tần số. Khi có bão, quan trắc phải làm và báo cáo hàng giờ. Nhờ đó, sức mạnh và hướng đi của trận bão được biết rõ và thông báo cho dân chúng, tàu bè, máy bay qua lại trong vùng. Từ Sài Gòn qua hệ thống viễn thông vùng Đông Nam Á, thế giới biết đến Hoàng Sa qua ám số 48860 (48 là vùng Đông Nam Á, 860 là Ty Khí tượng Hoàng Sa). Ty Khí tượng còn kiêm luôn cả Ty Bưu điện, đóng dấu gửi thư từ đảo về đất liền và ngược lại.

Phân phosphate trên quần đảo Hoàng Sa (Paracels) là một nguồn lợi mà nhiều nhà kinh doanh chú ý. Năm 1956, ông Lê Văn Cang được chính quyền VNCH cho phép khai thác phosphate trên quần đảo Hoàng Sa. Năm 1961, Công ty Lê Văn Cang bắt đầu khai thác, Công ty Hữu Phước được hợp đồng chở phân bón về Sài Gòn. Từ năm 1960, có thêm Công ty Phân bón Việt Nam của ông Bùi Kiến Thành tham gia. Sau năm 1970, thị trường phân bón mở rộng nên nhiều công ty khác cũng chú ý đến nguồn phosphate ở Hoàng Sa. Công ty Kỹ nghệ Phân bón Đại Nam (KYPHADACO) do ông Đào Nhật Tiến làm chủ, cho biết thành phần phosphate lấy từ các đảo Hoàng Sa có phẩm chất rất tốt. Ông Tiến còn khám phá ra một tài nguyên khác ở Hoàng Sa là cát và vỏ sò, vỏ ốc. Cát và vỏ sò, vỏ ốc Hoàng Sa xay thành bột nung ở nhiệt độ cao được sản phẩm gọi là "cát Hoàng Sa” có thể trị phèn trong ruộng và trộn với thức ăn gia súc.

Vùng biển quanh quần đảo Hoàng Sa là nơi lui tới của nhiều tàu lạ. Người Việt vốn quý khách. Khách tới, đi ca nô hay xuồng nhỏ vào đảo là được tiếp niềm nở. Nhất là những lúc khách gặp cơn hoạn nạn cần được cứu giúp. Chủ và khách đều vui vẻ. Khách chân thật không có gì đáng e ngại, vì khách thường tới từ các tàu cá, không có vũ khí, chủ nhà còn được xuống tàu khách tham quan. Khách có thể lên đảo nghỉ ngơi, tắm nước ngọt, phơi cá, phơi lưới trên đảo, trao đổi hàng hoá, nước ngọt, rau tươi... Nghỉ ngơi xong, khách lại xuống tàu nhổ neo ra đi. Tuy nhiên, có một lần khoảng năm 1970, một bọn người không rõ quốc tịch lên đảo xin nghỉ ngơi, nói tàu đánh cá của họ bị bão. Chủ nhiệt tình giúp đỡ, cho họ vào tạm trú chân. Các anh lính bỗng chú ý vì họ mang theo một tấm giấy lớn, mở ra thì nhận ra ngay là bản đồ quần đảo Hoàng Sa (Paracels). Một anh lính thấy họ cầm bản đồ ngược, liền kêu lên. Người nọ giật mình, quay bản đồ lại. Thì ra họ biết tiếng Việt. Thế rồi sau này xảy ra chuyện ngày 19-1-1974.
Một nhân viên của Trạm Khí tượng Thủy văn Hoàng Sa
trước năm 1974

Trong khi thực hiện loạt bài này, chúng tôi nhận được rất nhiều ý kiến động viên, khích lệ của độc giả, trong đó có những ý kiến rất tâm huyết, trăn trở về việc thực hiện sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Có độc giả đề nghị nên bắt đầu bằng việc vinh danh xứng đáng những người con đất Việt đã quên thân mình để bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Mới đây, ông Nguyễn Thiện, tác giả chương trình "Dân ta biết sử ta”, đã gửi tới báo Đại Đoàn Kết bức thư tâm huyết đề nghị "cần vinh danh những người con đất Việt đã hy sinh trong trận hải chiến bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974”. Vinh danh những người con đất Việt đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa cũng là một cách để khắc ghi ký ức Hoàng Sa vào tâm thức dân tộc mãi mãi không phai mờ. Nhìn nhận sự hy sinh của ông Ngụy Văn Thà – Hạm trưởng tàu Nhật Tảo (HQ10) cùng gần 60 đồng đội khác của ông trong trận quyết tử để bảo vệ Hoàng Sa ngày 19-1-1974, ông Nguyễn Thiện bày tỏ: "Vinh danh những người con đất Việt hy sinh trong cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 là minh chứng sâu sắc rằng Tổ quốc là của mọi con dân nước Việt, là thể hiện sâu sắc sự công bằng với lịch sử, có tác dụng khuyến khích mạnh mẽ lòng yêu nước và tinh thần sẵn sàng bảo vệ, xây dựng Tổ quốc, là bước đột phá quan trọng trong sự nghiệp đoàn kết dân tộc.”.

Ký ức Hoàng Sa có lẽ sẽ chẳng bao giờ phai nhạt với những con người gắn cả cuộc đời mình với vùng biển thân thuộc tiếp nối từ nhiều đời trong gia tộc như "sói biển” Mai Phụng Lưu, ngư dân đảo Lý Sơn, người 4 lần bị Trung Quốc bắt khi đang đánh cá trên vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam. Sau một thời gian khánh kiệt không còn khả năng để sắm thuyền và ngư cụ ra khơi, nay ông vừa được một quỹ hỗ trợ ngư dân cho vay ưu đãi để giúp "sói biển” trở về ngư trường quen thuộc của cha ông như xưa. Ông Lưu chia sẻ: "Không biết sao chứ cứ ra tới biển là trong đầu tui cứ nhớ đường tới Hoàng Sa. Có lần tui chạy về hướng Trường Sa được 180 hải lý rồi tự nhiên tay lái cứ bẻ lên Hoàng Sa”. Ông Võ Hiển Đạt, người trông coi Âm Linh Tự thờ cúng hương hồn các dân binh Hoàng Sa nói: "Đối với bà con Lý Sơn, Hoàng Sa y như cái đảo Bé ở đây. Chỉ bước chân ra là tới. Đó là nhà của dân Lý Sơn từ bao đời nay”. Có lẽ trong tâm thức của mọi người Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa cũng giống như sân nhà mình, chỉ bước chân ra là tới.
Nhóm PV Biển Đông








































  • ------------------
    *****


    »» xem thêm

    Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2011

    'Đã đến lúc nói thẳng với Trung Quốc'

    Nguồn: BBC
    Tiến sỹ Vũ Duy Phú
    Gửi cho BBC Việt ngữ từ Hà Nội

    Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi tham lam bành trướng bá quyền Trung Quốc hiện nay là hiện thân của phong kiến Trung hoa từ ngàn xưa.

    Tác giả cho rằng chủ nghĩa dân tộc hẹp
    hòi ở TQ có nguồn gốc sâu xa từ trong
    lịch sử phong kiến Trung Hoa.
    Trung Quốc, sau khi làm cách mạng dân tộc dân chủ tư sản thắng lợi 1949, đã định hướng (lý thuyết) tiến tới xây dựng xã hội chủ nghĩa đích thực nhưng theo quy luật tự nhiên, không thể bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa như đang diễn ra.

    Sự chớ trêu là ở chỗ, các nước tư bản chính hiệu đã trải qua hết những giai đoạn phát triển sơ khai, tích lũy tư bản ban đầu từ thực dân cũ, thực dân mới, đến đế quốc, rồi chiến tranh dành giật thị trường, chia lại thuộc địa...

    Họ cũng đã trải qua hết vinh, nhục, thắng, bại, phục hưng, suy thoái nhiều lần và nhiều dạng thức khác nhau, qua hai, ba thế kỷ, nay đã chuyển sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa chín muồi, liên kết hội nhập toàn cầu trên nền tảng văn minh tư sản, dân chủ nhân quyền, kinh tế tri thức và xã hội hóa dần dần doanh nghiệp và lao động, hướng tới những nhiệm vụ cấp bách toàn nhân loại đang đòi hỏi giải quyết gấp rút và thiết thực hơn...

    Trong khi đó thì Trung Quốc, to lớn gần 1 tỷ rưỡi dân, mới bước vào thời kỳ tích lũy tư bản ban đầu để tăng trưởng kinh tế, phát triển muộn theo con đường tư bản chủ nghĩa.

    “Nông nổi, bồng bột”
    Trong khi khủng hoảng thiếu nhiều mặt của loài người đang tới gần; tình trạng suy thoái đạo đức chính trị - xã hội, cùng những mâu thuẫn nội quốc nhiều mặt, vẫn đang nổi lên như một nguy cơ tiềm tàng có thể làm sụp đổ chế độ (TQ) từ bên trong
    TS Vũ Duy Phú

    Chính bởi vì là một nước quá lớn, nên Trung Quốc không thể đi tắt đón đầu bỏ qua các giai đoạn phát triển cổ điển cần thiết của tư bản chủ nghĩa.
    Nhưng, một mặt, Trung Quốc lại có tham vọng rất lớn muốn chiếm đoạt vị trí đứng đầu thế giới một cách nhanh chóng.

    Nên chủ trương của một bộ phận giới tinh hoa Trung Quốc nông nổi, bồng bột, nghĩ rằng, với số dân lớn, tổng sản lượng to, có thể xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh... giúp vượt qua nhanh chóng những khuyết tật của tư bản chủ nghĩa cổ điển, nhanh chóng bành trướng, chiếm đoạt để xoán ngôi cường quốc đứng đầu thế giới.

    Mặt khác, vì trật tự thế giới từ lâu đã “an bài”, tài nguyên và các nguồn nhiên liệu chiến lược từ lâu đã được “phân chia” xong, trong khi khủng hoảng thiếu nhiều mặt của loài người đang tới gần; tình trạng suy thoái đạo đức chính trị xã hội, cùng những mâu thuẫn nội quốc nhiều mặt vẫn đang nổi lên như một nguy cơ tiềm tàng có thể làm sụp đổ chế độ (TQ) từ bên trong.

    Những điều đó không chỉ đe dọa nghiêm trọng tham vọng bá chủ thế giới, mà còn đe dọa ngay sự ổn định và tồn tại của chế độ hiện tồn tại của Trung Quốc.

    Đó chính là nguyên nhân quan trọng nhất thúc đẩy một bộ phận chính quyền và người dân Trung Quốc hoang mang, lo lắng, trở nên mất sáng suốt và thiếu nhân đạo, đã đang đưa ra hoặc thôi thúc lãnh đạo nước họ ra những chủ trương, chính sách và hành động mất khôn ngoan.

    Thậm chí đây là những chính sách dã man, sảo quyệt, đe dọa hoặc tạo ra mối đe dọa tiềm tàng đối với nhiều vấn đề, nhiều khu vực, nhiều nước trên thế giới, mà cụ thể nhất là tại Đông Á và Đông Nam Á, trong đó điển hình nhất là đối với Việt Nam.
    ‘Cái khó và dở’
    Trung Quốc
    Trung Quốc cho biết sẽ tăng cường hải quân và các hoạt động hải giám và tuần duyên trên Biển Đông.

    Cái khó và cái dở của Trung Quốc là ở chỗ, một mặt, chính vì là kẻ đến sau, phát triển Tư bản chủ nghĩa muộn, chưa từng trải nghiệm những “vinh quang cùng thất bại cay đắng” như những nước tư bản đi trước, nên mới dám đặt tham vọng sớm vươt qua các nước tư bản đi trước, bằng chính những công cụ bạo lực và thủ đoạn mà các nước đó từng sử dụng.

    Trung Quốc đã quên tâm trạng hận thù trong quá khứ khi bị các cường quốc thời trước chèn ép.

    Mặt khác, thời thế đã thay đổi rất nhiều, văn minh thế giới đã khác hẳn thời xưa, nên ý đồ bành trướng cho nhanh, chiếm đoạt cho nhiều, tích lũy tiềm lực kinh tế lớn để có đủ khả năng chèn ép các nước khác, xoán ngôi đứng đầu thế giới hòng đem lại nhiều “lợi ích to lớn” phi nghĩa cho bản vị dân tộc của mình, bây giờ đã không còn thích hợp.

    Thế giới ngày nay không chấp nhận một nước đứng đầu trên nền tảng áp đặt, cường quyền, phi nhân tính và chủ yếu lại chỉ dẫn đầu về lực lượng vật chất.

    Một mô hình chính trị văn hóa xã hội tiến bộ để được thế giới thừa nhận là điều kiện cần cho một nước đứng đầu thế giới, thì còn lâu Trung Quốc mới với tới.

    Sự lệch pha rất lớn giữa phát triển kinh tế và chính trị xã hội vốn tạo ra nguy cơ tiềm tàng nội sinh chính là chỗ yếu nhất, là kẻ thù bên trong của Trung Quốc bá quyền hiện nay.

    Và đấy lại chính là một trong những đồng minh tự nhiên của chúng ta giúp sức cản phá những ý đồ và hành động ngang ngược lộng hành, hướng khó khăn bên trong ra bên ngoài của Trung Quốc hiện thời.

    ‘Tư duy sai lầm’
    Chủ trương tuyên truyền, vận động sâu rộng bản chất vần đề cho đông đảo nhân dân TQ và nhân dân thế giới biết bản chất sâu xa của vấn nạn bành trướng Trung Quốc hiện đại là vô cùng quan trọng
    TS Vũ Duy Phú

    Tuy nhiên, nên nhớ rằng, những hành động bạo hành, bất chấp luật pháp và dư luận thế giới hiện nay của Trung Quốc ở Biển Đông chính là kết quả của tư duy sai lầm từ gốc chỉ của một bộ phận giới lãnh đạo Trung Quốc hiện đại.

    Chúng ta tin rằng, những tư duy kiểu ấy, những hành động nông nổi, nóng vội mang dáng dấp cuồng vọng hùng hổ phát triển ác tính kiểu Maoist Đại nhẩy vọt, Cách mạng Văn hóa, Gió Đông thổi bạt gió Tây.

    Nay, thay vì đả đảo “Đế quốc Mỹ là con hổ giấy”, lại đang cố dựng lên một “Đế quốc Mỹ” mới trong lòng Trung Quốc nhưng sớm muộn sẽ bị chính nhân dân Trung Quốc và người dân thế giới chống lại, nên tất yếu những tư duy ngông cuồng ấy sẽ thất bại.

    Trên cơ sở những trình bầy và nhận định như trên, thì chủ trương tuyên truyền, vận động sâu rộng bản chất vần đề cho đông đảo nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới biết bản chất sâu xa của vấn nạn bành trướng Trung Quốc hiện đại là vô cùng quan trọng.

    Điều này phù hợp với chủ trương chung đa phương, hòa bình, giải quyết vấn đề Biển Đông mà hội nghị Bộ trưởng quốc phòng các nước, trong đó có Trung Quốc, vừa đồng thuận.

    Tuy nhiên, chúng ta (Việt Nam) tuyệt nhiên không nên có một chút chủ quan lơ là trong việc chuẩn bị tư tưởng và lực lương để tạo ra nhiều sáng kiến và tổ chức đối phó với những hành động bành trướng bá quyền đang lên hiện nay của Trung Quốc.

    Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của Tiến sỹ Vũ Duy Phú, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu các Vấn đề Phát triển (VIDS/Vusta). Tác giả từng tu nghiệp tại Trung Quốc và hiện phụ trách Diễn đàn Dư luận Phát triển thuộc Viện VIDS.
    ------------------
    *****


    »» xem thêm

    Tìm kiếm Blog này