++ Hãy đến với nhau bằng tấm lòng trung thực!++

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Trương Duy Nhất: Mọi thứ đều nóng!


Nóng. Mở mắt ra đã hầm hập, suốt từ sáng đến khuya. Cộng thêm là cái nóng từ cơn bão giá sộc vào thiêu đốt từng bữa cơm gia đình. Chỉ số lạm phát nóng đến mức không kiềm nổi. Chính phủ thất bại sau mọi nỗ lực. Kinh tế và đời sống dân tình đong bữa. Đối ngoại rối như mớ bòng bong. Nội bộ lục đục nghe đâu năm phe bảy cánh. Mọi thứ đều nóng!
 
          Đã đến lúc phải xem lại những “nỗ lực” của Chính phủ trong chiến dịch kiềm chế lạm phát. Chỉ tiêu đặt ra ban đầu được Quốc hội khoanh cho Chính phủ là con số 7%. Tuy nhiên sau nhiều “nỗ lực”, đến tháng 5 Chính phủ đã xin điều chỉnh chỉ số CPI lên mức 15%. Hết tháng 6, lại tiếp tục xin nới chỉ tiêu lạm phát cả năm lên không quá 17%. 

          Nhưng nói như ông Võ Hồng Phúc, Bộ trưởng Kế hoạch- Đầu tư “Trên thực tế thì việc đạt được mục tiêu 15-17% cũng rất khó khăn. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn đề xuất con số này để làm mục tiêu phấn đấu”. 

          Không thấy một ai trong Chính phủ, kể cả Thủ tướng dám công khai thừa nhận là Chính phủ đã thất bại trong mục tiêu kiềm chế lạm phát. Quốc hội cũng chẳng làm gì được ngoài việc nhắc đi nhai lại những lời “đề nghị” suông, đề nghị không xong rốt cuộc cũng đành phải chạy theo chỉnh sửa, cơi nới chỉ tiêu theo yêu cầu từ Chính phủ. 

          Chỉ số lạm phát năm 2011 sẽ nhảy tới mức 17-18%. Và đó cũng mới chỉ là cách tính của Việt Nam. Nếu tính theo cách cả thế giới vẫn dùng thì chỉ số lạm phát 6 tháng đầu năm 2011 của Việt Nam phải là 20,8% .

          Ai dám tin rằng đời sống dân tình lại khó khăn hơn, mức thu nhập thực tế (sau khi trừ đi yếu tố tăng giá) hiện tại lại thấp hơn đến 10,7% so với những năm 2002-2004. 8, 9 năm trước, nếu có ai đó dám bảo rằng gần 10 năm sau đời sống dân tình sẽ trượt đến mức này, thu nhập lại thấp hơn 10 năm trước thì người đó không bị qui là “phản động” cũng là... thằng điên! 

          Theo ông Hà Văn Hiền, Chủ nhiệm Ủy ban kinh tế của Quốc hội: “việc CPI 6 tháng vượt xa mục tiêu 7% phê duyệt cho cả năm là rất đáng lo ngại. Thực tế này đã tác động tiêu cực đến sản xuất – kinh doanh, đời sống nhân dân, đặc biệt là 4,6 triệu hộ nghèo và cận nghèo (chiếm hơn 22% dân số cả nước)”. Hoặc như ai đó cay đắng hơn: Với đà lạm phát khủng này, chỉ trong vòng hai năm 2010-2011, mục tiêu xóa đói giảm nghèo đạt được trong những năm trước đã trở về số mo.

          Cũng theo ông Hiển: doanh nghiệp lâm vào tình cảnh khốn khó, nhiều doanh nghiệp phải hoạt động cầm chừng hoặc ngừng hẳn. Chỉ tính từ đầu năm đến nay đã có khoảng 30% doanh nghiệp phá sản trong tổng số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh. 

          Kinh tế bi đát. Đời sống dân tình đong bữa. Chính phủ gần như hoàn toàn thất bại trước mọi cố gắng nhằm kiềm chế lạm phát. Đối ngoại rối như mớ bòng bong. Nội bộ thì lục đục nghe đâu năm phe bảy cánh. 

          Chẳng biết có quá cực đoan, nhìn quá... đen tối, hay bản thân mình khi viết cũng bị sấy bung trong cái khí nóng như thiêu này? Mọi thứ đều nóng. Hãm nóng không nổi sẽ đến ngày nó tự thiêu cháy! Ấy là qui luật của đất trời!
------------------
*****


»» xem thêm

NHK: Trung Quốc bắn cảnh cáo tàu cá Philippines trên Biển Đông

Nguồn: Beenet.vn
30/06/2011 17:10:19
 
Ngày 29/6, đài NHK của Nhật Bản dẫn lời các quan chức cao cấp trong chính phủ và quân đội Philippines cho biết một tàu hải quân Trung Quốc đã bắn cảnh cáo tàu đánh cá Philippines đang hoạt động trên Biển Đông hồi tháng 2/2011.

Các quan chức Philippines cho biết tàu của hải quân Trung Quốc, có vẻ là một tàu khu trục nhỏ có trang bị tên lửa, đã bắn ba loạt đạn cảnh cáo nhằm vào tàu đánh cá Maricris-12 của Philippines hôm 25/2 khi Maricris-12 đang đánh bắt cá cùng với các tàu đánh cá khác gần một đảo san hô ở quần đảo Trường Sa.


Tàu Trung Quốc đã tiếp cận Maricris-12 và cảnh cáo qua radio, yêu cầu họ phải rời khỏi khu vực đó vì tàu này đang hoạt động trên vùng biển của Trung Quốc.


Ba tàu đánh cá khác gần đó đã buộc phải rời khỏi khu vực này song Maricris-12 bị tụt lại do gặp trục trặc trong việc nhấc neo lên.


Căng thẳng đang gia tăng giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á xung quanh vấn đề tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo đảo tranh chấp ở Biển Đông.


(Theo TTXVN)

------------------
*****


»» xem thêm

Hoa Kỳ cần tiến lên và chơi trò chơi tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc

Nguồn: Ba Sàm

Chơi bi-a trên biển Đông


Hoa Kỳ cần tiến lên và chơi trò chơi tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc

Michael Auslin

30-06-2011


Trên Biển Đông, Trung Quốc đang chơi bi-a, trong khi Mỹ đang chơi trò chơi như là Cướp Cờ (Capture the Flag). Đối với Bắc Kinh, mục tiêu là đánh những quả bóng bi-a khác văng ra khỏi bàn, để chính nó điều khiển. Trong khi đó, Washington cố gắng giữ không cho Bắc Kinh cướp được lá cờ về quyền bá chủ khu vực.


Các nhà hoạch định chính sách Mỹ cần nhận ra rằng, họ đang chơi một trò chơi khác với trò chơi của Trung Quốc và cần điều chỉnh chiến lược của Mỹ. Trong khi chuyển sang chơi bi-a là quá khiêu khích đối với Washington, nếu xu hướng này tiếp tục, chẳng bao lâu sau, Mỹ có thể thấy chính mình ở đằng sau tám trái bóng, không có nhiều lựa chọn trong việc giữ vai trò ổn định trong khu vực.



Các nhà quan sát có hai giải thích khác nhau về thách thức thực sự từ Trung Quốc. Nhiều người ở Washington tin rằng, Trung Quốc đe dọa tự do hàng hải ở biển Hoa Nam (biển Đông), do đó có khả năng làm tổn hại đến lợi ích quốc gia của Mỹ, bao gồm quyền đi lại không thể tranh cãi của các tàu Hải quân Hoa Kỳ, luồng tự do thương mại kinh tế toàn cầu và dây cứu sinh trên biển cho các đồng minh của Mỹ, như Nhật Bản và Nam Hàn.


Ngược lại, nhiều người ở Đông Nam Á tin rằng, vấn đề này là một trong những vấn đề kiểm soát tài nguyên lãnh thổ. Theo một số ước tính, khu vực nắm giữ khoảng 30 tỷ thùng dầu và hơn 200.000 tỉ mét khối khí tự nhiên. Trong khi hàng chục mỏ dầu đã được khai thác, khả năng kiểm soát việc thăm dò và khai thác tài nguyên đó trong tương lai, điều đó đã làm cho Trung Quốc có cách hành xử như thế.


Bắc Kinh đòi toàn bộ vùng biển Hoa Nam, đặt mình vô vị trí tranh giành quyền sở hữu vùng lãnh thổ có chứa các nguồn tài nguyên đã được xác định. Những khu vực có khả năng nóng nhất là Trường Sa và Hoàng Sa, mỗi khu vực được nhiều nước đòi chủ quyền, gồm Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam và Philippines. Điều này có cùng một động cơ như đang chơi trò tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc đối với quần đảo Senkaku, phía Bắc Đài Loan.


Các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc có thể được thực thi một cách hiệu quả nhất, do có khả năng di chuyển bất cứ nơi nào trên vùng biển trong khu vực (Trung Quốc đã đạt được điều đó) cũng như ngăn chặn các nước khác tự do đi lại. Vì vậy, quấy rối và theo dõi các lực lượng hải quân và các tàu thăm dò trên biển của các nước khác, phục vụ như một thử nghiệm thực tế về sức mạnh và ảnh hưởng của Bắc Kinh. Khi hạm đội hải quân trên biển của họ phát triển, khả năng triển khai và trải ra thêm nhiều lãnh thổ, có ý nghĩa bổ sung thêm các phô trương về sự quyết đoán trong những năm qua.


Không có nhiều lý do để tin rằng Bắc Kinh có bất kỳ suy nghĩ nào (chưa nói đến khả năng) cản trở việc đi lại trong khu vực; các hành động gây hấn rành rành như thế ngay lập tức sẽ là thách thức Hải quân Hoa Kỳ. Tuy nhiên, rõ ràng là khả năng làm như thế có thể dẫn đến sức ép chính trị lên các nước nhỏ hơn, từ bỏ hoặc thay đổi các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của các nước này và kiềm chế các hoạt động hàng hải chính đáng của họ.


Có thể tất cả những điều này hoàn toàn không phải là một chiến lược, nhưng chắc chắn tương tự như các chiến thuật trên bàn bi-a. Bắc Kinh nhắm vào các quả bóng bi-a của láng giềng mình, cố gắng để loại họ ra khỏi bàn bi-a, từng nước một.


Để phản ứng lại, các nước Đông Nam Á bắt đầu kêu gọi Hoa Kỳ can thiệp. Tuần trước, Philippines cho biết, hiệp ước phòng thủ với Hoa Kỳ hồi năm 1951, sẽ bao hàm cả các mối đe dọa của Trung Quốc.


Nhưng câu trả lời của Hoa Kỳ thì không quá dễ dàng. Nếu Washington đẩy quá mạnh và yêu cầu các nước Đông Nam Á gia tăng đáng kể các hoạt động chung trên biển, có thể sẽ thấy rằng Hà Nội, Manila, Jakarta và các nước còn lại lo sợ rằng, để Trung Quốc trở thành kẻ thù thậm chí còn đáng sợ hơn là để cho Trung Quốc bắt nạt. Tuy nhiên, phản ứng từ Mỹ quá ít sẽ làm cho các nước nhỏ hơn tin rằng, có thể họ không còn có sự lựa chọn nào khác, mà phải đồng ý với các mong muốn của Trung Quốc.


Để cân bằng những quan ngại này, Washington đã kết thúc chơi một trò chơi hoàn toàn khác. Là một cường quốc hiển nhiên, Washington phần lớn đã phản ứng lại việc thử nghiệm các giới hạn của Trung Quốc đối với các quy tắc trong khu vực. Thay vì trừng phạt Trung Quốc vì hành động khiêu khích của họ, chính sách của Mỹ là cố gắng trấn an Bắc Kinh về thiện chí của Mỹ và thuyết phục các nhà lãnh đạo Trung Quốc rằng, Mỹ không đe dọa đến ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc. Mỹ hy vọng điều này sẽ khiến Trung Quốc hành động có trách nhiệm, ngay cả khi nó bắt nạt các nước nhỏ hơn.


Cách tốt nhất để đi tới là nhận ra trò chơi của Trung Quốc, bắt đầu chơi và tìm cách thắng cuộc chơi. Washington nên tìm cách mở rộng bàn bi-a bằng cách đặt nhiều bóng hơn để chơi. Ấn Độ vừa công bố kế hoạch gia tăng tuần tra hải quân ở quần đảo Andaman và Nicobar, nằm ở lối vào Ấn Độ Dương tới eo biển Malacca. Nhật Bản đã có một sự thay đổi chiến lược, tập trung vào “bức tường đảo ở phía Tây Nam” kéo dài từ Kyushu tới phía bắc Đài Loan. Úc sẽ hiện đại hóa và tăng gấp đôi hạm đội tàu ngầm của mình trong thập kỷ tới.


Lúc đó Washington cần xúi các đối tác này đóng một vai trò lớn hơn ở gần vùng biển tranh chấp thông qua cam kết lớn hơn với các nước Đông Nam Á. Hơn nữa, các tàu của Hoa Kỳ và đồng minh nên theo dõi các tàu của Trung Quốc khi họ bắt đầu tiếp cận lãnh thổ tranh chấp và di chuyển nhanh đến các khu vực nơi các sự cố đã xảy ra.


Nói rộng hơn, mục tiêu của Washington, được thực thi thông qua Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương có trụ sở ở Hawaii, nên tạo ra một cộng đồng quyền lợi hàng hải năng động hơn ở vòng cung Ấn độ và Thái Bình Dương để chống lại sự di chuyển của Trung Quốc, nơi họ xuất hiện. Chia sẻ các nguồn thông tin tình báo nhiều hơn, liên kết huấn luyện, phối hợp (nếu không liên kết) tuần tra và những việc đại loại như thế sẽ cung cấp các biện pháp an ninh cần thiết để bảo đảm cho các nước nhỏ hơn, rằng các quyền quốc tế của họ đang được bảo vệ. Các tàu của Hoa Kỳ và đồng minh không nên ân hận về việc theo dõi tàu hải quân Trung Quốc khi họ bắt đầu tiếp cận vùng lãnh thổ tranh chấp.


Cuối cùng, các nhà chính trị thẳng tính, chẳng hạn như Thượng nghị sĩ Jim Webb, người đã cảnh báo về một “thời khắc Munich” đang đến ở châu Á, sẽ làm rõ các vấn đề đang lâm nguy. Dù muốn hay không, Mỹ sẽ phải bắt đầu dịch chuyển một số quả bóng bi-a xung quanh bàn.


Ông Auslin là Giám đốc Nghiên cứu Nhật Bản thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ và là một nhà bình luận của báo Wall Street Journal. Ông còn là tác giả của quyển sáchPacific Cosmopolitans: A Cultural History of U.S.-Japan Relations” (Nhà xuất bản Harvard University, 2011).



------------------
*****


»» xem thêm

Đại sứ TQ: Không ngừng thực hiện nhảy vọt về tư tưởng chỉ đạo và lý luận cơ bản (làm ta nhớ đến "Đại nhảy vọt" thời Mao làm chết hơn 20 triệu người TQ)

Nguồn: báo QĐND 

Bình luận của Ba Sàm: 
Báo Quân đội ND nhanh nhảu há? Trong cuộc sống hàng ngày cũng như quan hệ ngoại giao, thái độ ra sao trước kẻ đểu cáng, hèn hạ không thể như với người tử tế.
------------------------------------------
Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1-7-1921/1-7-2011)

Không ngừng thực hiện nhảy vọt về tư tưởng chỉ đạo và lý luận cơ bản


QĐND - Thứ Năm, 30/06/2011, 23:2 (GMT+7)

QĐND - Từ ngày đầu thành lập với hơn 50 đảng viên, cho tới nay Đảng Cộng sản (ĐCS) Trung Quốc đã có đội ngũ hùng hậu gồm hơn 80 triệu đảng viên. Trải qua hàng chục năm đấu tranh, ĐCS Trung Quốc đã lãnh đạo cách mạng Trung Quốc giành nhiều thắng lợi quan trọng, lập lên một nước Trung Quốc mới vào năm 1949. Từ một nước nghèo nàn lạc hậu, nay Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế thứ hai của thế giới. Nhân kỷ niệm 90 năm ngày thành lập ĐCS Trung Quốc, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc phỏng vấn Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường.
Đại sứ Tôn Quốc Tường. Ảnh: Hoa Huyền
PV: Thưa Đại sứ, thành tựu nổi bật nhất trong 90 năm qua mà ĐCS Trung Quốc đã đạt được là gì? Sự thành công đó bắt nguồn từ đâu?
Đại sứ Tôn Quốc Tường: ĐCS Trung Quốc được thành lập ngày 1-7-1921, cho đến nay đã trải qua 90 năm. Trong 90 năm qua ĐCS Trung Quốc đã đoàn kết lãnh đạo toàn thể nhân dân Trung Quốc giành được những thắng lợi vĩ đại, xây dựng nước Trung Quốc mới, xác lập chế độ XHCN và thực hiện sự nghiệp cải cách mở cửa, mở ra con đường xây dựng XHCN đặc sắc Trung Quốc phù hợp với tình hình trong nước và trào lưu của thời đại.
ĐCS Trung Quốc đã lớn mạnh không ngừng. Cho đến nay ĐCS Trung Quốc đã có đội ngũ hơn 80 triệu đảng viên. Trung Quốc từ một nước nghèo nàn lạc hậu nay đã trở thành nền kinh tế thứ hai của thế giới. Thực tiễn chứng minh, chỉ có ĐCS Trung Quốc mới lãnh đạo Trung Quốc, chỉ có XHCN mới có thể cứu Trung Quốc, chỉ có cải cách mở cửa mới có thể phát triển Trung Quốc.
Tôi cho rằng, để đạt được những thành tựu nêu trên, điều quan trọng là ĐCS Trung Quốc luôn kiên trì nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác kết hợp chặt chẽ với tình hình thực tế tại Trung Quốc; không ngừng thực hiện nhảy vọt về tư tưởng chỉ đạo và lý luận cơ bản. Đảng luôn kiên trì theo phương châm lập Đảng vì dân, chấp chính vì dân, toàn tâm toàn ý mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Đảng dũng cảm kiên trì bảo vệ chân lý, sửa chữa khuyết điểm, đồng thời không ngừng đổi mới và xây dựng Đảng mạnh hơn nữa. Đảng luôn kiên trì cùng đảng phái dân chủ, những người yêu nước có cùng chí hướng, đồng tâm đồng đức, không ngừng phát triển mở rộng mặt trận thống nhất nhân dân; kiên trì hòa bình hữu hảo, có chính sách đối ngoại rộng mở bao dung; kiên trì con đường độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, kiên định theo con đường đã chọn.
PV: Đã trở thành cường quốc kinh tế thứ hai của thế giới, Trung Quốc vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức, như việc làm, an sinh xã hội, nhà ở… Vai trò của ĐCS trong giải quyết các vấn đề khó khăn này như thế nào, thưa đồng chí?
Đại sứ Tôn Quốc Tường: Là một đảng lãnh đạo một đất nước đang phát triển, là hạt nhân lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, nhiệm vụ quan trọng nhất của ĐCS Trung Quốc là phát triển đảng, phát triển đất nước. Chúng tôi tiếp tục giữ nguyên tôn chỉ “Vì nhân dân phục vụ”, thực hành theo lý luận “Lấy dân làm gốc, chấp chính vì dân”. Trong nước, không ngừng thúc đẩy sự nghiệp cải cách mở cửa, xây dựng xã hội hài hòa. Ngoài nước, kiên trì đi theo đường lối phát triển hòa bình, theo đuổi chiến lược hợp tác cùng có lợi, thúc đẩy xây dựng nền hòa bình lâu dài, xây dựng thế giới hài hòa cùng nhau phồn vinh.
Quy hoạch phát triển 5 năm lần thứ 12 của Trung Quốc khẳng định, cải thiện dân sinh đang trở thành nhiệm vụ nổi bật. Trung Quốc cũng đưa ra các biện pháp thực thi cụ thể, nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ quan trọng với nhân dân: “Muốn học có chỗ học, muốn làm có chỗ làm, chữa bệnh có chỗ chữa, muốn ở có nhà ở”.
PV: Tình hình thế giới ngày càng phức tạp, trong nước cũng nảy sinh nhiều vấn đề, vậy công tác lý luận của ĐCS Trung Quốc đã được đổi mới như thế nào để có thể theo kịp với tình hình thực tiễn?
Đại sứ Tôn Quốc Tường: ĐCS Trung Quốc trong quá trình phát triển luôn kiên trì lấy nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác kết hợp chặt chẽ tình hình thực tế của Trung Quốc. Kiên trì dùng khoa học lý luận chỉ đạo thực tiễn, đã trải qua mấy lần nhảy vọt về lý luận cơ bản và tư tưởng chỉ đạo.
Thời kỳ đầu xây dựng đảng, Chủ tịch Mao Trạch Đông là người sáng lập ra tư tưởng Mao Trạch Đông, đấu tranh giành chính quyền, làm nên thắng lợi lịch sử của chế độ XHCN. Sau Đại hội 12 của đảng, Đặng Tiểu Bình sáng tạo ra lý luận Đặng Tiểu Bình, trả lời cho câu hỏi cái gì là chủ nghĩa xã hội, bài học lịch sử nào trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đến Hội nghị trung ương 4, khóa XIII, Giang Trạch Dân đưa ra sáng kiến về tư tưởng “3 đại diện”, trả lời cho câu hỏi xây dựng đảng như thế nào, làm thế nào để giữ được tính tiên tiến và đề cao bài học lịch sử trong khả năng lãnh đạo của đảng. Những lần nhảy vọt về lý luận cơ bản và tư tưởng chỉ đạo đều là sản phẩm của sự kết hợp thành công giữa chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác với thực tế Trung Quốc, chỉ đạo cách mạng và sự nghiệp kiến thiết ở Trung Quốc để không ngừng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Thành phố Thiên Tân, một trong những niềm tự hào của Trung Quốc trong thời kỳ cải cách mở cửa. Ảnh: trialx.com
PV: Để chuẩn bị tốt nhất cho thành công của Đại hội XVIII trong năm tới, những vấn đề gì đang được ĐCS Trung Quốc chú trọng?
Đại sứ Tôn Quốc Tường: Đảng Cộng sản Trung Quốc nhấn mạnh, phải giữ đầu óc tỉnh táo, tăng cường nhận thức về thách thức và cơ hội, nắm chắc một cách khoa học quy luật phát triển, chủ động thích ứng với sự thay đổi của môi trường, hóa giải hữu hiệu các dạng mâu thuẫn, lấy phát triển khoa học làm chủ đề, lấy việc đẩy nhanh chuyển biến phương thức phát triển kinh tế làm con đường chính, cải cách mở cửa sâu sắc, bảo đảm và cải thiện dân sinh, củng cố và mở rộng những thành quả đã đạt được sau khi vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững và xây dựng xã hội ổn định hài hòa, đặt nền tảng cơ sở vững chắc có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng toàn diện xã hội khá giả.
Trong năm tới (2012), Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVIII sẽ khai mạc. Năm nay công tác chuẩn bị đang được gấp rút tiến hành, chúng tôi đang tập trung làm tốt một số công việc sau: Thứ nhất, bảo đảm bình ổn giá cả ở mức cơ bản. Đây là nhiệm vụ hàng đầu trong điều tiết vĩ mô của năm nay. Thứ hai, mở rộng hơn nữa nhu cầu trong nước, đặc biệt là nhu cầu tiêu dùng của cư dân. Thứ ba, củng cố và tăng cường vị trí cơ bản của nông nghiệp. Thứ tư, nhanh chóng thúc đẩy việc điều chỉnh mang tính chiến lược đối với cơ cấu kinh tế. Thứ năm, ra sức thực hiện chiến lược hưng quốc về khoa học giáo dục và cường quốc nhân tài. Thứ sáu, tăng cường kiến thiết xã hội và bảo đảm cải thiện dân sinh. Thứ bảy, tăng cường mạnh mẽ xây dựng văn hóa. Thứ tám, đi sâu thúc đẩy cải cách các lĩnh vực trọng điểm. Thứ chín, nâng cao hơn nữa mức độ mở cửa với bên ngoài. Thứ mười, tăng cường công tác xây dựng liêm chính và chống tham nhũng.
PV: Theo Đại sứ, để tiếp tục giữ vững quan hệ truyền thống tốt đẹp đã được các bậc tiền bối và các thế hệ kế tiếp của hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam – Trung Quốc cùng nhau xây dựng, vun đắp, cần chú trọng tới nhân tố nào?
Đại sứ Tôn Quốc Tường: Trên thế giới hiện nay, Trung Quốc và Việt Nam là hai trong số không nhiều nước XHCN có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nhiệm vụ chính của cả hai nước đều là tập trung cho việc phát triển kinh tế, cải thiện dân sinh. Hai quốc gia có một số điểm giống nhau như lý tưởng giống nhau, sự nghiệp giống nhau, vận mệnh giống nhau, thách thức giống nhau, vì vậy yêu cầu hai Đảng, hai nước Trung - Việt cần từ tầm cao chiến lược và góc độ lâu dài để xem xét và hiểu quan hệ hai nước, cần làm cho quan hệ hữu nghị Trung - Việt đã được lãnh đạo tiền bối của hai Đảng, hai Nhà nước đặt nền móng và vun đắp ngày càng phát triển rực rỡ hơn. Điều này phù hợp với lợi ích căn bản và nguyện vọng chung của hai nước.
Cũng giống như bất kỳ mối quan hệ song phương nào, quan hệ Trung - Việt cũng tồn tại một số vấn đề và khác biệt. Làm thế nào để giải quyết thỏa đáng sự khác biệt này, làm thế nào để các vấn đề này nhận được sự quan tâm xứng đáng trong quan hệ giữa hai nước, đòi hỏi trí tuệ và năng lực giải quyết từ cả hai phía. Lãnh đạo hai nước cần đạt được nhận thức chung về các vấn đề quan trọng, nhìn xa trông rộng để có thể xử lý tốt vấn đề này, chúng tôi (Trung Quốc) toàn tâm toàn ý quán triệt thực hiện điều này.
Đảng, Chính phủ Trung Quốc coi trọng cao độ phát triển hợp tác toàn diện và láng giềng hữu hảo với Đảng, Chính phủ Việt Nam. Chúng tôi nguyện cùng Việt Nam thực hiện điều này, tăng cường các chuyến thăm cấp cao, không ngừng nâng cao tin tưởng chính trị, mở rộng hợp tác kinh tế thương mại, mưu cầu cùng phát triển phồn vinh; đi sâu giao lưu nhân văn xã hội, làm phong phú nội hàm quan hệ hai nước, tiếp tục viết lên một chương mới huy hoàng hơn trong quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung - Việt, mang lại nhiều lợi ích thiết thực nhất cho nhân dân hai nước. Tôi cho rằng, cùng với sự phát triển quan hệ hai nước, hai bên không ngừng tăng cường lòng tin, những vấn đề còn tồn tại trong lịch sử giữa hai nước sẽ được giải quyết một cách ổn thỏa.
NGUYỄN HÒA (thực hiện)
-------------------------------------------------
Xem thêm:
Đại nhảy vọt
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đại nhảy vọt (Giản thể:大跃进, Phồn thể:大躍進, bính âm:Dàyuèjìn; âm Hán Việt: đại dược tiến) là tên thường gọi trong sách báo tiếng Việt cho kế hoạch xã hộikinh tế của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa) được thực hiện từ 1958 đến 1960 nhằm mục tiêu sử dụng dân số khổng lồ của Trung Quốc để chuyển tiếp nhanh chóng Trung Quốc đại lục từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp dựa vào nông dân là chính sang một xã hội công nghiệp cộng sản hiện đại. Mao Trạch Đông đặt điểm tựa của chương trình vào Lý luận sức sản xuất. Đại nhảy vọt ngày nay được đa số mọi người, cả trong và ngoài Trung Quốc, xem như là một đại thảm họa kinh tế. Một con số ước lượng có đến 20 triệu (có thể lên đến 40 triệu) người chết, chính là kết quả những nỗ lực của Mao. Sách báo tiếng Việt còn có một số sách gọi khác như Bước nhảy lớn, Bước nhảy vọt.
------------------
*****


»» xem thêm

Thùy Linh: Tôi “sợ” Trung quốc

Đoản khúc của những cảm xúc


Tôi “sợ” Trung quốc

Bản đổ Trung Quốc qua các thời kỳ

Không phủ nhận nền văn minh Trung hoa cũng là một trong ba nền văn minh sớm nhất của nhân loại, xuất hiện cách đây chừng 3000 năm. Người Trung hoa đã sáng chế ra nhiều những phát minh cống hiến cho con người: họ biết đến hệ số thập phân; phân số, quan hệ của 3 cạnh trong một tam giác vuông…Họ vẽ được bản đồ của 800 vì sao; làm ra lịch can-chi; sáng tạo ra súng, la bàn, nghề in…Và tuyệt vời là châm cứu và đông y mà ngày nay người Việt vẫn rất ưa thích dùng chữa bệnh…Nhân loại chưa bao giờ quên điều đó.

Nhưng chưa bao giờ đất nước này tạo cho tôi một cảm hứng, xúc động hay gì gì đó lay động tâm hồn, tình cảm của tôi? Không phải đến lúc này khi họ giở trò tiểu nhân trên biển Đông. Tôi cũng đã đến Trung quốc 3 lần trước đây, nhưng chả lần nào đi về mà thấy lưu luyến, kể cả chuyến hành hương viếng thăm mấy ngôi chùa cổ? Sao vậy nhỉ? Tất cả những gì tôi sắp liệt kê dưới đây hoàn toàn cá nhân nên đừng ai cố thuyết phục tôi là đúng hay sai. Tình cảm, suy nghĩ tự nhiên, không vụ lợi, vậy thôi.

Tôi không thích và rất ít xem phim lịch sử Trung quốc. Tôi không học lịch sử bằng cách đó. Vì sao? Cứ xem thì thấy đất nước được TQ được mở rộng và viết nên trang sử của dân tộc mình từ những cuộc nội chiến tương tàn, xâm chiếm, tự mãn, tàn ác với kẻ yếu, hèn nhát với kẻ mạnh. Tôi không muốn chứng kiến cái vẻ tự mãn của các nhân vật lịch sử luôn coi mình là trung tâm của vũ trụ và được phép tàn sát các dân tộc khác tràn ngập trên màn ảnh. Người Trung Quốc cổ đại gọi các tộc lạc hậu ở phía nam là Man, ở phía đông là Di, ở phía tây là Nhung và ở phía bắc là Địch. Còn họ là quốc gia văn minh ở giữa nên được gọi là Trung Hoa hay Trung Quốc. Họ tát bôm bốp vào mặt mình để chứng tỏ sự trung thành, nhưng sẵn sàng trở mặt khi người ta vừa quay lưng. Cái đó đầy trên phim ảnh, tôi chả nói điêu. Còn nữa, trên phim đầy rẫy những thủ đoạn tàn độc nơi triều chính, cách con người trả thù nhau mà nhiều người ngộ nhận là những bài học về cách đối nhân xử thế nơi chính trường hay trong cuộc sống. Những loại phim đó không bao giờ mang lại mĩ cảm cho khán giả mà chỉ giúp họ thêm lọc lõi, thủ đoạn đối phó ở ngoài đời. 

Những cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng của TQ thời cổ đại như Tam quốc chí, Thủy hử đều viết về các cuộc chiến tranh giành quyền lực với vô vàn thủ đoạn và dậy con người nuôi chí báo thù theo kiểu “oán phải trả” và “quân tử trả thù mười năm chưa muộn”…Tiếc là lại làm say mê bao người đọc ở Việt nam. Tính gây hấn và mưu mô nhiều không sao kể xiết ngấm vào tâm hồn người đọc lúc nào không hay. Tôi không khuyến khích các cháu tôi đọc những thứ này khi còn bé.

Vào năm 211 TCN được coi là mốc TQ bắt đầu thống nhất, trở thành một đế chế rộng lớn do công của Tần Thủy Hoàng. Bắt đầu thời điểm này nền văn minh TQ được xác lập với ý thức hệ tư tưởng dựa trên Khổng giáo. Nhà Tần tận dụng học thuyết của Pháp gia (là một nhánh của Nho gia) để đặt trọng tâm vào sự tôn trọng tuyệt đối hệ thống pháp luật và quyền lực tuyệt đối của hoàng đế. Nhà Tần dùng những biện pháp tàn bạo để dẹp yên chống đối, thậm chí gồm cả việc đốt sách, chôn nho. Kết quả thật bạo tàn, nhưng những sáng tạo của phái Pháp gia nhà Tần đã được các triều đình Trung Hoa sau đó áp dụng. Cùng thời điểm này ở Ấn độ có vua Ashoka. Sau thời gian chinh chiến 9 năm, đã nhận ra sự vô nghĩa, tàn ác làm máu đổ quá nhiều nên quay đầu sám hối, lãnh đạo nước Ma kiệt đà bằng giáo lí từ bi của Đức Phật. Ông đã làm rạng danh trang sử cổ đại của Ấn độ. Dân chủ không bao giờ là vấn đề đối với người Trung Quốc như nó đã từng có ở các nền văn minh khác vào khoảng năm 200 TCN, đến giờ càng không…Đối với Hán Cao Tổ (Lưu Bang), triều đình tốt là triều đình có thể duy trì sự phục tùng đầy đủ của quan lại và dân chúng. “Cậy” có nguồn gốc nông dân, Lưu Bang tỏ thái độ khinh thị trí thức bằng cách đái vào trong mũ của một trí thức trong triều. Kinh chưa? 

Năm 108 TCN vì muốn kiểm soát vùng đông bắc, Hán Vũ Đế chinh phục cả phía bắc lẫn phía nam. Về phía nam, theo quân đội là những người di cư Trung Quốc. Sau những trận chiến lớn, đội quân của Vũ Đế chinh phục phía bắc Việt nam, một vùng mà người Trung Quốc gọi là Annam hay “miền nam yên ổn”. Dân Trung Quốc kéo đến đây, một số đóng đô ở gần vùng núi miền trung Việt Nam. Chính người Việt Nam dạy người Trung Quốc dùng trâu, dùng cày kim loại và các công cụ khác(*), cách trồng lúa nước. Trung Quốc đã xoá bỏ chữ viết người Việt, mang đến chữ viết của mình(*). Tuy nhiên về tiếng nói, người Trung Quốc không thể đồng hóa được người Việt Nam. Và cứ thế rất nhiều thế kỉ sau, giữa VN và TQ đã xảy ra những cuộc thư hùng và lần nào VN cũng chiến thắng. Nhiều lắm, chả kể hết được đâu…Đến giờ vẫn chưa thôi tham vọng đó.

Tôi vẫn không thuyết phục mình được rằng TQ có các nhà triết học và nền triết học, kể cả Khổng Tử lừng danh mà TQ tự hào. Họ chỉ có các nhà tư tưởng chính trị, đạo đức. Khó có thể coi thuyết Âm-dương, Ngũ hành, Bát quái lại là triết học. Chỉ để bói toán là hợp nhất. Còn lấy đó để giải thích sự biến động của xã hội, lịch sử thì thấy mịt mờ tăng tít, dễ đưa vào mê trận chẳng biết lối ra, dễ tẩu hỏa, tư biện, giảo ngôn…Vậy mà trước đó, xa hơn cả nền văn minh Hoàng hà, trước cả thời Đức Phật đến hàng ngàn năm thì Ấn độ đã có Mamabharata và Ramayana, sau đó là Áo nghĩa thư, những tác phẩm tuyệt vời không chỉ dành cho người Ấn giáo mà còn chứa đựng những tư tưởng triết học sâu sa. Tiếp sau đó, những chân lí Giác ngộ của Đức Phật làm phong phú thêm kho tàng minh triết của đất nước hiền hòa này…

Một thứ người TQ cất công xây dựng thành một thành tố của văn hóa mà người tây chả mấy quan trọng là ẩm thực, để lấy đó làm tự hào. Vua chúa thời xưa bao giờ cũng có trên bàn ăn mấy chục đến hàng trăm món ăn sơn hào hải vị. Tôi có xem phim về cuộc chiến tranh nha phiến thì phải…Việc nhà Thanh đầu hàng năm 1842 đánh dấu một tai họa mang tính quyết định và nhục nhã của Trung Quốc khi buộc phải chấp nhận thua trận và thừa nhận các yêu cầu của Anh, chấp nhận buôn bán với họ, đồng ý mức thuế quan “đúng mức và ổn định”, mở cửa các cảng ở Quảng châu, Hạ môn, Phúc châu, Ninh ba và Thượng hải cho các thương nhân nước ngoài. Họ trao cho người Anh bất kỳ sự nhượng bộ nào mà Trung Quốc đã từng trao cho các cường quốc khác. Trung Quốc chấp nhận trả cho Anh Quốc một khoản bồi thường 20.000.000 đô la bạc và nhượng đảo Hồng Kông cho Anh. Cuộc chiến tranh nha phiến lần 2 lại là một thất bại nặng nề khác của Trung Quốc. Người Anh ngỗ ngược yêu cầu tất cả các tài liệu chính thức của Trung Quốc phải viết bằng tiếng Anh và cho phép các tàu chiến Anh được đi lại không hạn chế trên các sông ngòi Trung Quốc. Nhưng tôi nhớ nhất một chi tiết trong phim mà quên tiệt cả phim. Số là trong một bữa tiệc chiêu đãi sứ giả Anh, nhà vua TQ chê bai miếng bít tết của người Anh sống sít như của kẻ man di. Hãy nhìn mâm cao cỗ đầy của họ để chớ mà coi thường. Sứ giả Anh cả cười mà rằng, trong lúc cả TQ tập trung trí tuệ để làm ra các món ăn thì họ dùng thời gian và trí thông minh chế tạo tàu chiến, súng ống, những thứ đã giúp người Anh chiến thắng TQ…Nẫu chưa? Còn người Ấn độ thì chưa bao giờ nặng nhẹ miếng ăn. Ăn chay với những món đơn giản, sống khổ hạnh, khiêm cung, không chìm đắm trong lạc dục vật chất là lẽ sống của họ.

Tôi chưa bao giờ “yêu” và đánh giá cao Khổng Tử cùng thuyết Nho gia do cụ sáng lập. Dù cụ có sống lại tôi vẫn nói như vậy mà không mong cụ tha thứ. Nho học chưa bao giờ là tôn giáo, càng chưa bao giờ là triết học. Đó chỉ là những tư tưởng, học thuyết về đạo đức, chính trị. Ông sinh ra muộn hơn Đức Phật ít năm, coi như hai người là cùng thời đại. Nhưng Đức Phật đã chứng ngộ Chân lý mà đến giờ vẫn thích hợp với thời hiện đại, không cần thay đổi, chỉnh sửa lại. Nho giáo không thể có vị trí đó. 

Tôi không thích Nho giáo vì lẽ:

-Khổng Tử chủ trương cai trị quốc gia bằng Đức trị. Lí lụân về đức của ông nghe rất hay nhưng chả biết là làm cách nào để con người có đức? Chỉ nói là phải có nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Rồi mỗi thứ trong “Ngũ thường” đó lại là những luận lí hình thức, sáo rỗng. Ông kêu gọi làm người phải có đức mà nhân là gốc. Người cầm quyền phải lấy đức mà trị dân…Nói thế ai cũng nói được. Nhưng nâng lên thành “i-dờ-mờ” (ism) thì chỉ có Khổng Tử. Không thuyết phục. Còn Đức Phật nói về việc này giản dị mà nhiều kiếp chắc chưa tu nổi: con người nên dẹp bỏ tham-sân-si để trước hết sống được an lạc. Muốn dẹp bỏ thì hãy để tâm lắng xuống. Muốn tâm lắng xuống thì nên thiền định. Thiền định của Đức Phật là 16 hơi thở. Có cả đích đến lẫn con đường để bạn tự đi…Tâm bình thì thế giới bình. Giản dị như hơi thở.

-Nho giáo chấp nhận ý tưởng về số phận, hoặc “mệnh”, gọi là Thiên mệnh. Nhà vua là Thiên tử. Vua nhà Chu là Vũ Vương đã viện dẫn khái niệm Thiên mệnh để hợp pháp hóa vai trò cai trị của mình, một khái niệm đã ảnh hưởng đến mọi triều đại kế tiếp. Thảo nào dân đen cứ bị đè đầu cưỡi cổ cho đến lúc này mà cấm được phản đối? Có ai đi cãi với ông trời bao giờ…Còn Đức Phật bác bỏ thần thánh, thượng đế, bác bỏ người này cao hơn người kia. Bác bỏ có một thượng đế nào đó sinh ra và chi phối vạn vật, nhất là con người. Ngài đặt con người vào trung tâm của mối quan tâm.

-Còn con người nên chấp nhận Định mệnh. Với Nho giáo, định mệnh đóng vai trò rất quan trọng. Trong khi Phật giáo xem các biến cố xảy ra trong kiếp người là tạo tác của nghiệp cá nhân hay cộng nghiệp của tập thể, thì Nho giáo xem các biến cố ấy được quyết định bởi định mệnh, chứ không là kết quả của tình trạng có hay không có đạo đức. Đức Phật đề cao sự tự chủ cuộc sống của con người. Hai chủ thuyết như đêm và ngày, quá dễ thấy cái nào dở, cái nào hay…

-Nhà Nho thì nhất định phải lập danh – Chính danh. Khổng nói: “khi người quân tử xưng danh, danh ấy phải xứng đáng với phận của mình; người quân tử rất dè dặt trong lời nói, không tùy tiện nói theo ý thích của mình”. Có khác gì khuyên chớ nên nói thật? Lại nữa: “Người quân tử sợ ba điều: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời nói của thánh nhân”. Thế thì với người bình thường, quân tử có thể cư xử sao cũng được ư? Dường như các chuẩn mực dùng để thẩm định hành động của cá nhân không dựa vào việc tạo hay không tạo phúc lợi xã hội…Càng tự tôn chính danh, con người càng chìm sâu vào bản ngã, không bao giờ hồn nhiên, tự tại, chân thật như khi thực tập Vô ngã mà Đức Phật đã chỉ ra. Theo Khổng Tử, quân tử “chẳng lo không có địa vị, chỉ lo sao không đủ tài đức để được địa vị đó. Chẳng lo không ai biết tới, chỉ mong làm thế nào đáng cho người đời biết tới”. Đến đây thì chán không muốn hầu chuyện cụ nữa…

-Xem cái Lễ (bao gồm quyền hành của người trị nước và cách tiết chế hành vi của người dân) của Khổng Tử nhé…Lễ được diễn tả trong năm vòng quan hệ của người đời, được tượng hình bằng năm vòng tròn vây bọc: quân thần (vua tôi); phụ tử (cha con); phu phụ (vợ chồng); huynh đệ (anh em); bằng hữu (bầu bạn). Ngoài Ngũ luân, Khổng Tử còn phân biệt dân chúng bậc trung thành hai hạng khác nhau: người quân tử và kẻ tiểu nhân. Ðó là sự phân biệt không chỉ liên quan tới địa vị xã hội mà còn bởi ý tưởng cho rằng có những người này phải sống theo các định chuẩn đạo đức cao hơn những kẻ kia. Còn Đức Phật xóa bỏ mọi định kiến giai cấp, coi con người đều bình đẳng. Ai cũng có Phật tính. Đức Phật là Phật đã thành, còn chúng sinh là Phật sẽ thành…Khổng nói miên man về Lễ, Phật giáo chỉ đúc kết Từ - Bi – Hỉ - Xả và lấy đó mà cư xử, đối đãi với bất cứ ai, khỏi cần phân biệt cao thấp, địa vị. 

-Nho giáo hạ thấp vai trò của đàn bà và coi thường tính dục (ở bề mặt). Với Nho giáo, tình dục có giá trị ứng dụng duy nhất là sinh con đẻ cái, đặc biệt con trai để nối dõi tông đường, làm vẻ vang dòng họ và cúng giỗ ông bà tổ tiên cha mẹ mà Nho giáo đặc biệt đề cao. Đủ thứ qui định cho nam nữ để tránh “thụ thụ bất thân” với việc hạ thấp người đàn bà. Nhưng ai cũng biết, vua chúa TQ thì ăn chơi tàn bạo thế nào biết rồi. Đám hoàng hậu, mỹ nữ, cung phi loạn luân ra sao cũng kể nhiều ở các phim lịch sử rồi…Có lẽ hiếm có đất nước nào lại nhiều mỹ nữ “quái chiêu” nổi tiếng trong lịch sử như ở TQ: mối tình hoang dâm giữa Triệu Cơ và Lao Ái. Đát Kỷ bất hòa với thân thuộc của vua là Tỷ Can, bắt ông này phải moi tim ra cho bà xem. Bà này bị coi là yêu cơ. Hạ Cơ thì sử sách thuật lại là có thuật “hoàn tân” sau khi ăn nằm với ai và còn có cả bí quyết “hấp tinh đại pháp”. Võ Tắc Thiên là hoàng hậu duy nhất của lịch sử TQ thì tàn ác thôi rồi. Vì ác nên dù Khổng giáo cấm đàn bà làm việc bên ngoài mà bà ta vẫn thu quyền bính về tay mình. Bao Tự thì chỉ thích nghe xé lụa và đốt lửa để mua vui khiến tan nhà nát cửa…Sau này thì có Từ Hy Thái Hậu và thời hiện đại thì có Giang Thanh. Đều kinh khiếp hãi cả. Vậy thì những qui định Nho giáo kia thực chất là vô giá trị, nó chỉ áp dụng khi người ta cần, nhất là giới cai trị. Còn thì người ta giả dối và tìm cách che dấu…Thế mà thời Đức Phật còn tại thế, Ấn độ đã có hàng ngàn nữ tu xuất gia theo Ngài sống đời phạm hạnh. Bên tăng có 10 vị đại đệ tử của Đức Phật thì bên ni cũng có như vậy. Có tác phẩm “Trưởng lão tăng kệ” thì bên ni cũng có “Trưởng lão ni kệ” còn đến ngày nay. 

-Ai cần Nho giáo? Nho giáo trọng lễ giáo, đề xướng “quân quân thần thần”, tức ai nấy nên tôn ti trật tự, chớ “vượt rào”, nên giới cai trị thích và cần Nho giáo nhất. Khổng Tử nói rằng: “Vua lấy lễ sai khiến bề tôi, bề tôi lấy lòng trung để thờ vua”. Thế thì ông quan cai trị nào mà chẳng thích? Còn lấy lễ để sai khiến như thế nào thì chịu?…Có sao cứ đổ là Thiên tử nên phải tuân theo Thiên mệnh là xong…
ect (nhiều quá không thể kể hết) 

Văn minh Trung hoa như đứa trẻ vừa mở mắt chào đời thì đã được nuôi nấng bằng dòng sữa của Nho học nên mọi tính nết sai trái như giả dối, ích kỉ, độc ác, chuyên quyền, mù quáng, tự phụ, ngụy biện, gây hấn, tranh đua…từ đó lộ diện và phát triển. Tiếc cho tư tưởng của Mặc Tử (coi như cùng thời với Khổng Tử) đã không chen chân vào được xã hội này. Biết đâu nhờ thế TQ phát triển sẽ theo một hướng khác tốt hơn? Vì Mặc Tử tiệm cận gần hơn với quan điểm Phật giáo hiền hòa. Ðối với người theo Mặc gia, cái thiện cao nhất là hiến thân cho mọi người. Họ biện hộ lối sống kham khổ và hoàn toàn chống đối chiến tranh cùng mọi hình thức gây hấn. Tuy sẵn sàng liều chết bảo vệ thành trì, chống lại kẻ xâm lăng, nhưng họ kiên quyết không chấp nhận bất cứ hành động xâm lấn nào. May mà Phật giáo đã du nhập vào TQ (tuy muộn hơn VN) nhưng đã góp phần làm tan loãng chút ít “dòng sữa” đặc quánh Khổng giáo đã kết thành cặn, bám chắc trong suy nghĩ và hành xử của người TQ từ bao đời. 

Cuối cùng tôi thử điểm lại một số hành động vô cùng “quái dị” và “độc chiêu” của người TQ từ cổ chí kim xem sao:
-Đốt sách, chôn nho của Tần Thủy Hoàng…
-Đái vào mũ của người trí thức trong triều của Lưu Bang…
-Đàn bà có tục bó chân để gợi tình đời Tống…Bàn chân bé đến quái dị.
-Để “show hàng” với Trịêu Cơ, Lã Bất Vi sai Lao Ái sỏ dương vật của lỗ bánh xe để chạy…
ect…(dài rồi không kể nữa) 

-Sau này có cải cách ruộng đất, giết rất nhiều những nông dân làm ăn giỏi mà họ gọi là địa chủ.
-Đại cách mạng văn hóa: tiêu diệt trí thức ; xóa bỏ truyền thống…
-Bắt và dịêt chim sẻ…
-Cả nước làm gang thép…
-Xui Khơ me đỏ diệt chủng trên quê hương họ. Mới đây đám này bị đưa ra xét xử. Chả thấy người khởi xướng là TQ nói gì nhỉ?
-Thích cao giọng dạy người yếu thế hơn mình “một bài học” khi họ còn chưa thoát khỏi vô minh và nhiều sự lầm lẫn do ảnh hưởng quá lâu của Nho giáo.
-Sang VN làm ăn nhưng lại cư xử như đang ở cánh đồng riêng của mình…Nhậu nhẹt say sưa rồi đứng trước cửa nhà người ta đái bậy, hò hét chả coi ai ra gì, dân nói lại thì chửi (ở Ninh Bình vừa qua); đánh nhau với ở dân bản địa (Thanh hóa); thuê công nhân VN nhưng thích là nện...

-Ý quên...Dùng cả đội có quân trang bị súng và xe tăng bắn vào đoàn biểu tình ôn hòa của sinh viên trên quảng trường Thiên An Môn năm 1989 khiến nhiều người thiệt mạng. Không biết những oan hồn ngày ấy nay đã siêu thoát chưa?

...ect...Còn nhiều lắm, viết mỏi tay cũng chưa hết...Chán rùi... 
 
Haizzz...Thế là thế nào? Tôi không hiểu? Ai hiểu nói giùm…


Kỳ tới: Tôi thương Việt nam

(*) Tài lịêu trong wikipedia

------------------
*****


»» xem thêm

Tìm kiếm Blog này